Lêi nãi ®ÇuN
gày nay,trong công cuộc đổi mới của đất nước,chất lượng đang được
coi là mục tiêu có ý nghĩa chiến lược ,đồng thời là phương tiện cơ bản để
đảm bảo cho sự phát triển xã hội được đúng hướng,vững chắc và đạt hiệu
quả cao,đảm bảo thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng
như thị trường xuất khẩu .Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cùng
với quá trình mở cửa, sự cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng gay gắt,
quyết liệt. Sức ép của hàng ngoại nhập,của người tiêu dùng trong và ngoài
nước buộc các nhà kinh doanh cũng như các nhà quản lý phải hết sức coi
trọng vấn đề đảm bảo và nâng cao chất lượng
Chất lượng sản phẩm ngày nay đang trở thành một nhân tố cơ bản
quyết định sự thắng bại trong sự cạnh tranh,quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của từng doanh nghiệp nói riêng cũng như sự thành công hay tụt hậu
của nền kinh tế đất nước nói chung.Đảm bảo không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm đối với các doanh nghiệp là một yêu cầu khách quan góp
phần thúc đẩy sản xuất phát triển,đóng góp vào việc nâng cao đời sống của
người lao động trong mỗi doanh nghiệp .
Như vậy,vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm đang trở thành vấn đề
sống còn của mỗi quốc gia và mối doanh nghiệp.Chỉ có nâng cao chất lượng
sản phẩm,mới là biện pháp cứu cánh cho các doanh nghiệp cũng như giúp
doanh nghiệp đứng vững tồn tại và phát triển trong thị trường cạnh tranh gay
gắt hiện nay .
Nhà máy Chế tạo biến thế cũng như các Công ty Nhà nước khác khi
chuyển sang cơ chế thị trường gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh.Ngày
nay với cơ chế mới,để tồn tại và phát triển thì buộc Công ty phải đặt chất
lượng sản phẩm lên trên hết.Vì những lý do trên,trong quá trình thực tập tại
Nhà máy Chế tạo biến thế ,em đã chọn đề tài “Quản lý chất lượng sản
thiết kế,công nghệ,người tiên dùng ... Hơn nữa do chu kì sống của sản phẩm
trải qua nhiều giai đoạn khác nhau mà mỗi giai đoạn lại có những yêu cầu về
chất lượng khác nhau. Cho nên cách nhìn nhận của nhà sản xuất lại cho
rằng: Chất lượng sản phẩm có nghĩa là phải đáp ứng được những chỉ tiêu kỹ
thuật đề ra cho sản phẩm.Còn các nhà bán lẻ lại quan niệm rằng chất lượng
sản phẩm nằm trong con mắt và túi tiền người mua,như vậy sản phẩm nào
bán được nhiều thì sản phẩm đó có chất lượng .
ỞViệt Nam theo tiêu chuẩn TCVN 5814-1994,tiêu chuẩn mới nhất
quy định các thuật ngữ trong quản trị chất lượng cho rằng : Chất lượng là
tập hợp các đặc tính của một thực thể ,tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa
mãn các yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn .
PhÇn I
2
b.Quan niệm về quản lý chất lượng :
Những năm đầu thế kỷ 20 chưa có khái niệm quản lý chất lượng mà
chỉ có khái niệm kiểm tra chất lượng.Toàn bộ hoạt động quản lý chất lượng
được bó hẹp trong lĩnh vực kiểm tra,kiểm soát sản phẩm trong quá trình sản
xuất của các phân xưởng.Sự phát triển của thị trường cùng với sự sản xuất
ngày càng nhiều hàng hoá thì tính chất cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng
lên rất nhanh.Các doanh nghiệp phải quan tâm tới chất lượng nhiều hơn và
bắt đầu xuất hiện khái niệm quản lý chất lượng.Phạm vi,nội dung và chức
năngquản lý chất lượng có được mở rộng hơn nhưng vẫn tập trung chủ yếu
vào giai đoạn sản xuất sản phẩm.Vào thập kỷ 70,sự cạnh tranh tăng lên đột
ngột đã buộc các doanh nghiệp phải nhận thức lại và thay đổi quan niệm
quản lý chất lượng.Để thoả mãn khách hàng các doanh nghiệp không chỉ
dừng lại khâu sản xuất mà phải quan tâm đến chất lượng ngay cả khi nghiên
cứu thiết kế sản phẩm cũng như sau khi sản phẩm đã bán ra ngoài thị trường.
Quản lý chất lượng đã mở rộng tới mọi lĩnh vực từ khâu thiết kế, sản xuất
đến khâu tiêu thụ. Ngày nay quan niệm về chất lượng quản lý đang được
- Chất lượng tối ưu :Biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu thị
trường trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất.
3.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
Chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm là đặc tính định lượng của tính chất
cấu thành nên chất lượng sản phẩm .Để đánh giá chất lượng sản phẩm người
ta dùng các chỉ tiêu sau :
- Chỉ tiêu nội dung: Đặc trưng cho tính chất xác định các chức
năng
chủ yếu của sản phẩm và quy định lĩnh vực sử dụng
- Chỉ tiêu độ tin cậy : Đặc trưng cho tính chất của sản phẩm liên
tụcgiữ được khả năng làm việc trong khoảng thời gian nhất định. -
- Chỉ tiêu thẩm mỹ : Đặc trưng cho sự truyền cảm, hấp dẫn của
hình thức ,sự hài hoà của kết cấu sản phẩm .
- Chỉ tiêu công nghệ : Đặc trưng cho quá trình chế tạo, đảm bảo tiết
kiệm lớn nhất các chi phí .
- Chỉ tiêu sinh thái : Đặc trưng cho độ độc hại của sản phẩm khi
tác động đến môi trường.
- Chỉ tiêu an toàn : Đặc trưng cho tính đảm bảo khi sản xuất và sử
dụng.
Chúng ta còn rất nhiều các chỉ tiêu khác để đánh giá chất lượng sản
phẩm tuỳ theo từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp nên tập trung vào giải
quyết các chỉ tiêu nào, nhưng nhìn chung một sản phẩm có chất lượng cao
khi nó đảm bảo thoả mãn một hệ thống các chỉ tiêu ràng buộc và các chỉ tiêu
nghiên cứu từ thị trường.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng không tồn tại độc lập tách rời mà nó
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vai trò ý nghĩa của từng loại chỉ tiêu rất
khác nhau đối với mỗi loại sản phẩm khác nhau. Mỗi loại sản phẩm sẽ có
những chỉ tiêu mang tính trội và quan trọng hơn các chỉ tiêu khác. Mỗi
doanh nghiệp lựa chọn và quyết định những chỉ tiêu quan trọng nhất làm cho
sản phẩm của mình mang sắc thái riêng phân biệt với những sản phẩm cùng
Các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn luôn có
mối quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị xã
hội và cơ chế chính sách quản lý kinh tế của mỗi nước. Khả năng cải tiến
nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào
cơ chế quản lý của mỗi nước. Cơ chế quản lý là môi trường vừa là điều kiện
cần thiết tác động đến phương hướng, tỗc độ cải tiến và nâng cao chấtlượng
sản phẩm của doanh nghiệp. Thông qua cơ chê và chính sách quản lý vĩ mô
của Nhà nước tạo điều kiện kích thích:
-Tính độc lập, tự chủ sáng tạo, xoá bỏ sức ỳ, tâm lý ỷ lại, không
ngừng phát huy ý kiến cải tiến hoàn thiện chất lượng của doanh nghiệp.
Hình thành môi trường thuận lợi cho huy động công nghệ mới, tiếp
thu ứng dụng các phương pháp quản lý chất lượng hiện đại.
Sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng bảovệ lợi ích của doanh
nghiệpvà lợi ích người tiêu dùng.
*Nhân tố kinh tế xã hội:
5
Các nhân tố kinh tế xã hội như sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số
kéo theo sự gia tăng về nhu cầu. Nhu cầu tăng cả về số lượng lẫn chất lượng.
Các yêu cầu ngày càng cao đối với sản phẩm. Khi mà các nhân tố kinh tế xã
hội biến động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, một sản
phẩm đạt chất lượng ở thời kỳ này nhưng nó không chắc có chất lượng trong
thời kỳ sau.
b. Nhóm nhân tố bên trong:
* Lực lượng lao động của doanh nghiệp:
Đây là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm. Dù
trình độ công nghệ có hiện đại đến đâu, nhân tố con người vẫn được coilà
căn bản nhất tác độngđến chấtlượng các hoạt động, chất lượng sản phẩm và
các hoạt động dịch vụ. Trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, tính kỷ
luật, tinh thần hiệp tác phối hợp, khả năng thích ứng với sự thay đổi, nắm bắt
thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp đều có tác động trựctiếp
nghệ trên thế giới . Muốn sản phẩm có chất lượng đủ khả năng cạnh tranh
trên thị trường, đặc biệt là trên thị trường thế giới, mỗi doanh nghiệp cần có
chính sách công nghệ phù hợp khai thác huy động tối đa nguốn công nghệ
nhằm tạo sản phẩm có chất lượng.
* Vật tư nguyên vật liệu:
Nguyên liệu là yếu tố tham gia trựctiếp cấu thành nên sản phẩm.
Những đặc tính của nguyên liệu được đưa vào sản phẩm, vì vậy chất lượng
nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
Không thể có sản phẩm chất lượng cao từ nguyên liệu tồi. Chủng loại, cơ
cấu, tính đồng bộ và chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng sản phẩm. Ngoài râ chất lượng hoạt động của doanh nghiệp còn phụ
thuộc rất lớn vào việc thiết lập mối quan hệ cung ứng thích hợp trên cơ sở
tạo dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tin tưởng nhau giữa người sản
xuất và người cung ứng, đảm bảo khả năng cung ứng đầy đủ, kịp thời, chính
xác, đúng nơi cần thiết.
II. CÔNG TÁC QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TRONG NHÀ
MÁY CHẾ TẠO BIẾN THẾ
Việc kiểm tra này được thực hiện theo quy trình sau:
*Trước sản xuất:
Kiểm tra thiết kế: Khi kỹ sư thiết kế xong thì người kiểm tra phải
kiểm tra các thông số kĩ thuật theo tiêu chuẩn IEC và TCVN như đã trình
bày ở phần trên ,sau đó mới tiến hành vẽ .Sau khi vẽ xong bản vẽ kỹ thuật
,kỹ sư thiết kế phải kiểm tra lại một lần nữa xem các thông số có đảm bảo
hay không thì mới đưa xuống sản xuất và đưa đến các cơ sở gia công nếu
không đạt thì phải làm lại .
*Trong sản xuất:
Khi bản vẽ được đưa xuống xưởng sản xuất ,vật tư cũng được xuất để
tiến hành sản xuất .Lúc này Nhà máy thực hiện chính sách 3 kiểm :
- Công nhân kiểm :Người công nhân trực tiếp chế tạo các chi tiết
phải kiểm tra vật tư trước khi đưa vào chế tạo và sau khi hoàn thành công
bộ các sản phẩm hoàn chỉnh của Nhà máy khi nhập kho và bán tới tay khách
hàng luôn đạt 100%chất lượng không có bất cứ một khiếu nại nào từ phía
khách hàng .8
Phần II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
CỦA NHÀ MÁY CHẾ TẠO BIẾN THẾ
I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ MÁY
CHẾTẠO BIẾN THẾ
Cùng với quá trình phát triển kinh tế hiện nay, ngành côngnghiệp
luôn là ngành quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.Trong ngành công nghiệp thì công nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng
lớn.Năm1997công nghiệp quốc doanh chiếm 48,28% bởi vậy nó có ảnh
hưởng lớn tới tốc độ tăng trưởng toàn ngành công nghiệp nói chung .Trong
khu vực công nghiệp quốc doanh có một doanh nghiệp làm ăn hiệu quả đã
được nhận Bằng khen ,Huân chương của Chính phủ ,đó là Nhà máy Chế tạo
biến thế - Hà Nội.
Nhà máy Chế tạo biến thế - Hà Nội -Tên giao dịch : HANOI
TRANSFORMERS MANUFACTURING FACTORY thuộc Tổng Công ty
Thiết bị kỹ thuật điện - Bộ Công Nghiệp.Được thành lập ngày
26/3/1963,tính đến nay Nhà máy đã có hơn 35 năm kinh nghiệm trong việc
sản xuất các loại máy biến áp điện lực và các sản phẩm điện khác mang
nhãn hiệu .T.B.Tcó chất lượng và tuổi thọ cao .
Trong thời kỳ bao cấp Nhà máy hoạt động với quy mô lớn ,số lượng
cán bộ công nhân viên lên đến 800 người vào năm 1982,tham gia lao động
trên 3 địa điểm :
9
với dòng điện 23.000A .Máy hàn điện xoay chiều 15KVA,máy
hàn điện xoay chiều 6,5KVA.
o Tủ bảng điện hạ thế 200Ađến 1000A.Cầu chì rơi
6KV,10KV,15KV,20KV,35KV.Máy biến dòng (Ti)các loại
50/5đến 600/5cấp chính xác 0,5.
Với kinh nghiệm lâu năm trong sản xuất kinh doanh kết hợp với
việc ứng dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ cùng với đội
ngũ cán bộ kỹ thuật và người lao động có trình độ tay nghề cao đã tạo cho
MBA và các sản phẩm điện khác mang nhãn hiệu CTBT có chất lượng và
tuổi thọ cao
10
Với những đóng góp to lớn đó ,nên Nhà máy CTBT đã được Nhà
nước tặng thưởng :
01 Huân chương độclập hạng 3.
01 Huân chương lao động hạng 1.
03 Huân chương lao động hạng2&3.
Và nhiều phần thưởng cao quý khác của bộ ,ngành và thành phố Hà
Nội
Trong các kì hội chợ Nhà máy đã có 16 Huy chương vàng cho
cácloại máy biến áp có chất lượng cao .
Với quan điểm sẵn sàng hợp tác với mọi thành phần kinh tế,Nhà máy
luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các đối tác khi giao dịch kinh
doanh với Nhà máy.Nhằm duy trì,phát huy những thành tựu và uy tín hiện
có,Nhà máy quyết định áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
ISO 9001:2000 để tiếp tục tự hoàn thiện mình,nâng cao chất lượng sản phẩm
nhằm thoả mãn ngày càng cao nhu cầu của khách hàng.
II.CÁC ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KĨ THUẬT CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CỦA NHÀ MÁY CHẾ TẠO BIẾN
THẾ
1.Đặc điểm về tổ chức sản xuất
lượng
Tổ
văn
phòng
quấn
dây
hàn
thân
hàn
cánh
sắt
kẹp
lắp
ráp
Tổ
hoàn
chỉnh
cắt
tôn
Trong đó bao gồm:
*Ban Giám đốc có hai người:
-Giám đốc chịu trách nhiệm chung về kĩ thuật, kinh doanh,tổ chứclao
động .
-01 Phó Giám đốc kĩ thuật có nhiệm vụ thiết kế kĩ thuật ,kiểm tra chất
lượng sản phẩm ,quản lý cung ứng vật t ,phụ trách hoạt động sản xuất.
*Phòng Tổ chức hành chính:
Có 6 người ,do đồng chí Giám đốc phụ trách trong đó có :
01 Trưởng phòng (cử nhân kinh tế)
01 Nhân viên văn thư có nhiệm vụ soạn thảo văn bản,trực tổng đài.
02 Lái xe
Có 9 người, trong đó:
01 Trưởng phòng do Phó Giám đốc đảm nhận phụ trách chung.
03 Kỹ sư điện thiết kế sản phẩm.
02 Kỹ sư cơ khí thiết kế cơ, đồ gá, khuôn mẫu và có nhiệm vụ nghiên
cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong và ngoài nước
vào việc sản xuất ra các mặt hàng có tính năng kỹ thuật, chất lượng ngày
càng tăng với chi phí giảm, mẫu mã ngày càng đẹp.
03 Kỹ sư điện kiểm tra chất lượng sản phẩm, thường xuyên tổ chức
kiểm tra, hướng dẫn các phân xưởng thực hiện đúng quy trình công nghệ
trong quá trình sản xuất và dịch vụ. Củng cố hoàn thiện hệ thống phân tích,
thí nghiệm, để kiểm tra chất lượng sản phẩm, kịp thời phát hiện những sai
sót trong quá trình sản xuất và dịch vụ của Nhà máy.
*Phòng sản xuất kinh doanh và vật tư:
Có 6 người do Giám đốc trực tiếp phụ trách, bao gồm:
01 Trưởng phòng.
01 Người làm nhiệm vụ lập kế hoạch vật tư cho sản xuất hàng quý,
hàng năm. Cung cấp vật tư kịp thời đảm bảo cho sản xuất tiến hành đúng kế
hoạch.
02 Cán bộ khai thác vật tư có nhiệm vụ khai thác những vật tư cần
thiết cho Nhà máy, quản lý, thống kê tình hình sử dụng và thanh quyết toán
vật tư.
02 Cán bộ bán hàng có nhiệm vụ thăm dò, nghiên cứu tiêu thụ sản
phẩm sản xuất ra; Thực hiện các hợp đồng với các cơ sở gia công đảm bảo
tiêu chuẩn kỹ thuật- chất lượng- giả cả hợp lý. Đây là phòng trung gian nối
liền khách hàng với Nhà máy, do vậy hoạt động kinh doanh có tác động
không nhỏ tới khả năng tiêu thụ hàng hoá của Nhà máy. Ngoài ra, phòng có
nhiệm vụ lập kế hoạch điều độ giữa các khâu sản xuất để tiến hành sản xuất
đồng bộ, nhịp nhàng, lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và kế hoạch bán
hàng,gíacả…
*Phân xưởng sản xuất :
, mối ghép chính xác, khe hở nhỏ mới cho tiếp tục sản xuất ở
các giai đoạn tiếp theo.
*01 cán bộ kiểm tra cơ khí: Là kỹ sư điện có trình độ đại học và đã
làm việc trên 10 năm.
Có nhiệm vụ kiểm tra toàn bộ các chi tiết về cơ khí như các chỉ tiêu
của bản thiết kế mỹ thuật, dung sai cho phép, kích cỡ các chi tiết về vỏ máy,
cách tản nhiệt….
*01 Cán bộ kiểm tra bối dây: Là kỹ sư điện có trình độ đại học và đã
làm việc trên 10 năm.
Có nhịêm vụ kiểm tra toàn bộ các chi tiết về bối dâynhư chất lượng
đồng cao -đồng hạ, kích thước dây theo tiêu chuẩn , dung sai và độ cách
điện của bối dây sau khi quấn . Sau khi cuốn cuộn cao thế thì kiểm tra điện
trở của 3 bối dây của 3 pha không được chênh lệch nhau quá 2%.
*02 Cán bộ kiểm tra lắp ráp : Là kỹ sư điện có trình độ đại học và đã
làm việc trên 10 năm.
Có nhiệm vụ kiểm tra toàn bộ các thông số kỹ thuật trrong bản thiết
kế và các thử nghiệm như thử điện trở cách điện , thử cao áp, thử vượt điện
áp …Tất cả các thông số thử nghiệm vào căn cứ vào TCVN 6306-1997 và
phải đảm bảo bằng hoặc tốt hơn TCVN.
14
BỘ MÁY KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
Ở NHÀ MÁY CHẾ TẠO BIẾN THẾ HÀ NỘI
Cuối cùng công tác quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm ở Nhà
máy do Phòng Kỹ thuật chất lượng đảm nhận. Nhà máy đánh giá chất lượng
sản phẩm thông qua cách thức kiểm tra kết quả từng nguyên công. Các cán
bộ Phòng kỹ thuật – Chất lượng ngoài việc kiểm tra theo dõi chất lượng sản
phẩm còn phải kiểm tra theo dõi chất lượng nguyên vật liệu đầu vào của quá
trình sản xuất. Phòng Kỹ thuật chất lượng chịu trách nhiệm quản lý chất
lượng sản phẩm và báo cáo kết quả với Phó giám đốc từ đó báo cáo lại với
lắp ráp
15
nó gắn liền với một chế độ trách nhiệm cao. Hiện nay Nhà máy mới thực
hiện một số biện pháp sau:
Đối với sản phẩm sai hỏng có thể sửa chữa thì yêu cầu người tạo ra
sản phẩm đó có trách nhiệm làm lại bằng cách tăng cường giờ làm công việc
và giờ công đó không được tính, tất nhiên vẫn phải đảm bảo chất lượng công
việc hiện tại.
Nếu sản hẩm sai hỏng thì phải đền tiền mua vật tư.
- Nếu Tổ trưởng kiểm tra sai sót thì trừ vào tiền trách nhiệm tổ
trưởng hoặc lương.
- Nếu cán bộ KCS kiểm tra không đúnghoặc để sai sót sản phẩm thì
trừ vào lương hàng tháng tuỳ theo mức độ sai phạm.
Tuy nhiên, do có được công tác kiểm tra chặt chẽ nên hiện tượng trên
rất ít khi sảy ra.
III.TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Ở NHÀ MÁY
CHẾ TẠO BIẾN THẾ
1.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm và việc thực hiện
chỉ tiêu này ở Nhà máy Chế tạo biến thế
a.Chỉ tiêu kĩ thuật :
* Qui định về chất lượng của máybiến áp điện lực 1 pha và 3 pha công suất
từ 30 KVA đến 10.000 KVA với các cấp điện áp 6 KV, 15 KV, 20 KV
30 KV.
Vật liệu bao gồm:
• Dây điện từ.
• Tôn silic cách điện.
• Sứ cách điện.
• Tôn 4mm làm vỏ.
Chất lượng bề mặt:
• Các chi tiết sơn phải đảm bảo phủ đều, bám chắc.