luận văn quan điểm và giải pháp thu hút đầu trực tiếp nước ngoài vào việt nam trong tiến trình tự do hóa thương mại trong asean - Pdf 12



Luận văn: Quan điểm và giải pháp thu
hút đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt
Nam trong tiến trình tự do hóa thơng
mại trong ASEAN
Quan điểm và giải pháp thu hút đầu t trực
tiếp nớc ngoài vào Việt Nam trong tiến trình
tự do hóa thơng mại trong ASEAN
CHƠNG 1
TÌNH HÌNH THU HÚT FDI ,VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1. Sự cần thiết phải thu hút FDI
Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoàI ngày càng đợc nhiêu f nớc thừa nhận là một
nhân tố quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia ,đặc biệt là phát triển
kinh tế.
Nớc ta ,kể từ khi luật đầu t nớc ngoàI đợc ban hành và thực hiện, hoạt động đầu t
trực tiếp nớc ngoàI đợc Đảng và Nhà nớc ta khẳng định là bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế thị trờng theo định hớng xă hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy sự phát triển
của các nguồn lực trong nớc. Sự xuất hiện của FDI tại Việt Nam thời gian qua đã đem lại
cho chung ta những tác động tích cực về kinh tế xã hội thể hiện qua các khía cạnh sau :
ã FDI đóng góp đối với tổng vốn đầu t toàn xã hội .
ã FDI làm tăng khả năng huy động các nguồn vốn khác
ã FDI góp phần làm chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá ,hiện đại
hoá .
ã Tăng thu ngân sách nhà nớc .
ã Tăng việc làm và thu nhập cho ngời lao động.
ã Tăng cờng xuất khẩu.

Vốn bình quân 1
dự án (triêu USD)
1988-
1998
1611 18477 8254 11,5
1996 325 8497,3 2914 26,1
1997 345 4649,1 3215 13,5
1998 275 3897,0 2369 14,2
1999 311 1568,0 2535 5,0
2000 371 2012,4 2450 5,4
2001 523 2535,5 2591 4,8
2002 754 1557,7 1250 2,1
2003 721 1915,8 2650 2,7
Nguồn: Tổng cục Thống kê
* Về cơ cấu ngành: Các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài chủ yếu tập trung vào lĩnh
vực công nghiệp và xâydựng với 2885 dự án, vốn đăng ký 23213,71 triệu USD (chiếm
66,7% số dự án, 56,9% tổng số vốn đăng ký); nông nghiệp 596 dự án với vốn đăng ký
2893,34 triệu USD (chiếm 13,8% dự án; 7,1% vốn đăng ký); dịch vụ 843 dự án với vốn
đăng ký 14682,7 triệu USD (chiếm 20,41% số dự án; 36% vốn đăng ký.
Bảng 2: Đầu t trực tiếp nớc ngoài phân theo ngành đối với những
dự án còn hiệu lực giai đoạn 1988- 2003
Ngành
Số dự
án
Tổng vốn
đầu t
(tr.USD)
Vốn pháp
định
(tr.USD)

Bảng 3: Một số địa phơng dẫn đầu về thu hút FDI (tính đến ngày31/12/2003)
Địa phơng Số dự án
Vốn đăng

(tr.USD)
Địa phơng
Số dự
án
Vốn đăng

(tr.USD)
TP.Hồ Chí
Minh
1581 11208,4 Bà Rịa-
Vũng Tàu
140 3569,8
Bình Dơng 748 3028,4 Hà Nội 634 8223,7
Đồng Nai 579 4617,9 Hải Phòng 170 1659,2
Nguồn: - Niên giám thống kê 2002
- Kinh tế Việt Nam và thế giới 2003-2004, Thời báo kinh tế Việt Nam
* Về đối tác đầu t: Đến nay đã có hơn 75 nớc và vùng lãnh thổ đầu t vào Việt Nam,
nhng các nhà đầu t lớn chủ yếu đến từ các nớc Châu Á nh: Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng
Công, Nhật Bản, Singapo. Những nớc này chiếm tới 60,12% số dự án và 58,41% số vốn
đầu t.
* Về hình thức đầu t: hình thức liên doanh chiếm 51% vốn đăng ký và 30% số dự
án, hình thức đầu t 100% vốn nớc ngoài chiếm36% vốn đăng ký và 66% số dự án, hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh và BOT chiếm 13% vốn đăng ký và 4% số dự án.
2. Vai trò tác động của đầu t trực tiếp
2.1 . Tác động tích cực
Bảng 4. Số dự án FDI vào Việt Nam (1991-2002)

nớc đang phát triển có thể tranht hủ nguồn vốn ĐTNN vào việc phát triển kinh tế .
Tại nhiều nớc đang phát triển ,vốn FDI chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng vốn đầu tcủa
toàn bộ nền kinh tế, trong đó có một số nớc hoàn toàn dựa vào vốn ĐTNN ,đặc biệt là
giai đoạn đâu t phát triển kinh tế . Một số nớc đã thực hiện khá thành công chiến lợc
thu hút FDI và có ý nghĩa quyết định đến tăng trởng kinh tế các nớc này nh Indonexia
(FDI/GDP-2001 =10,9%); Malaysia (FDI/GDP –2001 =26,6%) ; Singapore
(FDI/GDP –2001 =65,3%).
Tại Việt Nam , nhng con số ở bảng 4 cho thấy chúng ta khá thành công trong việc
thu hút FDI ,tuy nhiên so với các nớc trong khu vực vẫn còn thập (FDI/GDP-2001
=13,1%).
Đối với các nớc công nghiệp phát triển FDI vẫn là nguồn vốn bổ sung quan trọng có
ý nghĩa lớn trong quá trình phát triển kinh tế. Bằng chứng là các nớc công nghiệp phát
triển đã thu hút trên 80% FDI toàn thế giới vào nớc họ . Khác vơí các nớc đang phát
triển ,không phảI là họ thiếu vốn đầu t, cũng không phảI trình độ thập kém mà các nớc
công nghiệp phát triển cần thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài. Thực tế thì các nớc phát
triển đầu t ra nớc ngoàI nhiều nhất ,nhng cũng thu hút phần lớn ĐTTTNN . Theo báo
cáo đầu t của LIên Hợp Quốc 1994 các nơcs phát triển đầu t ra nớc ngoàI khoảng 189
ty USD , chiếm 85% tổng vốn FDI trên toàn cầu , nhng ngợc lại họ đã thu hút vào 135
tỷ USD chiếm 60% tổng vốn FDI toàn thế giới.
FDI có vai trò quan trọng trong việc khuến khích tiết kiệm trong nớc ,đIũu này có
thể giảI thích nh sau ; khi có ĐTTTNN có thể tạo thêm nhiều việc làm ,tăng thu nhạp
quốc dân do đó có thể tăng phần tiết kiệm o nớc nhận vốn đầu t.
Khi FDI nhảy vào một nớc ,nó có thể làm giảm cán cân vãng lai, nó cũng có thể
làm triệt tiêu khoản thâm hụt đó qua thời gian ,khi các công ty nớc ngoàI thu đợc nhng
khoản xuất khấu ròng, Thêm nữa , khi những lợi thế của nền sản xuất nớc ngoàI đợc đa
vào nớc chủ nhà nh công nghệ ,kỹ năng sản xuất … chúng làm nâng cao sức cạnh tranh
quốc tế của các hãng trong nớc ,có thể làm tăng xuất khẩu ,góp phần tạo ra ngoại tệ cảI
thiện cán cân thơng mại .
ã Chuyển giao công nghệ
Khi đầu t vào một nớc nào đó ,chủ đầu t không chỉ mang vào nớc đó vốn

của nhiều nớc cho thấy quốc gia nào thực hiệ chiến lợc phát triển kinh tế mở với bên ngoàI,
biết tranh thủ và phát huy các nhân tố bên ngoàI biến nó thành nhân tố bên trong , thì quỗc
gia đó có tốc độ tăng trởng kinh tế cao.
Mức tăng trởng kinh tế ở những nớ đang phát triển thờng do nhân tố đầu t la chủ
yếu , nhờ đó các nhân tó khác nh lao động đợc sử dụng ,năng suất lao động đợc tăng lên .
Vì vậy , thông qua đầu t có thể đánh giá một cách tơng đối mức tăng trởng kinh tế của
mỗi nớc.
ã Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
FDI là bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại ,thông qua đó các quốc
gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào phân công lao động quốc tế để hôị nhập vào nền kinh
tế thế giới ,đòi hỏi mỗi quốc gia phảI thay đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp với sự phân
công lao động cua quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với
trình đọ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điêù kiện thuận lợi cho hoạt động FDI .Ngợc
lại chính FDI lại góp phần vào đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bởi vì :
+ Thông qua ĐTTTNN đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực ,ngành kinh tế mới ở
nớc nhận đầu t.
+ ĐTTTNN giúp cho sự phát triển nhanh chóng về trnhf độ kỹ thuật cộng
nghệ ở nhiều ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng suất và làm tăng tỷ phần
đóng góp của nó cho nền kinh tế.
+Một số ngành nghề đợc kích thích phát triển bởi ĐTTTNN , bên cạnh đó
cũng có một số ngành bị mai một rồi đI đến xoá sổ.
NgoàI những tác động trên , FDI còn có một số tac động khác nh sau :
Góp phần tăng thu ngân sách nhà nớc thông qua việc nộp thuế của các đơn vị
ĐTNN và phần thu từ tiền cho thuê đất … Cùng với khả năng sản xuất , nhập khẩu
hàng hoá , FDI còn giúp mở rộng thị trờng cả trong nớc và quốc tế. Đa số các dự án
FDI đều có phơng án bao tiêu sản phẩm. Đây là hiệ tợng hai chiều đang trở nên khá
phổ biến ở nhiều nớc đang phát triể hiện nay. Về mặt xã hội , FDI đã tạo ra nhiều
chỗ làm mới ,thu hút đơn vị có vốn ĐTNN. ĐIều này góp phần đáng kể vào việc
giảm bớt nạn thất nghiệp ,vốn là tình trạng nan giảI của nhiều quốc gia, đặc biệt đối
với nhiều quốc gia đang phát triển.

chung cũng tạo ra những mặt tráI cho xã hội .
ĐTTTNN đợc thực hiện chủ yếu do các công ty đa quốc gia ,đã làm nảy sinh nỗi lo
rằng các công ty này sẽ làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn,kỹ thuật và mạng
lới tiêu thụ sản phẩm của các công ty này . Vởy nền kinh tế càng dựa vào FDI thì nền
kinh tế càng phụ thuộc vào nền kinh tế lớn, do vạy sự phát triển của nó không bền
vững ,mỗi sự biến động của nền kinh tế lớn ,đều có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế.
Trong vấn đề chuyển giao công nghệ hoạt động của FDI,do trình độ công nghệ hạn chế
mà nớc nhận đầu t có thể tiệp nhận những công nghệ không phù hợp . Các công ty nớc
ngoàI thờng chuyển vào những công nghệ lạc hậu , nhng máy móc đã cũ và đánh giá nó
cao hơn mức bình thờng. Khi tiến hành dự án liên doanh ,các đối tác nớc ngoàI thờng góp
vốn bằng máy móc ,thiết bị vật t , lợi dụng sự non yếu về khả năng công nghệ của đối tác,
họ có thẻ chuyển vào những thiết bị máy móc đã đến thời hạn thanh lý . Họ chuyển vào
và tiếp tục khai thác các máy móc thiết bị này . Tuy rằng nó cóthể hiện đại hơn nhng thiết
bị đang sử dụng ,nhng lại trở thành bãI thảI lớn cho các công ty đa quốc gia , đây là một
thiệt hại lớn cho các nớc nhận đầu t.
Một trong nhng lo ngại lơn khi tiệp nhận FDI là có sự can thiệp bất lợi của phia nớc
ngoàI vào nền chính trị thông qua nhiều thủ đoạn khác nhau .
Nhiều ý kiến khác còn cho rằng khi tiếp nhận FDI có xu hớng đẩy các doanh nghiệp
trong nớc đi đến phá sản ,do các công ty đa quốc gia co tiềm lực tàI chính, kỹ thuật, đôI
khi còn đợc hởng những u đãI hơn cả doanh nghiệp trong nớc .
Một bộ phận trong xã hội bị tha hoá do bị kích thích về vật chất ,lối sống chạy theo
đồng tiền ,coi thờng những chuản mực đạo đức trở nên phỏ biến ,tệ nạn xã hội tăng nhanh .
Lợi dụng chính sách mở cửa của nhà nớc, các thế lực thù địch tìm cách chống phá. Nếu
mất cảnh giác những luồng gió độc có thể trà trộn vào không khí đầu t.
Đó là những mặt trái không thể tránh khỏi , gây nhiều thắc mắc , những d luận xã
hội không tốt cho hợp tác đầu t, nhất là khi có những vấp váp xảy ra . Do đó cần có sự
thống nhất của toàn Đảng ,toàn dân , giữa các cấp ,các ngành giữ cho môi trờng đầu t
trong sạch, cơng quyết bàI trừ tệ nạn xã hội, đề cao cảnh giác với các thế lực thù địch .
Chơng 2
ĐẶC ĐIỂM FDI HIỆN NAY VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HOÁ THƠNG MẠI

Lịch sử thế giới chứng minh rằng không có quốc gia nào có thể phát triển nếu thực
hiện chính sách tự cấp tự túc. Ngợc lại, những nớc có tốc độ tăng trởng cao đều là các nớc
dựa vào kinh tế đối ngoại để thúc đẩy kinh tế trong nớc phát triển, biết sử dụng những
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ để hiện đại hóa nền sản xuất, biết khai
thác những nguồn lực nớc ngoài để phát huy các nguồn lực trong nớc.
Trớc đây, nền kinh tế các nớc tuy có kiên hệ là giao lu nhng chỉ dụa trên quan hệ là
song phơng la chính , cha hợp thành một chỉnh thể toàn cầu . Trong thập kỷ cuối của thế
kỷ XX , việc quốc tế hoá đời sống kinh tế bớc vào giai đoạn mới . Nền kinh tế các nớc
không chỉ liên hệ giao lu lẫn nhau mà còn đan dệt vào nhau ,dung hợp lẫn nhau để hình
thành một nền kinh tế toàn cầu trên cơ sỏ phát triển mạnh mẽ cách mạng khoa học công
nghệ và vai trò then chốt của các công ty xuyên quốc gia.
Qúa trình tự do hóa thơng mại đợc thể hiện rõ nét qua việc hình thành các liên kết
kinh tế quốc tế nh các khối mậu dịch tự do, đồng minh thuế quan, liên minh kinh tế , liên
minh tiền tệ… và các tổ chức kinh tế quốc tế. Hiện nay đã có mấy chục khu vực kinh tế
khác nhau về cấp độ, qui mô, nội dung. Tây Âu, Bắc Mũ, Châu Á - Thái Bình Dơng,
Trung Đông, Châu Phi, Mỹ La Tinh đều có các khu vực kinh tế và thơng mại tự do. Tiêu
biểu nh Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp định tự do thơng mại Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn
hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dơng (APEC)… góp phần vào thúc đẩy sự tăng trởng
của thơng mại thế giới, theo thống kê của tổ chức thơng mại (WTO), cho đến nay trên thế
giới có tới 144 tổ chức kinh tế mang tính chất khu vực. Các tổ chức kinh tế – tài chính
quốc tế nh Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức thơng mại thế
giới (WTO), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)… có vai trò toàncầu, thúc đẩy
tự do hóa thơng mại phát triển mạnh mẽ. Trong các tổ chứcnày, quan trọng nhất là tổ chức
thơng mại thế giới đợc coi là “Liên hiệp quốc về thơng mại” với hơn 140 thành viên,
chiếm hơn 90% giá trị thơng mại thế giới, đang là tổ chức thúc đẩy các quốc gia phối hợp
các chính sách kinh tế , thực hiện tự do hóa thơng mại, dịch vụ, đầu t, tài chính, tiền tệ để
tăng cờng các quan hệ kinh tế quốc tế. Với việc các nớc thamgia ngày càng nhiều vào các
tổ chức kinh tế quốc tế, tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và các tổ chức kinh tế
khu vực, toàn cầu gần đây đều có xu hớng muốn đẩy nhanh tốc độ, rút ngắn thời hạn thực
hiện các cam kết để đẩy nhanh quá trình tự do hóa kinh tế giữa các nớc thành viên đã

lợng sản xuất là một trong những yếu tố quyết định nền sản xuất thế giới đã đợc cơ cấu lại
theo hớng linh hoạt hóa trên cơ sở chu chuyển t bản xuyên quốc gia đợc thực hiện dễ dàng
và linh hoạt. Điều này đã làm nảy sinh và đẩy mạnh thơng mại xuyên quốc gia, khiến cho
thơng mại thế giới về hàng hóa và dịch vụ tăng vọt, tự do hóa thơng mại phát triển ngày
càng mạnh mẽ.
Phân công lao động quốc tế làm đối tợng và phạm vi tham gia vào việc trao đổi
quốc tế đợc mở rộng, đồng thời lợi thế so sánh của các quốc gia đợc khai thác triệt để, đã
thúc đẩy thơng mại hàng hóa và dịch vụ phát triển dẫn đến đòi hỏi bức thiết về tự do hóa
thong mại và đầu t lẫn nhau giữa các quốc gia.
Nh vậy, qua những phân tích và đánh giá trên có thể nhận thấy một điều rằng, ngày
nay, tự do hóa thơng mại đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tự do hóa thơng mại
vừađem lại lợi ích to lớn cho các quốc gia, vừa tạo ra những thách thức lớn trên con đờng
hội nhập của các quốc gia vào nền kinh tế thế giới. Chính những cơ hội và thách thức đó
đã đẩy các quốc gia lại gần nhau hơn, nó đã thúc dục các quốc gia có những sự tơng đồng
về địa lý, văn hóa, lợi ích kinh tế … tập hợp lại trong những tổ chức kinh tế khu vực và
toàn cầu, hợp tác với nhau để hình thành các liên kết mang tầm khu vực và quốc tế. Các
liên kết kinh tế khu vực đợc hình thành, một mặt tạo điều kiện đẩy nhanh qúa trình quốc
tế hóa đời sống kinh tế thế giới trên cơ sở việc giải quyết nhanh những bất đồng tồn tại
giữa các quốc gia có nhiều sự tơng đồng. Mặt khác, liên kết kinh tế quốc tế trên một giác
độ nào đó cũng có thể đợc coi nh là một phản ứng tự nhiên của các quốc gia mà theo đó họ
tập hợp lại trong một khối kinh tế lớn hơn để đề kháng lại những tác động đợc coi là tiêu
cực với các quốc gia trớc sự bành trớng quá nhanh của xu hớng toàn cầu hóa về kinh tế.
Quá trình này, tuy vậy lại đẩy nhanh hơn tự do hóa thơng mại trong nội bộ các quốc gia
thuộc khối liên kết. Về lâu dài, đó sẽ là cơ sở vững chắc cho tự do hóa thơng mại và đầu t
toàn cầu.
2. Những đặc điểm mới của FDI trong sự tác động của tự do hoá thơng mại tại
Việt Nam
Từ những phân tích trên ,có thể thấy nguồn FDI vào Việt Nam trong thời gian tới có thể có
những đặc điểm sau đây :
Thứ nhất, sẽ có sự chuyển dịch trong cơ chế FDI đổ vào Việt Nam theo sơ đồ phân

Nam cha hợp lý, điển hình là những đối tác trên thế giới có vị thế cha xứng đáng trong đầu
t trực tiếp vào Việt Nam, lĩnh vực sử dụng vốn đầu t của Việt Nam cha hợp lý dẫn đến có
nhiều ngành còn nhỏ lẻ, hình thức đầu t cha thực sự đa dạng.
3. Sự tác động của t do hoá thơng mại ASEAN đến dòng lu chuyển FDI vào Việt
Nam
Việc tham gia vào AFTA sẽ làm tăng lợng vốn đầu t trực tiệp nớc ngoài vào Việt Nam.
Đối với các nhà đầu t ngoài AFTA , Việt Nam có nhiều lợi thế trong thu hút đầu t trực tiếp
nớc ngoài . Đồng thời , nguyên tắc xuất xứ hàng hoá của AFTA có yêu cầu thập hơn so
với yêu cầu của các khu vực mậu dich tự do khác cho nên tham gia vào AFTA còn tạo
điêù kiện để thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Việc đầu t sản xuất ở các nớc trong AFTA và
tiêu thụ sản phẩm ở các nớc khác sẽ tạo động lực thu hút mạnh hơn vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài . Các nhà đầu t trong AFTA sẽ chú ý nhiều hơn đến viêc di chuyển một số ngành sản
xuất sang Việt Nam do các nớc này đang mất dần lợi thế và lao động rẻ. Đồng thời Việt
Nam đang có mục tiêu tạo nhiều việc làm cho ngời lao động ,do đó , việc di chuyển các cơ
sở sản xuất từ các nớc sang Việt Nam sử dụng nhiều lao động rất phù hợp voứi chiến lợc
phát triển của Việt Nam .
Hơn nữa, thế mạnh của các nớc trong viêc đầu t ra nớc ngoài không phải ở các ngành
công nghiệp có công nghệ cao , thậm chí cũng không phảI ở lĩnh vực công nghệ chế biên
quy mô lớn .Các nớc này cũng đang cạnh tranh để thu hút vốn đầu t nớc ngoài . Vì vậy ,
hoạt động đầu t của các nớc trong AFTA sang Viêt Nam sẽ tiếp tục tăng ở các hoạt động
dịch vụ , thơng mại ,công nghệ chế biến vừa và nhỏ .
Ngoài ra, việc tham gia vào AFTA còn tác động đến việc hình thành và phát triển thị
trờng tài chính –tiền tệ , mở rộng các hoạt động dịch vụ và nâng cao hiệu lực của bộ máy
nhà nớc.
CHƠNG 3
ĐỊNH HỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CỜNG THU HÚT FDI VÀO VIỆT
NAM TRONG ĐIÊU KIỆN THỰC HIỆN AFTA
1. Định hớng thu hút FDI vào Việt Nam
Để xác định phơng hớng cho hoạt động thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian
tới, bên cạnh những khó khăn, thuận lợi do tự do hóa thơng mại trong ASEAN đem lại,

bản cũng nh ứng dụng đợc đào tạo khá tốt từ Liên Xô vào Đông Âu trớc kia và hiện nay có
thể đáp ứng cho ngành công nghiệp chế tạo vật liệu mới. Thành công trong lĩnh vực này,
giá trị gia tăng sẽ rất cao, vì vậy chính phủ nên có u đãi đặc biệt cho các nhà đầu t nớc
ngoài trong lĩnh vực này.
Ngoài ra, các ngành thép, cao su… phục vụ cho công nghiệp sản xuất ôtô, xe máy…
cũng có thể tính đến trong định hớng thu hút FDI vào Việt Nam. Bởi đây là những ngành
có thể phát huy thế mạnh của Việt Nam đồng thời có khả năng đem lại giá trị gia tăng cao
cho Việt Nam. Mặc dù hiện tại, trình độ sản xuất cũng nh cơ sở cho phát triển của ngành
công nghiệp ôtô - xe máy của Thái Lan, Malaysia hơn Việt Nam. Song thị trờng ASEAN
còn lớn, bên cạnh đó Việt Nam còn có thể tính đến thị trờng Trung Quốc với những lợi thế
về địa lý và hệ thống giao thông. Và trên hết là lộ trình AFTA cho ngành này còn dài, Việt
Nam còn có đủ thời gian chuẩn bị để có thể hy vọng là một cực quan trọng trong sản xuất
ôtô - xe máy cho thị trờng ASEAN. Tuy nhiên để đạt đợc những thành công nh mong
muốn thì Việt Nam rất cần có những chính sách và giải pháp thích hợp để không biến
những trợ cấp thành gánh nặng, thành sức ỳ và cản trở sự phát triển của ngành công
nghiệp này.
Trong chiến lợc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, Việt Nam rất quan tâm tới
lĩnh vực điện tử – tin học. Cũng giống nh ngành công nghiệp ôtô - xe máy, Việt Nam đi
sau các nớc ASEAN phát triển khác. Tuy nhiên đây là lĩnh vực công nghệ cao, sự thành
công phụ thuộc rất nhiều vào những nghiên cứu mới có tính đột phá và yếu tố con ngời ở
đây rất quan trọng. Yếu tố con ngời (cả khía cạnh quản lý) ở đây đóng một vai trò đặc biệt
quan trọng. Xét về khía cạnh này Việt Nam có đầy đủ khả năng để sánh vai với các quốc
gia trong khu vực. Thực tế trong năm 2002 Việt Nam đã đạt nhiều giải thởng trong lĩnh
vực này tại các cuộc thi quốc tế và khu vực. Việt Nam có thể tính đếnmột chiến lợc hợp
tác với các quốc gia phát triển, và có thể với cả các quốc gia đang phát triển nhng rất thành
công trong lĩnh vực này (Trung Quốc, Ấn Độ) thì những hy vọng về hiện tợng “sao đổi
ngôi” là hoàn toàn có thể tin cậy để các doanh nghiệp Việt Nam vơn lên. Muốn vậy, cần
nghiên cứu những chính sách đặc biệt cho thu hút FDI vào lĩnh vực này.
Trên cơ sở những định hớng thu hút FDI đã đề cập ở trên, đồng thời với những đánh
giá về những tác động của AFTA đối với luồng FDI tại Việt Nam và tình hình thực tế của

Cuối năm 2002, Bộ kế hoạch và đầu t đã trình Chính phủ một đề án về đẩy mạnh
thu hút FDI thời kỳ 2002-2005. Nội dung chính của đề án đề cập đến việc tăng cờng thu
hút FDI để Việt Nam trở thành một trong những trung tâm của khu vực về sản xuất điện tử,
cơ khí chế tạo và kiến nghị chính phủ xem xét khả năng nới lỏng các điều kiện và mở rộng
lĩnh vực thu hút đầu t, trớc hết là mở rộng lĩnh vực đợc khuyến khích và u đãi đầu t. Ngoài
việc đa ra quan điểm chính thức đối với các lĩnh vực hiện đang tạm dừng hoặc hạn chế cấp
giấy phép, Đề án còn cung cấp các giải pháp để thúc đẩy đầu t nớc ngoài tham gia vào thị
trờng bất động sản, vui chơi giải trí, kinh doanh siêu thị, nới lỏng một số lĩnh vực đầu t có
điều kiện nh dự án trồng rừng, du lịch lữ hành, văn hóa, dịch vụ phân phối, mở rộng thêm
một số lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu t.
Trong hội nghị doanh nghiệp Châu á thờng niên lần thứ 13 tại Hà Nội, Thủ tớng
Chính phủ Phan Văn Khải cho biết: u tiên hàng đầu của Việt Nam là tập trung hoàn thiện
hệ thống pháp luật và xây dựng thể chế kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Vai
trò của Nhà nớc chuyển mạnh từ kiểm soát và cấp phép sang trợ giúp và tạo điều kiện cho
doanh nghiệp, tạo lập môi trờng kinh doanh bình đẳng, minh bạch và an toàn để các nhà
đầu t trong nớc và nớc ngoài đều tìm đợc cơ hội và thu lợi xứng đáng. Đó là những thông
điệp tốt lành cho một cơ chế thông thoáng và thuận lợi cho việc thu hút FDI vào Việt Nam
trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI thời gian tới.
2. Giải pháp nhằm tăng cờng thu hút FDI vào Việt Nam trong điều kiện thực hiện
AFTA
2.1. Nhóm giải pháp thích ứng với đòi hỏi của AFTA
2.1.1. Cải thiện môi trờng pháp luật và thủ tục hành chính
Tham gia AFTA cũng có nghĩa là các quốc gia ASEAN phải tạo thuận lợi hóa cho
hoạt động thơngmại. Chỉ riêng khía cạnh này thôi thì các quy định về luật pháp và thủ tục
hành chính cũng đã phải có sự điều chỉnh cho phù hợp và thống nhất trong toàn khu vực
và đơn giản hóa thủ tục cho lu chuyển hàng hóa trong khu vực. Theo đòi hỏi trên, thì
những quy định về luật pháp và thủ tục hành chính cũng sẽ phải điều chỉnh, tạo thuận lợi
tối đa cho các hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Trong thời gian tới Việt Nam cần tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
đồng bộ rõ ràng vừamang tính ổn định vừa mang tính linh hoạt trong thời gian dài để

tạo ra sự đồng nhất và thuận lợi cho các nhà doanh nghiệp Việt Nam cũng nh các nhà
doanh nghiệp đến từ ASEAN. Trên cơ sở đó, sẽ tăng cờng và củng cố thêm các quan hệ
thơng mại và đầu t nội bộ ASEAN, phát huy những điểm mạnh về tính thống nhất trong
cùng một khu vực mậu dịch tự do.
2.1.2. Hỗ trợ những ngành có tiềm năng phát triển và chịu sức ép của AFTA
Theo phân tích trong những nội dung trên, Việt Nam sẽ có một số ngành mà lợi thế
so sánh hiện ẫn chỉ ở dạng tiềm năng, song khi thực thi AFTA thì sẽ có nguy cơ chuyển
sang các nớc khác trong ASEAN theo sơ đồ chuyên môn hóa sản xuất trong khu vực dới
tác động của AFTA. Đặc biệt Việt Nam phải hết sức chú trọng tới một số ngành mà hiện
Chính phủ đang rất mong muốn phát triển trong chơng trình công nghiệp hóa và hiện đại
hóa đất nớc nh một số ngành: điện tử tin học; thép; ngành cơ khí… Những ngành này, nếu
Chính phủ không có những giải pháp hỗ trợ tích cực và hiệu quả thì sẽ rất khó có thê thu
hút thêm FDI để phát triển. Bởi thời gian đợc bảo hộ của những ngànhnày không còn
nhiều. Lợi thế duy nhất của Việt Nam trong những ngành này hiện nay dờng nh vẫn chỉ là
lực lợng lao động rồi rào, rẻ và tiếp thu nhanh công nghệ mới. Song các nớc trong khu vực,
đặc biệt là ASEAN 4 đã đi trớc Việt Nam trong những ngành này và hiện nay họ đang có
u thế về tài chính, khả năng quản lý, và đặc biệt là công nghệ sản xuất.
Ví dụ: trong ngành điện tử tin học, hiện Việt Nam chủ yếu là thực hiện các công
đoạn lắp ráp. Trong khi đó, các nớc ASEAN 4 đã tiến hành sản xuất đợc khá nhiều linh
kiện cho ngành này. Nh vậy, rõ ràng là họ có u thế hơn Việt Nam trong việc hớng các nhà
đầu t nớc ngoài đầu t sang nớc họ để tiếp tục đẩy mạnh sản xuất linh kiện tiến tới sản xuất
toàn bộ các sản phẩm này tại đất nớc họ. Và nếu điều kiện này thực sự xảy ra thì Việt Nam
kể nh đã mất cơ hội để phát triển toàn diện một ngành sản xuất quan trọng đối với đất nớc
không chỉ về mặt hiệu quả kinh tế mà ngành này đem lại, mà còn là những vấn đề về công
nghệ, an ninh,… Cũng với những lập luận nh vậy, thì e rằng Việt Nam nếu cố gắng nh
hiện nay, may ra cũng chỉ đợc tiếp tục thực hiện các công việc lắp ráp sản phẩm.
Bởi vậy, ngay từ bây giờ, Chính phủ cần nhanh chóng có những giai pháp mạnh mẽ
hơn nữa nhằm thu hút các nhà đầu t nớc ngoài vào việc xây dựng những cơ sở ban đầu cho
những ngành này, đồng thời biến nhng lợi thế tiềm năng thành hiện thực để có thể tiếp tục
thu hút FDI vào những ngành này ngay cả sau khi đã kết thúc lịch trình thực hiện CEPT.

nớc và ngợc lại đợc thuận tiện. Nh vậy, Nhà nớc cần phải soạn thảo và đa ra luật thị trờng
chứng khoán, đào tạo con ngời có đủ khả năng và trình độ hoạt động tốt trên thị trờng và
hệ thống tài chính, nhanh chóng có biện pháp đẩy nhanh cổ phần hóa các doanh nghiệp.
Ngoài ra Chính phủ không nên để hình thức đầu t của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài hoạt động chỉ trên cơ sở công ty trách nhiệm hữu hạn mà nên để các công ty này tự
lựa chọn hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn mà nên để các công ty này tự lựa chọn
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hay theo hình thức công ty cổ phần. Nh vậy vừa tạo
điều kiện tốt cho thị trờng chứng khoán ra đời, vừa tăng thêm vốn bổ sung của các doanh
nghiệp và các nhà đầu t nớc ngoài khi tham gia đóng gops cổ phần, đồng thời tạo thuận lợi
và mở rộng thêm một kênh nữa cho thu hút FDI. Bởi nếu tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu t
nớc ngoài bị khống chế khi mua cổ phần thì thứ nhất nó sẽ hạn chế nguồn đầu t của họ, và
thứ hai là hình thức này chỉ đợc coi là đầu t gián tiếp. Còn nếu tỷ lệ sở hữu vốn của họ
trong các Công ty cổ phần đạt mức khống chế thì họ sẽ trở thành nhà đầu t trực tiếp nớc
ngoài và quyền lợi, trách nhiệm của họ có thể đợc thi hành theo luật đầu t trực tiếo nớc
ngoài. Nh vậy, mức độ ổn định của đồng vốn có thể sẽ cao hơn, đồng thời đây cũng là một
giải pháp biến các doanh nghiệp có vốn đầu t trong nớc trở thành một doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài một cách nhanh chóng. Nh vậy thì dòng FDI đổ vào trong nớc lại có nhiều
thuận tiện hơn, ít thủ tục rờm rà hơn do họ đợc đầu t qua kênh thị trờng chứng khoán –
một kênh đầu t có nhiều triển vọng thuận lợi, nhanh chóng hơn cách làm “truyền thống”.
Bởi các nhà đầu t sẽ không phải bận tâm nhiều đến các thủ tục thành lập Công ty, thuê đất,
giải phóng mặt bằng,… những thủ tục mà hiện đợc coi là gây lãng phí khá nhiều tiền bạc
và thời gian của các nhà đầu t. Không những thế nó còn ảnh hởng đến hình ảnh về môi
trờng đầu t của Việt Nam và gây ức chế cho các nhà đầu t. Điều này chắc chắn sẽ không
có lợi cho Việt Nam nếu tiếp tục kéo dài. Về mặt tài chính Việt Nam cần có biện pháp để
các nhà đầu t tiếp cận một cách dễ dàng với nguồn ngoại hối hơn vì ngoại hối chính là
dòng máu nuôi sống hoạt động đầu t mà một khi khó khăn trong việc tiếp cận sẽ làm cho
dự án không thể hoạt động trong thời gian lâu dài đợc.
Thêm vào đó là cần xóa bỏ những quy định về việc trả lơng cho lao động Việt Nam
bằng ngoại tệ điều đó sẽ làm cho nhà đầu t giảm đợc chi phí, khuyến khích đầu t vào các
ngành nghề sử dụng nhiều lao động. Từ khủng hoảng kinh tế khu vực đã cho thấy cần phải

Hiện nay, trên thế giới hiện tợng xáp nhập, chia tách, mua bán các công ty là hoạt
động bình thờng diễn ra trong nền kinh tế thị trờng. Nhờ có những hoạt động mua bán,
chuyển quyền sở hữu này thông qua sự hoạt động hoàn thiện của thị trờng tài chính mằ các
nhà đầu t có thể dễ dàng chuyển nguồn vốn của họ sang lĩnh vực mà họ đã lựa chọn. Nếu
Việt Nam không tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t trong việc chuyển quyền sở hữu
doanh nghiệp thì ngoài những khó khăn do trục trặc trong quan hệ đối tác giữa các bên
trong liên doanh, sự khó khăn trong chuyển quyền sở hữu vốn sẽ tạo tâm lý không yên tâm
và thoải mái cho các nhà đầu t khi đem vốn vào Việt Nam. Điều này sẽ dẫn đến những hệ
quả là môi trờng đầu t ở Việt Nam sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn, kém an toàn hơn.
Trong điều kiện của tự do hóa thơng mại và đầu t trong ASEAN, những khó khăn
nh trên sẽ là một bất lợi đối với Việt Nam trong cạnh tranh thu hút FDI đối với các quốc
gia trong khu vực. Do vậy, việc thuận lợi hóa cho các nhà đầu t chuyển quyền sở hữu vốn
cần thực hiện nhanh chóng. Theo tôi điều này không quá khó và không nên chậm trễ.
2 2.4. Nâng cấp các trục giao thông xuyên quốc gia và châu lục
Ngay nay, cơ sở hạ tầng của Việt Nam bị đánh giá là tồi tàn, yếu kém. Một số nơi
cơ sở hạ tầng đợc nâng cấp thì sinh ra nhiều khoản phí dẫn đến các nhà đầu t cảm thấy
“nản lòng” không muốn đầu t. Việc đầu t cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng là cần thiết cho hoạt
động thu hút đầu t nhng lại đòi hỏi một lợng vốn lớn mà chỉ có Nhà nớc mới làm đợc. Do
đó, Nhà nớc cần phải tập trung xây dựng và tăng cờng việc cho phép bên nớc ngoài sử
dụng các hình thức BOT, BTO, BT để ngày càn hoàn thiện và xây dựng các công trình cơ
sở hạ tầng mới giúp ích cho hoạt động thu hút đầu t nớc ngoài.
Đặc biệt trong điều kiện tự do hóa thơng mại, nếu Việt Nam phát huy lợi thế vị trí
địa lý trung tâm, đồng thời với việc nâng cấp các tuyến đờng giao thông quan trọng nối
thông với các nớc trong khu vực thì sẽ là một tiền đề tốt để các nhà đầu t nớc ngoài lựa
chọn Việt Nam nh một cứ điểm sản xuất và hoàn thiện sản phẩm cuối cùng. Nếu làm đợc
việc này thì Việt Nam không chỉ là quốc gia cung cấp sản phẩm cuối cùng cho các quốc
gia ASEAN mà còn cho cả các tỉnh phía nam Trung Quốc nữa. Nh vậy rõ ràng Việt Nam
lúc này đã trở thànhmột cầu nối cho hàng hóa của ASEAN xuất sang Trung Quốc. Điều
này lại một lần nữa nâng cao vị thế của Việt Nam trong lợi thế thu hút FDI. Bởi các nhà
đầu t nớc ngoài, không chỉ tính đến một thị trờng ASEAN với 500 triệu dân, mà còn cộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status