MỞ ĐẦU
Lịch sử phát triển của kinh tế thế giới đã cho thấy sự phát triển thần kỳ
của Đông Á. Mô hình phát triển của Đông Á đã khiến các Chính phủ, các
học giả, các chuyên gia nghiên cứu kinh tế phải suy ngẫm và học hỏi. Trong
câu chuyện thần kỳ đó, chính sách công nghiệp là một vấn đề rất được quan
tâm. Và mặc dù vai trò của nó đối với thành công của Đông Á còn phải
được xem xét, khảo cứu, nhưng đến nay, chính sách công nghiệp đã trở
thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, hiện nay Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước với mục tiêu đưa nước ta về cơ bản thành một nước công
nghiệp vào năm 2020. Trong quá trình này, chúng ta cần xây dựng và thực
hiện được các chính sách công nghiệp vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của
đất nước vừa đáp ứng được những đòi hỏi của quá trình hội nhập vào nền
kinh tế thế giới nhằm tạo cơ sở cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Để
thực hiện được nhiệm vụ to lớn này, cùng với việc nghiên cứu, phân tích,
nắm bắt các qui luật khách quan và thực tiễn để đề ra các chính sách công
nghiệp có cơ sở khoa học, việc tham khảo, học tập kinh nghiệm của những
nước đi trước, đặc biệt là những nước trong khu vực có các điều kiện về
chính trị, văn hoá, xã hội tương đồng với chúng ta, là việc làm hết sức cần
thiết và bổ ích. Xuất phát từ bối cảnh đó, em chọn đề tài “ Chính sách công
nghiệp - Lý luận và kinh nghiệm quốc tế ” làm khoá luận tốt nghiệp của
mình nhằm: góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn của
CSCN, phân tích các CSCN của Nhật Bản, Trung Quốc và rút ra những bài
học kinh nghiệm cho quá trình hoạch định và thực thi CSCN, và trên cơ sở
đó trình bày một số kiến nghị góp phần xây dựng và hoàn thiện chính sách
1
công nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới. Với mục tiêu như vậy, ngoài
các phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Danh mục tài liệu tham khảo” kết cấu
của khoá luận được trình bày thành ba chương.
trên không hoàn toàn sai nhưng những quan niệm này là chưa đầy đủ hoặc
không rõ ràng. Vì những quan niệm này đã xác định không chính xác mục
tiêu, đối tượng, nội dung cũng như cơ chế thực hiện của CSCN.
3
Phân tích về mặt thuật ngữ, cụm từ “chính sách công nghiệp” được xuất
hiện vào đầu những năm 1970, đầu tiên là ở Nhật Bản. Theo tiếng Nhật,
chính sách công nghiệp là “Sangyo Seisaku”. Còn trong tiếng Anh, CSCN
được gọi là “Industrial Policy”. Từ “Industry” có hai nghĩa, bao gồm: (i)
ngành chế tạo hay sản xuất; (ii) công nghiệp, kinh doanh. Như vậy, thuật
ngữ “ chính sách công nghiệp “ có thể dẫn đến hai cách hiểu khác nhau là
chính sách điều chỉnh ngành công nghiệp hoặc chính sách ngành và nó gây
ra những sự lầm lẫn trong việc tìm hiểu và phân tích về CSCN.
Xét về nội dung, chính sách công nghiệp được nhìn nhận rất khác nhau:
- Theo Ryutaro Komiya, căn cứ vào các chính sách phát triển công
nghiệp của Nhật Bản, ông coi CSCN là “ các chính sách của chính phủ
thuộc loại mà nếu không được vận dụng, sẽ có một sự phân bổ nguồn lực
theo cách khác giữa các ngành hoặc mức khác biệt về khía cạnh nào đó của
hoạt động kinh tế của các hãng cấu thành một ngành công nghiệp ”. Tuy
nhiên sau đó ông đã sửa đổi và mở rộng định nghĩa này, ông cho rằng CSCN
bao gồm các chính sách ảnh hưởng tới sự phân bổ nguồn lực cho các ngành
công nghiệp và các chính sách ảnh hưởng tới tổ chức ngành. [5, 15].
- Cũng có quan điểm khá tương đồng với quan niệm trên, Motoshige
Ito, trong cuốn sách “Phân tích kinh tế về chính sách công nghiệp”, đã cho
rằng “chính sách công nghiệp là chính sách nhằm tác động tới phúc lợi kinh
tế của một quốc qua thông qua việc Chính phủ can thiệp vào lĩnh vực phân
bổ các nguồn lực giữa các ngành, các khu vực của một quốc gia và can thiệp
vào tổ chức sản xuất của các ngành/khu vực nào đó”. Theo quan niệm này,
đối tượng của CSCN không chỉ là các ngành công nghiệp mà còn là các
ngành khác đồng thời CSCN vừa bao gồm chính sách có tác động liên
ngành, vừa bao gồm chính sách có tác động tới nội bộ một ngành. [60, 23].
sản lượng, thu nhập, việc làm... những biến số kinh tế vĩ mô; còn trong một
5
CSCN, nhìn ở giác độ ngành kinh tế, việc Chính phủ trợ cấp cho một ngành
phát triển sản xuất sẽ khiến Chính phủ phải chuyển nguồn lực từ các ngành
khác sang ngành này và do đó nó không trực tiếp ảnh hưởng đến các biến số
kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên về dài hạn, CSCN cũng ảnh hưởng đến các biến số
kinh tế vĩ mô vì nó điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu thương mại, ảnh hưởng
tới việc làm, sản lượng, chu kỳ kinh doanh, tác động đến cơ sở hạ tầng, công
nghệ và năng suất tạo ra lợi thế cạnh tranh mới ảnh hưởng đến giá cả... Mặt
khác, các mục tiêu vĩ mô cũng sẽ điều chỉnh CSCN cho nên quan điểm phân
chia vi mô, vĩ mô chỉ mang tính chất tương đối.
1.1.2. Mục tiêu và công cụ của chính sách công nghiệp
1.1.2.1. Mục tiêu của chính sách công nghiệp
Các chính sách công nghiệp hiện thời nhằm vào vô số mục tiêu, trong
số đó có nhiều mục tiêu phi kinh tế. Tuy nhiên, đề tài này chỉ hướng trọng
tâm vào các chính sách được thực thi vì những lý do kinh tế. Về cơ bản, các
chính sách kinh tế phải hướng tới các mục tiêu kinh tế chung như tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ổn định giá cả, đảm bảo đầy đủ công ăn
việc làm ở mức độ cao và cân bằng cán cân thanh toán đồng thời góp phần
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Chính sách công nghiệp không phải là một trường hợp ngoại
lệ. Song song với mục tiêu chung này, mục tiêu trực tiếp của CSCN là tạo ra
được một cơ cấu ngành hợp lý trên cơ sở thúc đẩy một số ngành phát triển,
có sức cạnh tranh quốc tế và có khả năng hỗ trợ nền kinh tế thị trường. Với
các mục tiêu như vậy, nội dung chủ yếu của CSCN là lựa chọn những ngành
cần ưu tiên và các biện pháp thúc đẩy những ngành này phát triển hoặc ở
một khía cạnh khác, đó là xác định những ngành suy thoái hay phải hạn chế
và phương thức “giải thoát” các nguồn lực khan hiếm ra khỏi những ngành
đó một cách hợp lý.
6
có ít lợi thế so sánh hơn.Vì vậy, khi cơ cấu công nghiệp thay đổi theo hướng
tạo ra sự thay đổi về lợi thế so sánh thì thông qua cơ cấu thương mại sự tái
phân phối thu nhập giữa các quốc gia xảy ra, những nước phát huy được lợi
thế mới này sẽ được lợi. Như vậy, theo cách tiếp cận này, có thể coi CSCN
là một chính sách được thực hiện nhằm tăng cường phúc lợi kinh tế của một
quốc gia bằng cách làm giảm phúc lợi của nước khác. Đây cũng là một trong
những nguốn gốc dẫn đến các xung đột thương mại quốc tế.
1.1.2.2. Công cụ của chính sách công nghiệp
Chính sách công nghiệp thực hiện các mục tiêu và nội dung của mình
thông qua một hệ thống các công cụ. Đó là hệ thống những phương tiện
truyền dẫn các phương thức tác động lên đối tượng của CSCN. Hệ thống
này bao gồm những nhóm công cụ cơ bản sau:
- Những công cụ kinh tế là ngân sách, các quỹ, hệ thống đòn bảy
khuyến khích kinh tế như thuế, trợ cấp, lãi suất....
- Những công cụ hành chính, tổ chức gồm có: các công cụ hành chính
là các kế hoạch, quy hoạch của Nhà nước và hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật, các công cụ tổ chức như mô hình tổ chức bộ máy và đội ngũ cán
bộ công chức tham gia vào quá trình hoạch định và triển khai.
- Những công cụ tuyên truyền, giáo dục là hệ thống thông tin đại chúng
liên ngành, các hiệp hội...
- Những công cụ mang tính kỹ thuật và nghiệp vụ như công tác kiểm
tra, thu thập thông tin, các tiêu chuẩn kỹ thuật...
Kinh nghiệm từ hoạt động thực thi CSCN trên thế giới và đặc biệt là
của Nhật Bản cho thấy rằng, có thể chia công cụ CSCN thành ba loại chủ
yếu: các công cụ điều chỉnh trực tiếp, các công cụ khuyến khích gián tiếp và
các công cụ liên quan tới thông tin.
8
- Nhóm công cụ điều chỉnh trực tiếp bao gồm việc cấp giấy phép hoặc
bản quyền, phân phối hàng hoá, kiểm soát sự gia nhập ngành mới, việc hình
thành những cácten...Những công cụ như vậy thường có hiệu ứng phụ vì
- Thuế quan bảo hộ là loại thuế đánh vào các hàng hoá xuất nhập khẩu,
thuế quan nhập khẩu thường là một trường hợp điển hình hơn. Đây là công
cụ hữu hiệu của CSCN xét trên phương diện nó thực hiện mục tiêu phát
triển một số ngành nào đó nhất là những ngành “công nghiệp non trẻ”. Tuy
nhiên, kết quả là mặc dù tạo ra công ăn việc làm, tạo đà phát triển cho ngành
công nghiệp non trẻ, nhưng nó lại tạo ra gánh nặng thuế quan cho người tiêu
dùng và hạn chế nhập khẩu. Ngoài ra thời gian bảo hộ bằng thuế quan mà
quá dài thì sẽ ảnh hưởng đến tình trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nước khiến họ không thể lớn mạnh lên được.
- Trợ cấp: Về mặt phân bổ nguồn lực thì tác động của trợ cấp cũng
tương tự như thuế. Ngoài ra, do trợ cấp thực tế sẽ làm giảm lượng vốn và
phụ phí cho đầu tư nên nó có hiệu quả đáng kể định hướng hành vi của các
doanh nghiệp nhưng mặt trái của điều này là chúng cũng hạn chế cách ứng
xử của doanh nghiệp. Mặt khác, trợ cấp thường được phân bổ thông qua quá
trình chính trị nên chúng thường thiên vị các ngành công nghiệp hiện có và
gây ra tình trạng tham nhũng và không linh hoạt về tài chính. Nói chung, trợ
cấp thường được áp dụng chủ yếu cho các trường hợp R&D, tạo lập và phát
triển các ngành mới, khuyến khích xuất khẩu...
+ Tín dụng theo chính sách: Nhà nước đưa ra các tiêu chuẩn nhằm
cung cấp tài chính thông qua các ngân hàng, các quỹ với lãi suất ưu đãi đối
với các đối tượng thoả mãn với các tiêu chuẩn đó. Nói chung, so với những
công cụ tài chính ở trên, công cụ này có một số đặc tính được coi là ưu việt
hơn, cụ thể là: có tính linh hoạt và khả năng điều chỉnh cao, có khả năng
10
định hướng hành vi đầu tư tư nhân và đặc biệt được thực hiện thông qua thị
trường dựa trên các tiêu chuẩn rõ ràng, cho trước.
+ Các biện pháp cung cấp cơ sở hạ tầng: Khi Nhà nước thực hiện các
biện pháp cung cấp cơ sở hạ tầng cứng hoặc mềm cho một số ngành nhằm
thúc đẩy những ngành này phát triển thì đây là công cụ của CSCN. Công cụ
này có ý nghĩa hết sức tích cực vì ngoài việc tăng cường hiệu quả hoạt động
có cách thức phân bổ nguồn lực hợp lý. Chúng ta đã từng biết trong kinh tế
học, thị trường tự do là một phương thức phân bổ nguồn lực và sự phân bổ
này được thực hiện thông qua cơ chế thị trường, hay còn gọi là “bàn tay vô
hình”. Khi thị trường càng phát triển, càng hoàn thiện thì sự phân bổ này
ngày càng đáp ứng được tính hiệu quả. Mặt khác, kinh tế học cũng chỉ ra
rằng, trong điều kiện thị trường là cạnh tranh hoàn hảo thì cơ chế giá cả sẽ
đảm bảo điểm cân bằng là điểm mà tại đó sự phân bố nguồn lực khả thi và
nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Đồng thời, thông qua dẫn dắt
các hành vi tuân theo lợi ích cá nhân mà cơ chế giá cả đã khiến sự phân bổ
nguồn lực này tối ưu hay có tính hiệu quả Pareto.
Như vậy, về phương diện hiệu quả kinh tế, Nhà nước có thể yên tâm
với một thị trường cạnh tranh tự do trong việc phân bổ các nguồn lực khan
hiếm có hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế ngay cả những thị trường rất phát
triển vẫn xuất hiện những trục trặc. Thuật ngữ “trục trặc thị trường” ở đây
được sử dụng để chỉ các tình huống mà tồn tại các “bóp méo” trên thị trường
ngăn cản “bàn tay vô hình” phân bố nguồn lực một cách có hiệu quả. Sự tồn
tại những bóp méo này chính là cơ sở cho sự can thiệp của Nhà nước. Trong
phạm vi CSCN, người ta thấy có các nguồn gốc gây ra trục trặc thị trường
sau:
- Thứ nhất là ngoại ứng, đây là một dạng thất bại thị trường mà nó xảy
ra khi các chi phí hay lợi ích của cá nhân không phản ánh đúng chi phí, lợi
12
ích của xã hội. Vì vậy, thị trường sẽ không có khả năng phân bổ nguồn lực
tối ưu. Trong phạm vi CSCN, việc thúc đẩy một ngành, một lĩnh vực phát
triển có thể tạo ra ngoại ứng tích cực đối với sự phát triển của những ngành,
lĩnh vực khác đồng thời có thể đem lại hiệu quả cao hơn so với việc trực tiếp
đầu tư vào chúng. Ví dụ như trong lĩnh vực công nghệ, mặc dù các hãng đã
chi một khoản nhất định đầu tư để cải tiến công nghệ và luôn sẵn sàng chấp
nhận thua lỗ để có được kinh nghiệm nhưng khi thành công thì các hãng này
không thể chiếm được toàn bộ lợi ích từ R&D, một phần lợi ích sẽ chảy đến
tại một thất bại đó là thông tin không cân xứng hay không hoàn hảo. Điều
đó có nghĩa là các bên tham gia thị trường luôn không có đầy đủ thông tin
hoặc có một bên có nhiều thông tin hơn bên kia vì việc thu thập các thông
tin chính xác hay xác định giá cả cho thông tin là hết sức khó khăn, luôn có
rủi ro. Do đó, nói chung các doanh nghiệp có thể có những quyết định sai.
Trong trường hợp này, vai trò của chính phủ là hỗ trợ sự chuyển giao thông
tin chính xác cho các đơn vị kinh tế thông qua các công cụ thông tin để loại
trừ sự không chắc chắn của thị trường.
Những cơ sở trên đã biện minh cho sự cần thiết của CSCN tại các nước
có thị trường phát triển. Vậy đối với các nước có nền kinh tế thị trường chưa
phát triển, nơi mà thị trường còn nhiều khiếm khuyết, những lập luận này
càng được củng cố chắc chắn. Ngoài ra, khi giả định thị trường chưa phát
triển thì sự thiếu thốn của các thể chế thị trường cũng như khả năng phản
ứng chậm chạp của các cơ chế thị trường có thể khiến Nhà nước có thêm
những lý do để triển khai các CSCN. Ví dụ trường hợp những ngành mới
mọc có những hàng rào ngẫu nhiên ngăn cản gia nhập ngành như: khả năng
không tiếp cận được nguồn tài chính, sự chậm chạp trong việc đào tạo
nguồn nhân lực và những vấn đề của kinh tế quy mô, do đó, Nhà nước phải
ưu đãi nhằm giúp các hãng nhập ngành thành công. Trái lại, đối với những
14
ngành đang suy thoái, một chính sách hợp lý hoá nhanh chóng sẽ tạo điều
kiện nguồn lực được phân bổ tốt hơn. Như vậy, nền kinh tế thị trường chưa
phát triển sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự can thiệp của Nhà nước?. Tuy nhiên,
vấn đề ở đây là còn có những cạm bẫy mà ta sẽ xem xét cẩn thận trong các
phần tiếp theo.
1.2.1.2. Cơ sở “tiêu chuẩn lựa chọn”.
Bên cạnh những luận chứng về cơ sở của CSCN dựa vào thất bại thị
trường còn xuất hiện một số quan điểm khác, ít dựa vào sự thất bại của thị
trường. Những luận chứng này cho rằng chính phủ cần hoạt động CSCN
trên cơ sở xác định những ngành chiến lược, những ngành mũi nhọn trong
vốn sẽ nhận được sự kích thích thị trường để di chuyển đến các ngành có giá
trị gia tăng cao mà không cần đến sự khuyến khích đặc biệt nào của Chính
phủ. Ngoài ra, ông lập luận rằng nếu giả sử các khu vực có giá trị gia tăng
cao là những nơi có vốn tính theo đầu người lớn thì trong trường hợp đó, các
lực lượng thị trường một cách tự nhiên sẽ dẫn dắt nguồn lực của nền kinh tế
hướng đến các khu vực sử dụng nhiều vốn và tách khỏi các khu vực sử dụng
nhiều lao động. Chính phủ có thể khuyến khích tiết kiệm và đầu tư tức
những cái sẽ dẫn đến việc tích luỹ vốn và thường tự động dẫn đến việc
chuyển dịch trong cơ cấu công nghiệp hướng tới các hàng hoá có hàm lượng
vốn cao. Tuy nhiên, khuyến khích tiết kiệm không phải là một CSCN. Và
ông kết luận trừ phi CSCN giúp cho việc hiệu chỉnh một số thất bại thị
trường, còn nếu thị trường không thất bại thì sự phân bổ khởi đầu các nguồn
lực sẽ luôn là tối ưu và sự phân bổ lại được Chính phủ bảo trợ không giúp gì
cho việc cải thiện tình hình cả.
- Khuyến khích các ngành công nghiệp có tính liên kết: Một số nhà kinh
tế cho rằng Chính phủ nên khuyến khích đặc biệt cho những khu vực cung
cấp đầu vào cho các bộ phận còn lại của nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là
16
việc mở rộng các ngành sản xuất hàng hoá trung gian sẽ làm tăng lên nhiều
lần hiệu ứng (mong muốn) đối với sự phát triển của những ngành sử dụng
các sản phẩm mà chúng sản xuất. Sự phổ cập của luận chứng về sự liên kết
bắt nguồn từ nhận định rằng việc sản xuất các sản phẩm trung gian có thể
được sử dụng trong nhiều khu vực khác nhau và đó là một hoạt động kinh tế
mang tính chất cơ bản hơn là việc sản xuất các hàng tiêu dùng chỉ nhằm
thoả mãn nhu cầu của các hộ gia đình. Tuy nhiên, P.Grucman cho rằng nếu
không có thất bại thị trường, sẽ không có lý do để dự kiến là thị trường sẽ
dành quá ít nguồn lực cho việc sản xuất các sản phẩm trung gian. Một luận
đề cơ sở của kinh tế học là trong điều kiện thị trường cạnh tranh, thu nhập
của bất cứ đầu tư nào cũng bằng giá trị sản phẩm biên của nó. Do đó, giá trị
mỗi đôla thêm vào cuối cùng của dịch vụ vốn sẽ tăng thêm một đôla cho giá
mặt hàng bởi sự can thiệp của chính phủ hay do tiến bộ công nghệ thì kết
quả đối với Mỹ đều tương tự. Để tăng phúc lợi của nền kinh tế, Mỹ sẽ di
chuyển nguồn lực ra khỏi ngành đó. Đây cũng là kết quả thu được từ phía
thị trường.
Tóm lại, lập luận của Paul Kgrucman cho thấy những tiêu chuẩn được
đưa ra ở trên để ủng hộ CSCN đã không dựa trên những phân tích sâu sắc về
kinh tế. Ông cho rằng các tiêu chuẩn trên chỉ hợp lý khi tồn tại các thất bại
thị trường song ông cũng thừa nhận giá trị của những tiêu chuẩn này. Mặt
khác, xét một khía cạnh khác của phân tích trên, ta thấy lập luận phê phán
của Paul Kgrucman mặc dù rất có giá trị nhưng nó không phù hợp với các
nước đang phát triển, nơi mà thị trường còn chưa phát triển, sự thiếu thốn về
mặt thể chế và thất bại thị trường phổ biến trong hoạt động công nghiệp. Vì
những tiêu chuẩn đưa ra mang tính thực tế cho nên nó cần được xem xét từ
góc độ thực tế liên quan đến những bối cảnh và điều kiện nhất định.
18
1.2.2. Giới hạn của chính sách công nghiệp.
Cùng với sự phân tích mà Paul Kgrucman đưa ra, phần trình bày “trục
trặc của thị trường” đã nhấn mạnh đến khả năng thất bại của thị trường trong
việc phân bổ nguồn lực tối ưu và điều này đã mở ra “con đường” để các nhà
hoạch định chính sách tin rằng : “ cần phải có sự can thiệp của nhà nước để
đạt sự phân bổ nguồn lực tối ưu ”. Nói một cách khác, Nhà nước cần phải
thực hiện các CSCN để tăng cường hiệu suất cũng như tốc độ tăng trưởng
kinh tế. Thế nhưng, vấn đề chính chưa được bàn đến ở đây là khi thị trường
thất bại thì quá trình phân bổ nguồn lực sẽ phải được diễn ra như thế nào?
Và nó được xét trên hai khía cạnh sau:
- Thứ nhất, ngoài phương thức phân bổ nguồn lực của thị trường còn có
những phương thức phân bổ nào khác không ?
- Thứ hai, trong trường hợp có phương án thay thế thì các nguyên tắc,
cơ chế thực hiện cũng như các điều kiện của phương án đó là như thế nào?
Nói chung, khi thị trường thất bại trong việc phân bổ nguồn lực, Nhà
+ Bỏ qua những tín hiệu thị trường khi cố đạt được tính hiệu quả.
+ Coi nhẹ những hạn chế về khả năng, năng lực và trình độ của chính
phủ.
+ Đánh giá không chính xác hoặc không xác định được các nguồn lực
sẵn có và sẽ có trong tương lai.
+ Không phân tích hiệu ứng phụ của CSCN và các phương án dự
phòng.
+ Thiếu tính điều chỉnh và những phương án thay thế.
+ Không xét đến tính hiệu quả, quy mô và những vấn đề cân nhắc khác.
20
* Những nhân tố có thể dẫn đến CSCN “thiếu suy tính” là:
+ Thông tin: rất khó có thể có đầy đủ thông tin để định dạng một thất
bại thị trường mà CSCN định khắc phục hay khuyến khích. Vấn đề cũng
tương tự đối với các nhà hoạch định trong việc xác định “kẻ thắng cuộc”.
Một khía cạnh khác, những thông tin cần phải biết ở góc độ lý thuyết chưa
chắc đã phù hợp với các thông tin thực tế từ phía các doanh nghiệp, các
ngành hay thị trường… Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách luôn ở trong
tình trạng thiếu thông tin để phân tích kỹ lưỡng các vấn đề chính sách hay
để ra một quyết định đúng.
+ Tính giới hạn và khả năng làm méo mó các kết quả kinh tế của công
cụ chính sách có sẵn: việc xác định những chính sách phù hợp để đối phó
với thất bại thị trường đã khó thì việc lựa chọn những công cụ thích hợp
cũng khó khăn tương tự. Điều này xuất phát bởi bản chất có giới hạn và có
ưu, nhược điểm của các công cụ chính sách có sẵn. Mặt khác, do việc sử
dụng CSCN thường kèm theo các hiệu ứng phụ nên các nhà hoạch định
nhiều khi phải đánh đổi các mục tiêu mà việc lựa chọn này là rất khó khăn
và rất dễ có sai lầm.
+ Năng lực và phẩm chất của các nhà hoạch định chính sách: nếu các
nhà hoạch định không đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm cũng như
không có đủ bản lĩnh, phẩm chất hay không có một môi trường để giúp họ
cũ biến đổi, sự can thiệp với bản chất của nó không thể phản ứng nhanh hơn
cơ chế thị trường. Vì vậy, những can thiệp tích cực trước kia trở nên lỗi thời
và phi kinh tế. Tồi tệ hơn nữa, sự can thiệp này lại tạo ra những méo mó,
những rào cản cho sự tiến bộ công nghệ, sự phát triển của thị trường và quá
trình tăng trưởng kinh tế... Đây cũng là lý do quan trọng giải thích tại sao
22
một số ngành được khuyến khích lại có thể hoạt động với năng suất kém
hơn mong muốn.
Tóm lại, qua những phân tích nêu trên, ta có thể rút ra nhận xét là sự
thất bại của thị trường không phải là điều kiện cần và đủ cho sự can thiệp
của Nhà nước. Điều này cũng có nghĩa là CSCN sẽ là một giải pháp đáng
được mong muốn chỉ khi mà nó thoả mãn một số điều kiện. Những điều
kiện này bao gồm các điều kiện dẫn đến thất bại thị trường trong một số lĩnh
vực như công nghệ, những vấn đề liên quan đến nền kinh tế quy mô… và
các phản điều kiện của phân tích về thất bại của Nhà nước trong việc sử
dụng CSCN như: năng lực của Nhà nước, sự đồng thuận các nhóm lợi ích,
sự dễ dàng trong việc sử dụng các công cụ thích hợp và các trường hợp mà
chi phí cơ hội của CSCN có xu hướng giảm… Những giả định đó càng
nhiều và càng thuyết phục thì sự biện minh cho CSCN càng chính đáng.
Đây chính là giới hạn đặt ra cho CSCN.
23
CHƯƠNG 2
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP CỦA
NHẬT BẢN VÀ TRUNG QUỐC.
Lý thuyết về chính sách công nghiệp được coi là một phần trong lý
thuyết về tổ chức ngành. Theo quan điểm này, các quốc gia sẽ phát triển các
ngành hoạt động trong nền kinh tế trên cơ sở lựa chọn một số ngành để ưu
tiên. Trong Chương 1, chúng ta đã chỉ ra rằng, một CSCN có lẽ sẽ khả thi và
có hiệu quả nếu nó được thực hiện trong “giới hạn”. Tuy nhiên, khái niệm
“giới hạn chính sách công nghiệp” cần phải được làm rõ hơn trong những
công nghiệp, trong khi đó các ngành nông nghiệp ít được quan tâm bởi Nhật
Bản là một nước không có điều kiện thuận lợi về phát triển nông nghiệp. Với
nội dung như vậy, CSCN Nhật Bản được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn tái
thiết nền kinh tế (1945 - 1960); Giai đoạn tăng trưởng nhanh (1960 - 1972);
và giai đoạn từ sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 cho đến 1990.
2.1.1. Thời kỳ tái thiết.
2.1.1.1. Hệ thống sản xuất ưu tiên (1945 - 1949).
Sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng
suy thoái, tổn thất nặng nề: mức sống của người dân bị giảm sút mạnh, các
hãng suy yếu bởi các chính sách chống độc quyền và sự thiếu thốn các yếu
tố đầu vào nguyên liệu, vật tư. Năm 1946, tổng sản phẩm quốc dân của cả
nước chỉ bằng 61%, thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ bằng 55% và
sản lượng của ngành công nghiệp khai khoáng chỉ đạt 29% so với thời kỳ
25