Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
*** KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
ĐẾN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Hồng
Sinh viên thực hiện : Đỗ Thuý Hằng
Lớp : Pháp 2 - K38 E
HÀ NỘI - 2003
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
3
Mặt khác, bên cạnh những khó khăn, thách đố, nền kinh tế Việt Nam còn
có thời cơ và thuận lợi, nội lực và ngoại lực. Nếu khai thác tốt các yếu tố
thuận lợi, tận dụng được thời cơ sẽ cho phép khắc phục khó khăn, vượt qua
thách đố, hành trang của nền kinh tế Việt Nam trên con đường hội nhập chứa
đựng thuận lợi nhiều hơn khó khăn, thời cơ lớn hơn thách đố.
2. Vai trò của chính sách thương mại đối với nền kinh tế quốc dân
nói chung và đối với ngoại thương nói riêng.
Hoạt động kinh tế trong một nền mậu dịch tự do diễn ra theo các quy
luật kinh tế, đó là quy luật về giá cả, cung cầu, quy luật cạnh tranh …, các quy
luật kinh tế này tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người. Nếu một nền
kinh tế nào hoạt động dưới tác động, điều tiết của quy luật kinh tế thì sẽ tối đa
hoá được lợi nhuận có thể rút ra từ các nguồn tài nguyên hiện có.
Nhưng với một nền kinh tế thị trường không có sự quản lý của Nhà nước
sẽ dễ dàng nảy sinh ra những khuyết tật của thị trường như tình trạng phân
hoá giàu nghèo rất cao, tình trạng thất nghiệp sẽ ngày càng nghiêm trọng mà
từ đó sẽ nảy sinh ra những tệ nạn xã hội, hoặc có những lĩnh vực có ích cho
cộng đồng và phát triển kinh tế như xây dựng hạ tầng cơ sở, đầu tư vào giáo
dục, y tế cần nhiều vốn nhưng thời gian thu hồi chậm và lợi nhuận thu được ít
thì sẽ không được các nhà đầu tư quan tâm.
Chính vì những lý do trên, để hướng nền kinh tế phát triển theo hướng có
lợi nhất và phù hợp nhất với đặc điểm kinh tế của từng quốc gia, chính sách tự
do hoá thương mại cũng cần có sự quản lý của Nhà nước dù ở mức độ can
thiệp, quản lý của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường như thế nào lại phụ
thuộc vào điều kiện lịch sử và quan điểm nhận thức của mỗi nước. Vì vậy,
chúng ta thấy hiện nay các nước đều sử dụng chính sách thương mại của mình
để can thiệp vào thị trường, thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển bền vững,
thị trường xuất khẩu. Mặt khác, sự cạnh tranh cả ở thị trường trong nước và
thị trường quốc tế đã buộc các doanh nghiệp phải cải tiến mẫu mã sản phẩm,
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
5
áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, do đó đã nâng cao được khối lượng kim
ngạch và chất lượng xuất khẩu.
Một vấn đề rất đáng chú ý là chính sách thương mại đã thúc đẩy xuất
khẩu tới thị trường đích và nhập khẩu từ thị trường nguồn. Chính sách tự do
hoá thương mại và các quy chế cụ thể đã giúp các doanh nghiệp mạnh dạn
đầu tư chế biến hàng xuất khẩu để đưa tới thị trường tiêu dùng (thị trường
đích) và nhập khẩu, nhất là nhập khẩu máy móc thiết bị từ thị trường có công
nghệ hiện đại (thị trường nguồn).
Chính sách thương mại của nước ta đã từng bước cụ thể hoá đường lối
đổi mới của Đảng và Nhà nước, đưa nước ta từ một nền kinh tế đóng sang
một nền kinh tế mở, đã và đang gặt hái được nhiều thành công rất đáng khích
lệ.
3. Tính cấp thiết phải đổi mới chính sách thương mại
Chính sách thương mại là một trong những chính sách quan trọng mà
mỗi quốc gia, xuất phát từ đặc điểm và mục tiêu kinh tế - xã hội của mình xây
dựng nên một cách phù hợp. Tuy nhiên, không có chính sách thương mại nào
là phù hợp cho tất cả các quốc gia, trong mọi thời điểm bởi vì các quy luật
kinh tế chi phối nền kinh tế của thế giới cũng như của các quốc gia luôn luôn
biến động, sự biến động của các quy luật này kéo theo sự thay đổi chiến lược
kinh tế của từng quốc gia, do đó chính sách thương mại tất yếu cũng thay đổi
theo.
Hiện nay, xu hướng phát triển kinh tế của thế giới đang thay đổi và xu
thế tự do hoá thương mại ngày càng khẳng định được vị trí của mình. Tất cả
các quốc gia, nếú không muốn đứng ngoài dòng chảy của sự phát triển kinh tế
XHCN, hoạt động xuất nhập khẩu còn manh múm, chính vì vậy, chính sách
thương mại thời kỳ này chủ yếu là quản lý, điều chỉnh các quan hệ kinh tế
trong nước và giữa nước ta với các nước XHCN.
Xuất phát từ nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu và
mô hình kế hoạch hoá tập trung ảnh hưởng của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa,
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
7
độc quyền Nhà nước đối với ngoại thương đã trở thành quy phạm pháp luật
có tính bắt buộc. Điều này có thể thấy được thông qua các khía cạnh sau:
- Nhà nước độc quyền quản lý về ngoại thương
Mọi hoạt động ngoại thương đều tập trung vào Nhà nước, Bộ Ngoại
thương là cơ quan duy nhất thay mặt Nhà nước quản lý hoạt động ngoại
thương. Bộ Ngoại thương xây dựng kế hoạch xuất nhập khẩu và trực tiếp
phân bổ kế hoạch chó các doanh nghiệp được phép kinh doanh xuất nhập
khẩu, đồng thời Bộ trực tiếp điều tiết, quản lý hoạt động ngoại thương bằng
các chỉ tiêu pháp lệnh và thông qua hệ thống cấp giấy phép xuất nhập khẩu.
Vì vậy, Bộ Ngoại thương thay mặt Nhà nước trực tiếp kiểm tra, giám sát việc
thực hiện kế hoạch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Trong quá trình
thực hiện, nếu gặp khó khăn, vướng mắc, các doanh nghiệp phải báo cáo Bộ
và xin ý kiến chỉ đạo, không được tự ý sửa đổi kế hoạch.
- Nhà nước độc quyền kinh doanh ngoại thương
Các quan hệ thương mại, kinh tế giữa nước ta với các nước XHCN kế
khác đều mang tính chất Nhà nước và được thực hiện trên cơ sở các hiệp định
và Nghị định thư mà Chính phủ ta ký kết với chính phủ các nước XHCN.
Hoạt động kinh doanh ngoại thương do Nhà nước độc quyền, Bộ Ngoại
thương cho phép một số doanh nghiệp quốc doanh được phép kinh doanh
xuất nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài, các doanh nghiệp này chỉ được kinh
doanh những mặt hàng và ngành hàng được cho phép. Thực chất đây cũng là
Do hoạt động kinh doanh ngoại thương tập trung vào các doanh nghiệp
Nhà nước, tài sản phục vụ cho lưu thông và hàng hoá xuất nhập khẩu thuộc
quyền sở hữu của Nhà nước. Nhà nước thực hiện chế độ bao cấp trong kinh
doanh ngoại thương.
Trong một thời gian dài, nguyên tắc Nhà nước độc quyền ngoại thương
được mở rộng ra toàn bộ các lĩnh vực kinh tế đối ngoại và được ghi vào Hiến
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
9
pháp Việt Nam năm 1980: “Nhà nước độc quyền ngoại thương và các quan
hệ kinh tế đối ngoại” (Điều 21). Trong thời kỳ này, nền kinh tế nước ta được
thực hiện theo cơ chế quản lý tập trung, hoạt động ngoại thương được tập
trung vào tay Nhà nước. Bộ Ngoại thương có chức năng quản lý Nhà nước
(hoạch định chính sách, soạn thảo pháp luật, kiểm tra, giám sát các hoạt động
ngoại thương…) đồng thời có chức năng chỉ đạo các nghiệp vụ kinh doanh
(ấn định các danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu, thị trường, phương thức mua
bán, giá cả ) từ đó dẫn đến sự lẫn lộn giữa chức năng quản lý Nhà nước và
chức năng kinh doanh và quản lý kinh doanh.
Tuy nhiên, mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung chỉ có thể thực hiện
được trong điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội nhất định. Ngày nay, hệ
thống XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu tan vỡ, cùng với xu hướng quá
trình quốc tế hoá đời sống kinh tế – xã hội, Việt Nam cũng phải thực hiện
công cuộc đổi mới toàn diện, phát triển sản xuất hàng hoá với nền kinh tế
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, do đó chính sách thương
mại thời kỳ này với việc Nhà nước độc quyền ngoại thương không còn phù
hợp nữa. Chính vì thế, Nhà nước ta đã có chủ trương đổi mới về chính sách và
cơ chế quản lý đề ngày càng phù hợp hơn với xu thế tự do hoá thương mại
đang diễn ra mạnh mẽ trong khu vực và trên toàn thế giới.
1.2. Hoạt động ngoại thương trong thời kỳ 1976-1985:
khẩu cũng chỉ đảm bảo được 30,8% tổng số tiền nhập khẩu.
- Cán cân thương mại quốc tế luôn nghịch sai (nhập siêu) và nhập siêu
có xu hướng tăng.
Bảng 1: Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1976 -1985
Đơn vị: Triệu rúp – USD
Cán cân thương mại Năm Tổng
KNXNK
Xuất khẩu Nhập khẩu
Trị giá Tỉ lệ %
1976 1.226,8 222,7 1.004,1 -881,4 22,2
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
11
1977 1.540,9 322,5 1.218,4 -815,9 28,3
1978 1.630,0 326,8 1.303,2 -976,4 25,1
1979 1.846,6 320,,5 1.562,1 -120,5 21,0
1980 1.652,8 338,6 1.314,2 -975,6 25,8
1981 1.783,4 401,2 1.382,2 -981,0 29,0
1982 1.998,8 526,6 1.472,2 -945,6 35,8
1983 2.143,2 616,5 1.526,7 -910,2 40,4
1984 2.394,6 649,6 1.745,0 -1.095,4 37,2
1985 2.555,9 698,5 1.857,4 -1.158,9 37,6
Tổng số 18.773,0 4.423,5 14.349,5 -9.926,0 30,8
Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thương - 1997
Hầu hết các loại hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống đều phải
nhập khẩu toàn bộ hay một phần di sản xuất trong nước không đảm bảo.
Ngoài sắt thép, xăng dầu, máy móc thiết bị còn nhập khẩu cả hàng tiêu
dùng. Kể cả những loại hàng hoá lẽ ra sản xuất trong nước có thể đáp ứng
doanh nghiệp có vốn lưu động bằng tiền Việt Nam tương đương 200.000
USD (với doanh nghiệp lưu thông), có ưu tiên cho các doanh nghiệp ở các
tỉnh miền núi hoặc khó khăn về kinh tế (100.000 USD), thứ hai, phải có đội
ngũ cán bộ có đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán
ngoại thương thì được Bộ Thương mại cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập
khẩu, ngoài giấy đăng ký kinh doanh bình thường.
Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng được phép
tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu. Mặc dù thời kỳ này chưa có những cơ
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
13
chế khuyến khích xuất khẩu thích đáng. Các doanh nghiệp này chỉ được xuất
khẩu những sản phẩm hàng hoá do chính mình làm ra.
Việc xuất nhập khẩu do khu chế xuất thực hiện đã không được tính vào
kim ngạch xuất nhập khẩu chung của cả nước. Tuy những năm này, kim
ngạch xuất nhập khẩu của các khu chế xuất chưa đáng kể, nhưng theo thông
lệ ngoại thương quốc tế, kết quả xuất khẩu của khu vực này thuộc phạm vi
của xuất nhập khẩu.
Hoạt động gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài ngày
càng được phát triển. Riêng về gia công, hàng năm kim ngạch hàng gia công
của nước ta chiến không dưới 20% tổng kim ngạch, còn hoạt động đại lý cũng
đặt ra yêu cầu ngày càng bức xúc, song trong nhiều năm qua, các lĩnh vực
hoạt động này chưa có những quy chế điều hành một cách có hệ thống, nên
các doanh nghiệp cũng như các cấp quản lý còn nhiều lúng túng.
Bên cạnh những điểm tích cực, Nghị định 33/CP còn nhiều hạn chế và
trên thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu trong cơ chế thị trường đã dần dần
bộc lộ những tồn tại. Đó là quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh
nghiệp bị hạn chế bởi những yêu cầu mang nặng tính thủ tục. Việc cấp giấy
phép xuất nhập khẩu theo quy định trên tuy có mặt tích cực nhất định trong
doanh thương mại theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động
thương mại thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh và trở thành thương nhân.” (Điều 17 – Luật Thương mại)
Đối với thương nhân Việt Nam, xuất nhập khẩu hàng hoá kể cả xuất
nhập khẩu uỷ thác và uỷ thác xuất nhập khẩu, được thực hiện theo giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh (Điều 3 – Nghị định 57) không cần phải xin giấy
phép xuất nhập khẩu qua Bộ Thương mại nữa. Các chi nhánh công ty, công ty
cũng được xuất nhập khẩu hàng hoá thích hợp, theo uỷ quyền của tổng giám
đốc, giám đốc doanh nghiệp. Những hàng hoá cấm xuất nhập khẩu hoặc xuất
nhập khẩu có điều kiện sẽ do Chính phủ trực tiếp phê duyệt hoặc uỷ quyền
cho các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong trường hợp cần thiết, Chính phủ
có thể quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu với một thị trường hoặc
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
15
với một số mặt hàng nhất định để thực hiện quyền tự vệ theo pháp luật và
thông lệ quốc tế.
Mọi thương nhân kinh doanh cùng ngành hàng đều được phép thành lập
hội liên hiệp hội ngành hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy chế của Bộ
Thương mại.
Mọi thương nhân Việt Nam được phép nhận gia công cho thương nhân
nước ngoài, không hạn chế số lượng, chủng loại; những mặt hàng cấm xuất
khẩu, nhập khẩu hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu được điều chỉnh thông
qua Bộ Thương mại, đồng thời được quyền gia công ở nước ngoài các loại
hàng hoá đã được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam để kinh doanh
theo quy định của pháp luật.
Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp được
phép xuất khẩu, tiêu thụ những sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoặc
không do doanh nghiệp sản xuất theo quy định của giấy phép đầu tư, trên tinh
châu Á. Trong khi đó, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta với nhiều
nước trong khu vực lại tương đồng, các nước này chỉ nhập khẩu hàng hoá của
nước ta ở dạng thô để chế biến và tái xuất đi các thị trường khác nên hiệu quả
xuất khẩu của nước ta rất thấp. Mặt khác, nhập khẩu của nước ta từ các nước
này chưa phải là các công nghệ nguồn nên ảnh hưởng của nhập khẩu đến biến
đổi cơ cấu kinh tế còn rất hạn chế.
Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta kiên trì đường lối đa dạng
hoá và đa phương hoá thị trường, tìm cách để doanh nghiệp Việt Nam có thể
thâm nhập vào thị trường tiềm năng ở các khu vực địa lý khác nhau. Bên cạnh
việc tiếp tục khôi phục các thị trường truyền thống, Nhà nước đã quan tâm
đặc biệt đến các thị trường không đòi hỏi hạn ngạch và những thị trường ít
chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua.
Nhà nước tăng cường vai trò của hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước
ngoài; ngoài việc cung cấp thông tin thường xuyên còn được giao nhiệm vụ
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
17
tìm kiếm thị trường, kể cả việc đăng ký chỉ tiêu xuất khẩu vào thị trường để
trực tiếp giúp các doanh nghiệp xuất khẩu.
Những năm cuối của thập kỷ 90, nước ta đã tích cực nối lại các mối quan
hệ hợp tác toàn diện với các nước XHCN trước đây, đồng thời thúc đẩy việc
mở rộng thị trường sang các thị trường quan trọng như EU, Nhật, ASEAN…
Đặc biệt là việc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã mở
ra một thị trường đầy tiềm năng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Về chính sách mặt hàng: Nhà nước bắt đầu chú ý đến việc xây dựng các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực, tạo mọi điều kiện đẩy mạnh sản xuất và xuất
khẩu tối đa các mặt hàng chủ lực như dầu thô, dệt may, thuỷ sản, gạo, cà phê,
giày dép, cao su, hạt điều, than đá, thủ công mỹ nghệ; đồng thời khuyến khích
mở rộng thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới như rau, hoa quả, thịt,
một mặt củng cố vị thế ở các thị trường truyền thống, mặt khác rất quan trọng
là để tiếp cận và mở rộng xuất khẩu vào các thị trường không hạn ngạch và
các thị trường mới cũng có những lợi thế so sánh.
- Loại có thị trường tiêu thụ nhưng năng lực sản xuất trong nước có hạn
như gạo, dầu thô, cà phê…sẽ được tăng cường chính sách tiếp thị để nắm
chắc giá cả trong nước và trên thế giới, đồng thời nghiên cứu chính sách đầu
tư chế biến linh hoạt để tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm qua chế biến, thu lại
giá trị xuất khẩu cao hơn.
- Loại có năng lực sản xuất trong nước dồi dào nhưng còn thiếu “đầu ra”
do chưa tìm thấy thị trường hoặc do chủng loại, chất lượng chưa phù hợp
hoặc do phương thức thanh toán còn khó khăn, như lạc, dệt may, giày dép,
thuỷ hải sản, thịt chế biến, rau quả… sẽ cố gắng tìm thị trường, đổi mới công
nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và tăng cường đàm phán ở các
cấp có thẩm quyền để cải thiện các thủ tục thanh toán hoặc áp dụng rộng hình
thức hàng đổi hàng…
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
19
Chính sách khuyến khích mở rộng thị trường và mặt hàng được ban
hành: Quyết định 746/QĐ-TTg ngày 24/08/1998 về lập quỹ thưởng xuất
khẩu. Theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Thương mại, doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thành tích xuất khẩu xuất sắc, hiệu
quả cao, đều được xét khen thưởng. Các tiêu chuẩn cụ thể để xét khen thưởng
được quy định cho các doanh nghiệp lần đầu tiên xuất khẩu những sản phẩm
sản xuất trong nước hoặc xuất sang các thị trường hoàn toàn mới mà có hiệu
quả; các doanh nghiệp mở rộng được thị trường truyền thống hoặc thị trường
mới với những mặt hàng thuộc danh mục hàng hoá khuyến khích xuất khẩu,
có hiệu quả, với tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trên 20%/năm; các
mặt hàng xuất khẩu đạt chất lượng cao được quốc tế công nhận; các doanh
pháp hành chính khác; dùng thuế làm công cụ chính để điều tiết xuất nhập
khẩu. Thuế suất được xây dựng tuỳ thuộc vào mức độ khuyến khích hay hạn
chế xuất nhập khẩu, vào mức chênh lệch giữa giá cả quốc tế với giá cả trong
nước. Thực hiện chính sách bảo hộ hợp lý đối với sản xuất trong nước. Quy
chế ban hành thuế suất được thay đổi để có thể điều chỉnh kịp thời theo những
biến động của thị trường. Công tác hải quan cũng được tăng cường, phối hợp
với các Bộ ngành và với các nước có chung biên giới để chống buôn lậu, áp
dụng biện pháp truy thu thuế đối với hàng ngoại trốn thuế nhập khẩu lưu
thông trong nội địa.
Về chính sách cụ thể nhằm đổi mới và thúc đẩy hoạt động xuất nhập
khẩu, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VI có nêu rõ: “Sửa đổi thủ tục cấp giấy phép xuất, nhập khẩu, tạo điều kiện
cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu được thuân lợi, kịp thời.
Nhà nước thu thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng có hiệu suất thu
ngoại tệ cao và có chính sách trợ giá đối với một số mặt hàng khác…
Ban hành chính sách thuế đối với hàng nhập khẩu theo hướng khuyến
khích nhập khẩu nguyên liệu, phụ tùng thiết bị, hạn chế việc nhập hàng tiêu
dùng xa xỉ và những mặt hàng trong nước đã sản xuất được”.
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
21
Đối với thuế xuất nhập khẩu, ở Việt Nam từ năm 1979 với mười mức
thuế suất đối với 12 mặt hàng xuất khẩu và 28 mức thuế suất đối với mặt hàng
nhập khẩu hình thành nên một hệ thống thuế xuất nhập khẩu phức tạp, khó
quản lý về mặt vĩ mô.
Luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam được ban hành vào năm 1987 và
đã sửa đổi hoàn thiện 3 lần vào các năm 1991,1993 và 1998. Nhưng thực chất
Luật thuế ban hành năm 1987 đã được thay thế gần như toàn bộ bằng Luật
thuế năm 1991 với lý do quan hệ thương mại của thời điểm này khác hoàn
số 5469/KHTH ngày 29/09/1995), Tổng cục Thống kê cùng với Tổng cục Hải
quan và Tổng cục Thuế hoàn thiện bảng danh mục ở cấp mã 8 chữ số. Ngày
26/12/1995, Tổng cục Thống kê đã ban hành “Danh mục hàng hoá xuất nhập
khẩu Việt Nam” phân loại chi tiết đến cấp mã 8 chữ số theo Quyết định
324/TCTK-QĐ và được áp dụng kể từ ngày 01/01/1996. Nghị định này quy
định cụ thể về việc ban hành Danh mục hàng hoá của Việt Nam. Mức thuế
suất giảm dần đối với phần lớn hàng hoá tham gia chương trình CEPT.
Danh mục các mặt hàng thực hiện giảm thuế theo CEPT, gồm danh mục
giảm thuế (IL), danh mục loại trừ tạm thời (TEL), danh mục nhạy cảm (SL)
và danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL).
- Các mặt hàng thuộc danh mục IL bắt đầu cắt giảm thuế từ 01/01/1996
và kết thúc với mức thuế suất 0-5% vào ngày 01/01/2001 đối với các mặt
hàng đang có thuế suất ≤ 20%, các mặt hàng có thuế suất > 20% phải giảm
xuống 20% vào 01/01/2001 sẽ phải giảm xuống 0-5% vào ngày 01/01/2003.
- Các mặt hàng thuộc danh mục TEL được chuyển sang IL trong vòng 5
năm kể từ ngày 01/01/1999 đến 01/01/2004 và thực hiện cắt giảm để đạt mức
thuế suất 0-5% vào năm 2006. Mỗi năm phải đưa 20% số mặt hàng từ TEL
sang danh mục IL.
- Các mặt hàng thuộc danh mục SL bắt đầu cắt giảm thuế từ 01/01/2004
và kết thúc vào năm 2013 với mức thuế suất cuối cùng là 0-5%.
Do nước ta có số lượng lớn hàng hoá có mức thuế suất từ 0-5% so với
các nước ASEAN nên từ tháng 12/1995 Việt Nam đã đệ trình cho ASEAN
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
23
danh mục hàng hoá thuộc diện cắt giảm thuế quan đầu tiên bao gồm 1633 mặt
hàng. Những mặt hàng được đưa vào danh mục này chủ yếu có mức thuế
quan thấp. Các năm 1996, 1997 đã đưa thêm các mặt hàng vào Danh sách cắt
giảm thuế nhưng vẫn chủ yếu là các mặt hàng sẵn có mức thuế quan thấp.
. Hàng hoá bán phá giá
. Hàng được nước xuất khẩu trợ cấp làm cho giá hàng nhập khẩu thấp
hơn giá của hàng cùng loại bán trong nước.
. Hàng nhập khẩu từ các nước có chính sách đặc biệt đối xử hàng nhập
khẩu có xuất xứ từ Việt Nam.
So trước, hệ thống thuế xuất nhập khẩu Việt Nam được đơn giản hoá qua
các năm thể hiện qua số lượng thuế suất giảm từ 38 mức năm 1995 xuống còn
26 mức năm 1996, 19 mức năm 1999 và năm 2000 còn 15 mức cơ bản. Mức
thuế suất cao nhất giảm từ 200% năm 1995 xuống còn 60% năm 1999. Mức
thuế trung bình tăng từ 12,8% năm 1995 lên 15,9% nhưng độ chênh lệch
chuẩn tính theo tỷ lệ của thuế suất trung bình giảm từ 131% năm 1995 xuống
117% năm 1999.
Biểu thuế xuất khẩu gồm 175 dòng, các mặt hàng xuất khẩu trong mục
thuế xuất khẩu thuộc 17 nhóm khác nhau. Mức thuế xuất khẩu cao đối với
mặt hàng nguyên liệu thô, sơ chế và mức thuế thấp đối với mặt hàng sử dụng
nhiều lao động, chế biến sâu. Chẳng hạn, mức thuế xuất khẩu đối với mặt
hàng gỗ: 20% đối với gỗ cây, 15% đối với gỗ cột.
Ngoài biểu thuế xuất khẩu và nhập khẩu, nước ta còn dùng biện pháp
phụ thu đánh vào một số mặt hàng xuất nhập khẩu như xăng dầu, một số loại
sắt thép, phân bón, cà phê, điều thô và cao su. Chế độ phụ thu lúc thì áp dụng,
lúc thì bỏ và mức phụ thu cũng thường xuyên thay đổi.
Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần
đây
Đỗ Thuý Hằng – P2-K38E
25
2.4. Nhà nước tiến hành nới lỏng kiểm soát hành chính đối với hoạt
động xuất nhập khẩu và các biện pháp hạn chế số lượng.
Với sự đổi mới tư duy của Đảng và Nhà nước, thực hiện mở cửa nền
kinh tế trong đó có hoạt động ngoại thương, Chính phủ đã ban hành nhiều
chính sách khác nhau tạo điều kiện vừa thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu