Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến hoạt động ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây - Pdf 63

Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến
hoạt động ngoại thơng Việt Nam trong những
năm gần đây
I. vàI nét về hoạt động xnk của Việt Nam từ 1996 đến nay
Công cuộc đổi mới quản lý kinh tế ở nớc ta trong hơn 15 năm qua đã giành
đợc những thắng lợi có tính chiến lợc, tạo tiền đề và điều kiện để nớc ta hội nhập
với các nền kinh tế khu vực và thế giới. Tổng thu nhập quốc dân hàng năm tăng từ
7%-8%, riêng năm 2003, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt nam
là một trong hai nền kinh tế tăng trởng nhanh nhất thế giới (sau Trung Quốc) với
mức tăng tơng ứng là 7%; lạm phát đợc kiểm soát, năm 1996 lạm phát là 4,5%,
giá cả ổn định, năm 2000 lạm phát là -1,7%. Riêng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
đã có những bớc tiến quan trọng.
1. Về xuất khẩu.
1.1. Xuất khẩu hàng hoá
Trong những năm gần đây, chúng ta đẩy nhanh các hoạt động kinh tế đối
ngoại với các nớc ASEAN, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, mở rộng đợc thị trờng ra
các khu vực, có những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, kim ngạch xuất khẩu năm sau
tăng nhanh hơn năm trớc. Từ năm 1996 đến năm 2002 tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu bình quân đạt 15,03%, riêng 9 tháng đầu năm 2003 ớc tính đạt trên 14,9 tỷ
USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trớc.
Bảng 4: Kim ngạch XNK của Việt Nam từ 1996 đến nay
Đơn vị: Triệu USD
Năm Tổng xuất nhập khẩu Xuất khẩu Nhập khẩu
1996 6.904 2.985 3.924
1997 8.100 3.600 4.500
1998 11.800 5.300 6.500
1999 18.399 7.255 11.144
2000 21.011 9.268 11.742
2001 20.500 14.455 15.639
2002 34.327 15.027 19.300
9 tháng đầu

37,3%; sản phẩm gỗ tăng 38,6%; dây điện và dây cáp điện tăng 57,7%; xe đạp và
phụ tùng xe đạp tăng 28,6%; hạt điều tăng 32,3% (lợng tăng 34,7%). Riêng mặt
hàng rau quả giảm 24,2% và chè giảm 40,4% so với cùng kỳ năm trớc.
Về thị trờng xuất khẩu, trong những năm gần đây, chúng ta tăng cờng quan
hệ giao lu buôn bán với các nớc ASEAN, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, bớc đầu mở
cửa sang các thị trờng mới, trong đó có Mỹ.
Tỷ trọng xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các
nớc châu á liên tục giảm qua các năm: 70,9% năm 1996; 63,8% năm 1997;
61,3% năm 1998; 55,1% năm 1999. Năm 2000 có tăng nhng với tỷ lệ không đáng
kể và chiếm 57,2%.
Xuất khẩu của nớc ta sang châu Âu liên tục tăng từ 15,4% năm 1996; 22,7%
năm 1997; 27,7% năm 1998 và đạt 28,1% năm 1999; năm 2000 giảm xuống còn
24,5%. Trong đó EU chiếm vị trí rất quan trọng trong cơ cấu thị trờng xuất khẩu
của Việt Nam, chúng ta cũng bắt đầu nối lại quan hệ buôn bán với các nớc trong
khối SEV nhng kim ngạch xuất khẩu cha lớn.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ đã tăng dần. Năm 1997 hàng
xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng Mỹ đạt 273 triệu USD, năm 2000 đạt
388,189 triệu USD; năm 2001 đạt 553,408 triệu USD, năm 2002 đạt 2394 triệu
USD.
Với chính sách kinh tế mở, mở rộng mối quan hệ đa phơng và song phơng,
Việt Nam đã dần hội nhập với nền kinh tế thế giới. Thị trờng xuất khẩu của Việt
Nam đợc mở rộng hơn, nhất là thị trờng EU, Bắc Mỹ, thị trờng Trung Cận Đông
và nhiều khu vực khác mà hàng hoá Việt Nam trở thành đối thủ cạnh tranh.
1.2. Xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một chiến lợc phát triển đợc Đảng và Nhà nớc ta hết
sức coi trọng, vì nó không những góp phần giải quyết vấn đề việc làm, thu hút
thêm nhiều ngoại tệ về cho đất nớc mà qua thời gian làm việc ở nớc ngoài, ý thức
làm việc, tay nghề và trình độ quản lý của ngời lao động đợc nâng cao từ đó nâng
cao khả năng sản xuất và chất lợng sản phẩm. Trong những năm qua, áp dụng nền
kinh tế mở, từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà n-

2000 31.468
2001 37.000
Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nớc
Trong số 160 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, m-
ời doanh nghiệp có số lợng lao động xuất khẩu đợc lên tới con số hàng nghìn
(Xem Bảng 6).
Tính đến tháng 8/2003, chúng ta đã xuất khẩu đợc khoảng gần 200.000 lao
động đi làm việc ở nớc ngoài, với thời hạn thông thờng là 02 năm và mức thu
nhập ròng (thu nhập sau khi trừ đi các loại chi phí) khoảng 350 USD/tháng. Nh
vậy, trong những năm qua số lợng lao động đi làm việc ở nớc ngoài đã đem về cho
đất một nguồn ngoại tệ đáng kể, hơn 1,47 tỷ USD.
Hơn nữa, nhờ tạo đợc công ăn việc làm cho một số lợng lớn lao động ở nớc
ngoài, đã giảm bớt đợc gánh nặng tạo công ăn việc trong nớc, nhất là Nhà nớc có
thể tiết kiệm đợc khoảng 800 tỷ đồng đầu t tạo việc làm mới cho lao động này
(mức đầu t bình quân cho mỗi chỗ làm việc là 5 triệu đồng) và hàng ngàn tỷ đồng
khác liên quan đến các dịch vụ cho ngời lao động.
Bảng 6: Tổng hợp số lao động theo Công ty Việt Nam 1999-01/2002
STT Công ty Việt Nam 1999 2000 2001 2002 Tổng số
lao động
1
viettracimex
647 3029 1811 1367 6854
2
Traenco
- 1111 994 927 3032
3
lod
147 871 225 286 1522
4
tracimexco

Nhng trên thực tế ở ta ít chú trọng tới xuất khẩu dịch vụ, thậm chí không có
số liệu thống kê một cách có hệ thống. Tuy nhiên qua tổng hợp số liệu của các
ngành, có thể sơ bộ ớc tính thơng mại dịch vụ hai chiều của Việt Nam năm 2003
đạt 3,2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 2,0 tỷ USD và nhập khẩu đạt 1,2 tỷ USD.
2. Về nhập khẩu.
Tốc độ tăng trởng nhập khẩu hàng năm nh sau: (xem Bảng 3)
- Năm 1997 nhập khẩu tăng 14,67 % so với năm 1996.
- Năm 1998 nhập khẩu tăng 44,44% so với năm 1997.
- Năm 1999 nhập khẩu tăng 71,45% so với năm 1998.
- Năm 2000 nhập khẩu tăng 5,37% so với năm 1999.
- Năm 2001 nhập khẩu giảm 0,05% so với năm 2000.
- Năm 2002 nhập khẩu tăng 23,4% so với năm 2001.
- 9 tháng đầu năm 2003 ớc tính đạt gần 18 tỷ USD, tăng 29,9% so với cùng
kỳ năm 2002.
Cơ cấu hàng nhập khẩu thay đổi, tỷ trọng nhập khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị
lẻ đợc nâng cao, năm 1997 là 36% tăng 10,5% so với năm 1996, năm 2002 tăng
35% so với năm 2001. Trớc năm 1996 việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ
để phục vụ Nhà máy thủy điện Hoà Bình, hệ thống đờng dây tải điện 500 KV và
nhiều nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng , hiện nay việc nhập khẩu máy móc
thiết bị còn để mở rộng các ngành công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, công
nghiệp dệt, may
Hàng nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất - những mặt hàng trong nớc
cha sản xuất đợc hay sản xuất cha đủ - đợc nhập khẩu tăng lên rất nhanh từ 57,8%
năm 1995 lên 69% năm 1996, năm 1997,1998 đạt khoảng 63,3% và năm 2000 đạt
68%, 9 tháng đầu năm 2003 tăng 31,6% so với cùng kỳ năm trớc và chiếm tới
93,7% kim ngạch nhập khẩu, cơ bản đáp ứng nhu cầu trong nớc nh:
- Sắt thép: năm 1997 nhập khẩu 700 nghìn tấn và 500 nghìn tấn phôi thép,
năm 1998 nhập khẩu 1.900 nghìn tấn, năm 1999 nhập khẩu 2.800 nghìn tấn, năm
2000 nhập khẩu 2.700 nghìn tấn, năm 2001 nhập khẩu 2.867 nghìn tấn, năm 2002
nhập khẩu 4975nghìn tấn, 9 tháng đầu năm 2003 nhập khẩu 3.137 nghìn tấn tăng

tấn
Xăng
dầu
Nghìn
tấn
5.800 6.600 7.300 7.400 8.600 8.777 9.864 6.724
Xi
măng
Nghìn
tấn
1.301 850 200
Xe máy Nghìn
cái
250 350 509 1.581 1.691 1.807
Đờng Nghìn
tấn
15,9
Phân
urê
Nghìn
tấn
1.467 1.500 1.600 1.950 2.023 2.108 2476 1289
Nguồn: Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê năm 2001
Báo cáo Bộ Thơng mại
Cơ cấu thị trờng nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này có nhiều thay
đổi, quan trọng nhất vẫn là thị trờng châu á, năm 1995 châu á chiếm khoảng
70% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, năm 2000 tăng lên chiếm 80%.
Đối với các nớc ASEAN, năm 1997, Việt Nam nhập khẩu từ các nớc ASEAN là
3,15 tỷ USD chiếm 28,3% tổng giá trị nhập khẩu từ các nớc, trong đó nhập khẩu
từ Xingapo 2.075 triệu USD chiếm 23,7% tổng giá trị nhập khẩu tính cho tất cả

đã góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Việt Nam, thúc đẩy sản xuất phát
triển, đáp ứng nhu cầu hàng hoá tiêu dùng trong cả nớc, tốc độ tăng bình quân của
kim ngạch nhập khẩu là 12,95%. Mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là
máy móc thiết bị, chiếm hơn 80% trong kim ngạch nhập khẩu, phần còn lại là
hàng tiêu dùng.
Bên cạnh các kết quả đã đạt đợc còn có một số mặt tồn tại chủ yếu sau:
- Kim ngạch xuất khẩu năm 1996 ở mức xấp xỉ 33% GDP và mới đạt 95
USD/ngời/năm, bằng 55% số chỉ báo 170 USD/ngời/năm- chỉ số đã đợc các quốc
gia thừa nhận là chỉ tiêu của một nớc có nền ngoại thơng tơng đối phát triển, năm
1997,1998 mới đạt xấp xỉ 121 USD/ngời/năm, bằng 70%.
- Mặc dù cơ cấu hàng xuất khẩu có chuyển dịch tích cực theo hớng tăng dần
tỷ trọng hàng chế biến và hàng chế biến sâu nhng cho tới nay xuất khẩu hàng thô
và sơ chế vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 50%-60% tổng kim ngạch.
- Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài bắt đầu
có tốc độ tăng đáng kể. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp này
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc còn thấp, năm 1997 mới đạt 16,8%,
năm 1998 đạt 18-20%, năm 1999 đạt 39%, năm 2001 đạt 45,1%.
- Về cơ cấu thị trờng, tuy bớc đầu đã có sự chuyển biến tích cực, hàng nhập
khẩu của Việt Nam đã vơn tới tất cả các châu lục trên thế giới nhng cơ cấu thị tr-
ờng còn chậm đợc hoàn thiện. Thị trờng châu á vẫn còn chiếm tỷ lệ cao(58,4%
năm 2001, 51,9% năm 2002 giá trị xuất khẩu), thị trờng các châu lục khác còn
nhỏ bé. Điều bất lợi hiện nay trong cơ cấu thị trờng còn thể hiện ở chỗ: hàng xuất
khẩu của Việt Nam vào các nớc trung gian vẫn chiếm tỷ lệ cao, dẫn đến hiệu quả
xuất khẩu thấp, hàng nhập khẩu từ các khu vực có nền công nghiệp nguồn cha
nhiều, do đó sự đổi mới công nghệ trong sản xuất hàng hoá nói chung, hàng xuất
khẩu nói riêng diễn ra còn chậm, ảnh hởng đến sức cạnh tranh trên thị trờng quốc
tế.
Tuy nhiên, nhìn chung, về cơ bản chúng ta đã hoàn thành các chỉ tiêu mà
Đảng và Nhà nớc đề ra đối với hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 1996-2000,
góp phần phục vụ quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, tạo đợc những

doanh nghiệp t nhân vừa và nhỏ tham gia vào sản xuất kinh doang hàng xuất
khẩu. Năm 1981 chỉ có 12 doanh nghiệp đợc phép kinh doanh xuất nhập khẩu,
đến 1987 con số này là 35 doanh nghiệp và năm 1996 tăng lên 1400 doanh
nghiệp. Nhờ việc số lợng các doanh nghiệp đợc tham gia kinh doanh xuất nhập
khẩu tăng lên, đồng thời phạm vi mặt hàng đợc phép sản xuất, kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp cũng đợc mở rộng và đa dạng đã làm cho giá trị xuất khẩu của
níc ta giai ®o¹n 1986-1995 kh«ng ngõng t¨ng lªn vµ ®¹t ®îc tèc ®é cao, liªn tôc
qua c¸c n¨m.
Bảng 8: Xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 1986-1995
Đơn vị: Triệu USD
Năm Tổng kim
ngạch XNK
Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thơng mại
Trị giá Tỷ lệ %
1986 2.944,2 789,1 2.155,1 -1.366,0 33,6%
1987 3.309,3 854,2 2.455,1 -1.600,9 34,8%
1988 3.795,1 1.038,4 2.756,7 -1.718,3 37,6%
1989 4.511,8 1.946,0 2.565,8 -619,8 75,8%
1990 5.156,4 2.404,0 2.752,4 -348,4 87,3%
Cộng 86-90 19.716,8 7.031,7 12.685,1 -5.653,4 55,4%
1991 4.425,2 2.087,1 2.338,1 -251,0 89,3%
1992 5.121,4 2.580,7 2.540,7 +40,0 101,5%
1993 6.909,2 2.985,2 3.924,0 -978,8 76,0%
1994 9.880,1 4.054,3 5.825,8 -1.771,5 69,6%
1995 13.604,2 5.448,9 8.155,4 -2.706,5 66,8%
Cộng 91-95 18.399,8 17.156,2 22.784,0 -5.627,8 75,3%
Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thơng 1997, trang 99
Tỷ lệ tăng trởng bình quân trong 10 năm của xuất khẩu vẫn cao hơn tỷ lệ
tăng của tổng kim ngạch buôn bán hai chiều và của nhập khẩu. Trong khi tỷ lệ
tăng bình quân của xuất khẩu trong 10 năm là 23,9%/năm, thì của xuất khẩu công

5. Châu úc, châu
Đại Dơng
3.607 9.688 7.701 10.649 56.909 103.912
6. Các tổ chức
LHQ
355 31.154 1.781 23.971 539 21.588
7. Các tổ chức
quốc tế khác
- 11.577 - 1.316 - 2.912
8. Khu chế xuất - - - 225 2.625
9. Trị giá không
phân tổ chức
145.95
0
163.326 118.769 88.403 187.091 424.990
Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thơng mại
Giáo trình Kinh tế ngoại thơng 1997, trang 103
Các nớc thuộc châu á tăng dần trong xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam.
Châu á chiếm 22,6% tổng giá trị xuất khẩu va 10,6% tổng giá trị nhập khẩu của
Việt Nam trong năm 1986 thì năm 1995 tỷ lệ tơng ứng là 72,4% và 77,5%. Ngợc
lại buôn bán với châu Âu, đặc biệt với Nga và Đông Âu giảm dần. Năm 1995
châu Âu chỉ chiếm 18% tổng giá trị xuất khẩu và hơn 13% giá trị nhập khẩu của
Việt Nam.
- Sự chuyển hớng thị trờng so với trớc đây đã tạo tiền đề cho nớc ta thực
hiện đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu.
Trớc đây, khi buôn bán với các nớc trong khối SEV, hoạt động XNK mang
tính thụ động theo các Hiệp định và Nghị định đã ký kết giữa Chính phủ ta với các
nớc, các mặt hàng XNK đợc quy định theo các cân đối đôi bên, nên nhiều lợi thế
về tài nguyên thiên nhiên và con ngời của Việt Nam cha đợc khai thác. Từ khi
chuyển sang buôn bán với các nớc thuộc khu vực t bản chủ nghĩa, các tiềm năng

Sản phẩm nhóm 3 2,5 2,4 2,5 1,8 0,8
*Giai đoạn 1991-1995
Tỷ trọng xuất 1991 1992 1993 1994 1995
Sản phẩm nhóm 1 84,4 76,7 74,1 70,1 65,0
Sản phẩm nhóm 2 13,1 21,9 25,0 27,2 30,0
Sản phẩm nhóm 3 2,1 1,4 0,9 2,7 5,0
Nguồn: Vụ XNK- Bộ Thơng mại
Trong đó:
Sản phẩm nhóm 1 bao gồm: lơng thực thực phẩm, đồ hút đồ uống, nguyên
nhiên vật liệu thô và khoáng sản
Sản phẩm nhóm 2 bao gồm: sản phẩm công nghiệp chế biến
Sản phẩm nhóm 3 bao gồm: sản phẩm hoá chất, máy móc thiết bị và phơng
tiện vận tải
Trong giai đoạn này đã sớm chú ý đến việc xây dựng các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực nh dầu thô, dệt may, thuỷ sản, gạo, giày dép .
Bảng 12: Mời mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong
những năm 1991-1995
S
T
T
Mặt hàng
1991 1992 1993 1994 1995
Triệu
USD
% Triệu
USD
% Triệu
USD
% Triệu
USD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status