1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Những bất đồng trong thương
mại giữa các nước phát triển và
đang phát triển trong khuôn khổ
WTO
2
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu
1
Chương 1: Tổng quan về thương mại quốc tế và
Tổ chức Thương mại thế giới
2
1.1 Tổng quan về thương mại quốc tế 2
1.1.1 Những nét chính trong thương mại quốc tế 2
1.1.2 Thương mại hàng hoá 6
1.1.3 Thương mại dịch vụ 9
1.2 Tổng quan về Tổ chức Thương mại Thế giới 11
1.2.1 Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới và những
nguyên tắc của hệ thống thương mại quốc tế
11
1.2.2 Các hiệp định trong khuôn khổ WTO 17
1.2.2.1 Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) 17
70
3.2 Xu hướng giải quyết tranh chấp
đối với sản phẩm phi nông nghiệp
75
3.2.1 Những nỗ lực của WTO trong việc giải quyết những mâu
thuẫn về sản phẩm phi nông nghiệp
76
3.2.2 Một số đề xuất trên quan điểm
của các nước đang phát triển
77
3.3 Xu hướng giải quyết những mâu thuẫn
trong thương mại dịch vụ
79
3.3.1 Những nỗ lực của WTO nhằm giải quyết những mâu
thuẫn trong thương mại dịch vụ
80
3.3.2 Một số đề xuất trên quan điểm
của các nước đang phát triển
81
4
3.4 Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập WTO 83 5
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, ngày càng có
nhiều quốc gia nhận thức được những lợi ích do mở cửa, hội nhập kinh tế
mang lại, do đó, tham gia ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Những năm gần đây, thương mại thế giới, cả thương mại hàng hoá và
định. Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm trong giai đoạn 1990-1998 đạt 2%,
của xuất khẩu hàng hoá là 6%, nhập khẩu hàng hoá là 5,9%. Thương mại
dịch vụ cũng tăng trưởng mạnh với mức tăng xuất khẩu bình quân hàng năm
trong cùng thời kỳ là 7%, nhập khẩu là 6%.
Bảng 1: Giá trị xuất khẩu thương mại thế giới
giai đoạn 1998-2002
(Đơn vị: tỉ USD và %)
1997 1998 1999 2000 2001 2002
Giá trị xuất khẩu 6697 6590 6800 7634 7602 7840
Mức tăng hàng năm -2 3 12 -1 3
Nguồn: Báo cáo thường niên WTO 1999-2002
Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, kinh tế thế giới nói chung
và thương mại nói riêng bị ảnh hưởng nặng nề. Trong năm 1998, giá trị xuất
7
khẩu của thế giới giảm 2%. Sản lượng và tăng trưởng thương mại toàn cầu
giảm mạnh do nhập khẩu của Nhật Bản và Đông á giảm lần đầu tiên kể từ
năm 1974 (khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất). Tất cả các khu vực và các
nhóm sản phẩm đều bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái. Lần đầu tiên trong hơn
một thập kỷ, thị phần của các nước đang phát triển bị giảm xuống. Gần hai
phần ba các nước trên thế giới ghi nhận sự suy giảm trong thu nhập xuất
khẩu, là tình trạng tồi tệ nhất kể từ năm 1990.
Sự tăng trưởng sản lượng toàn cầu trong năm 1999 đã giúp đảo ngược
chiều hướng suy thoái của thương mại trong 6 tháng đầu năm và khiến
thương mại toàn cầu tăng nhanh trong 6 tháng cuối năm. Giá trị xuất khẩu
tăng 3% so với mức –2% năm 1998. Nhân tố chính góp phần vào sự phục
hồi này là tốc độ tăng cầu mạnh ở Bắc Mỹ và sự khôi phục kinh tế của các
nước châu Á sau khủng hoảng. Sự tăng trưởng kinh tế trong năm 1999 có
một ảnh hưởng tích cực tới các nước đang phát triển, những nước có tốc độ
hướng phát triển từ năm 1998 đến năm 2001, khi nhập khẩu của Mỹ và Tây
Âu vẫn tiếp tục tăng, bất chấp xuất khẩu giảm đáng kể, do sự phục hồi kinh
tế của các nước châu Á, xuất khẩu và nhập khẩu của các nước này hầu như
cùng suy giảm kể từ mùa thu năm 2000. Nhập khẩu của Nhật Bản bắt đầu
giảm muộn hơn song giảm với tốc độ bằng tốc độ giảm của Mỹ trong 6
tháng cuối năm 2001.
9
Nguyên nhân chính khiến kinh tế trong năm 1999 suy giảm mạnh hơn dự
đoán là sự bùng nổ của bong bóng công nghệ thông tin toàn cầu, sự trì trệ
trong nền kinh tế Tây Âu và, ở một mức độ nào đó, sự kiện ngày 11/9.
Sự bùng nổ của bong bóng công nghệ thông tin khiến đầu tư vào công
nghệ thông tin giảm, làm giảm tổng vốn đầu tư của các nước phát triển. Vốn
đầu tư vào công nghệ thông tin giảm cùng với sự chững lại trong tiêu dùng
cá nhân về các sản phẩm công nghệ thông tin khiến thương mại quốc tế về
thiết bị viễn thông và văn phòng bị thu hẹp, ảnh hưởng lớn đến các nước
châu Á. Sản lượng của một số nước đã giảm xuống mức thấp nhất trong 30
năm qua.
Sự trì trệ trong nền kinh tế Tây Âu, khu vực chiếm 1/3 thương mại thế
giới, phần lớn do những nhân tố chủ quan. Cầu nội địa của khu vực sử dụng
đồng euro thậm chí còn yếu hơn Mỹ trong năm 2001 và xuất khẩu của Mỹ
sang châu Âu giảm còn mạnh hơn so với nhập khẩu của nước này từ Tây
Âu.
Sự kiện ngày 11/9 đã làm xói mòn thêm nhu cầu vốn đã yếu của cá nhân
và doanh nghiệp, làm giảm tạm thời giá cổ phiếu, giảm nhập khẩu hàng hoá
của Mỹ trong ngắn hạn và giảm vận tải hàng không trong quý IV. Hậu quả
nghiêm trọng nhất của sự kiện ngày 11/9 đối với thương mại là ảnh hưởng
tiêu cực của nó lên ngành hàng không và những ngành du lịch phụ thuộc vào
hàng không. Các nước vùng Caribê, những nước có hơn 1/3 thu nhập ngoại
tệ từ ngành du lịch, là những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất do cuộc tấn
Nguồn: Báo cáo thường niên WTO 1999-2002 (1)
Thống kê thương mại thế giới- WTO-2003
(2) 6 tháng đầu năm
(3)
11
Xu hướng tăng trưởng trong thương mại hàng hoá bị gián đoạn ở năm
1998, tốc độ tăng trưởng giảm 2% sau khi tăng ở mức 10,5% so với năm
1997. Giá trị xuất khẩu nông sản, quặng và khoáng chất giảm gần 10%, xuất
khẩu nhiên liệu giảm 25%, mức giảm kỉ lục kể từ năm 1986. Tuy nhiên, giá
trị thương mại của ngành sản xuất ô tô tăng gần 6%, là ngành duy nhất có
doanh số tăng trong năm 1998. Tốc độ tăng xuất khẩu của tất cả các khu vực
đều chậm lại, đặc biệt là Nhật Bản, giảm 1,5%. Các nước châu Á bị ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã cắt giảm nhập khẩu 20%,
Nhật Bản 5%. Khu vực giảm giá trị xuất khẩu mạnh nhất trong năm 1998 là
châu Phi và Trung Đông, những nước mà cơ cấu xuất khẩu dựa nhiều vào
dầu thô.
Tuy nhiên, trong năm 2000, giá trị xuất khẩu toàn cầu tăng 13%, là mức
tăng mạnh nhất trong hơn một thập kỉ. Xuất khẩu của châu Á tăng 18,4%,
nhập khẩu tăng 23,5%. Tốc độ tăng trưởng này là điều đáng ngạc nhiên do
sản lượng của khu vực chỉ đạt dưới mức trung bình của thế giới. Trong năm
2000, ảnh hưởng của giá dầu đến thương mại rõ nét đến mức vị trí của các
nước theo tốc độ tăng trưởng cũng như vị trí theo tỉ trọng của nhiên liệu
trong cơ cấu xuất khẩu. Các nước Trung Đông, những nước mà dầu mỏ
chiếm hơn 2/3 giá trị xuất khẩu, có tốc độ tăng xuất khẩu hàng hoá 54,1%.
Các nước xuất khẩu dầu chủ yếu ở châu Phi
13
Trung Quốc 3,9 Ý 3,5
Ý 3,7 Trung Quốc 3,4
Hà Lan 3,3 Hong Kong 3,2
Hong Kong 3,2 Hà Lan 3,0
Nguồn: Báo cáo thường niên WTO-2001
Mỹ là nước đứng đầu về thương mại hàng hoá, cả về xuất khẩu và nhập
khẩu, chiếm tương ứng là 12,3 và 18,7% trong thương mại thế giới. Trong
năm 2000, xuất khẩu của Mỹ tăng 12%, nhập khẩu tăng 19%. Tuy có tốc độ
tăng xuất khẩu và nhập khẩu thấp, tương ứng là 1% và 5%, Đức vẫn là nước
chiếm tỉ trọng lớn thứ hai trong 10 nước đứng đầu thế giới về thương mại
hàng hoá. Trong số này, Trung Quốc và Hong Kong là nước đang phát triển
duy nhất. Trung Quốc đứng thứ 7 về xuất khẩu và thứ 8 về nhập khẩu. Hong
Kong đứng thứ 10 về xuất khẩu và thứ 9 về nhập khẩu.
1.2.2 Thương mại dịch vụ
Thương mại dịch vụ của thế giới nhìn chung ít biến động hơn thương mại
hàng hoá. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 1990-2000 là 6,5%.
Trong năm 1998, khi thương mại hàng hoá giảm mạnh thì thương mại dịch
vụ vẫn duy trì được ở mức gần như không đổi so với năm trước.
Bảng 4: Giá trị xuất khẩu dịch vụ thế giới
giai đoạn 1998-2002
14
(Đơn vị: tỉ USD và %)
90-00 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Giá trị xuất khẩu 1320 1320 1340 1454 1440 1570
Mức tăng hàng năm 6,5 4 0 2 5 -1 6
khẩu dịch vụ, trừ Tây Âu. Sự suy giảm trong xuất nhập khẩu dịch vụ của
Tây Âu phần lớn do sự sụt giá của đồng euro. Tính theo euro, giá trị xuất
khẩu và nhập khẩu của khu vực này tăng tương ứng là 13,5% và 14,5%. Do
Tây Âu chiếm tới 44% xuất khẩu dịch vụ thế giới, sự suy giảm giá trị tính
bằng USD của thương mại dịch vụ trong khu vực ảnh hưởng đáng kể tới
tăng trưởng thương mại dịch vụ toàn cầu.
Thương mại dịch vụ trong năm 2001 giảm 1%, lần suy giảm đầu tiên kể
từ năm 1983 và ảnh hưởng đến tất cả các ngành dịch vụ. Thu nhập từ xuất
khẩu dịch vụ vận tải và du lịch giảm tương ứng 3% và 2%. Xuất khẩu của
nhóm “các dịch vụ khác” ( bao gồm viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ tài chính,
bản quyền và đăng ký phát minh) bị đình trệ trong năm 2001. Chỉ 3 năm sau
sự suy giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ,
xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ của châu Á lại giảm tương ứng là 2% và
3%. Riêng xuất khẩu của Nhật Bản giảm 7%, nhập khẩu giảm 8%.
1.2. Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới ( WTO)
16
1.2.1 Sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới và những nguyên tắc
của hệ thống thương mại quốc tế
Tiền thân của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là Hiệp định chung
về Thương mại và Thuế quan (GATT) được thành lập năm 1947, trụ sở tại
Geneva, Thuỵ Sĩ. Mục tiêu của GATT là nhằm xúc tiến quá trình tự do hoá
thương mại thông qua các thoả thuận đa phương. Thông qua 5 vòng đàm
phán trong giai đoạn 1947-1962 với sự can thiệp của GATT, thuế quan trong
thương mại quốc tế giảm 35%, là thắng lợi lớn trong quá trình tự do hoá
thương mại.
Song cùng với sự phát triển của thương mại thế giới nảy sinh những vấn
đề mới, bộc lộ rõ những khuyết điểm của GATT. Vượt khỏi qui định của
gia đó cũng phải cho tất cả các thành viên khác hưởng ưu đãi như vậy. Tên
của nguyên tắc Tối huệ quốc nghe có vẻ như một sự đối xử đặc biệt đối với
một quốc gia nào đó. Nhưng trong WTO, điều đó có nghĩa là không phân
biệt đối xử, mỗi quốc gia thành viên đều đối xử với các thành viên khác một
cách bình đẳng. Nếu một nước muốn cho một thành viên khác hưởng nhiều
ưu đãi hơn trong thương mại, nó sẽ phải cho tất cả các thành viên còn lại
hưởng ưu đãi như vậy.
Nguyên tắc này là điều khoản quan trọng đầu tiên của Hiệp định chung
về Thương mại và Thuế quan(GATT). Tối huệ quốc cũng được qui định
trong Hiệp định chung về Thương mại trong dịch vụ (GATS) và Hiệp định
chung về Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại(TRIPS), mặc dù mỗi Hiệp
định có cách qui định khác nhau.
Cũng có những trường hợp ngoại lệ. Ví dụ như khi các nước trong một
khu vực có thể thành lập một hiệp định tự do thương mại mà không áp dụng
18
cho hàng hoá từ bên ngoài khu vực đó. Hay một quốc gia có thể dựng lên
những rào cản đối với hàng hoá từ các nước mà bị coi là đang có những
hành vi thương mại bất bình đẳng. Trong thương mại dịch vụ, các quốc gia,
trong những tình huống cụ thể nhất định, còn có thể phân biệt đối xử. Tuy
nhiên, những ngoại lệ như vậy được qui định rất chặt chẽ. Nhìn chung,
nguyên tắc Tối huệ quốc có nghĩa là khi một nước nới lỏng các rào cản
thương mại hay mở cửa thị trường, nước đó phải áp dụng đối với tất cả các
thành viên WTO khác- không phân biệt giàu hay nghèo, mạnh hay yếu.
Nguyên tắc Đối xử quốc gia
Theo nguyên tắc này, một quốc gia thành viên phải đối xử bình đẳng giữa
hàng hoá nội địa và hàng hoá từ nước ngoài. Nguyên tắc này cũng được áp
dụng đối với dịch vụ, thương hiệu, bản quyền và sáng chế. Nguyên tắc Đối
Đôi khi việc cam kết không siết chặt các rào cản thương mại cũng có ý
nghĩa quan trọng như việc dỡ bỏ những rào cản đó do những cam kết như
vậy giúp cho các doanh nghiệp có khả năng nhận biết được những cơ hội
của họ trong tương lai. Việc duy trì được tính ổn định và dễ dự đoán có thể
khuyến khích đầu tư, tạo thêm việc làm và người tiêu dùng có thể được
hưởng mức giá cạnh tranh hơn. Hệ thống thương mại đa phương là nỗ lực
của các chính phủ nhằm làm cho môi trường kinh doanh trở nên ổn định và
dễ dự đoán. Trong WTO, khi các thành viên đồng ý mở cửa thị trường, họ đã
ràng buộc mình vào những cam kết. Đối với hàng hóa, những cam kết này
có nghĩa là qui định mức thuế nhập khẩu tối đa. Đôi khi các nước đánh thuế
nhập khẩu ở mức thấp hơn mức thuế đã cam kết, thường là các nước đang
phát triển. Tại các nước phát triển, mức thuế cam kết và mức thuế thực tế
20
thường bằng nhau. Một nước có thể thay đổi những cam kết, nhưng chỉ sau
khi đàm phán với các thành viên khác. Điều này có thể mang ý nghĩa là bồi
thường cho những nước này về những tổn thất trong thương mại.
Trong nông nghiệp, 100% nông sản giờ đây đã được qui định mức thuế
tối đa. Điều này đảm bảo độ an toàn trên thị trường cho những người xuất
nhập khẩu và các nhà đầu tư. Ngoài ra, các biện pháp khác cũng đang được
áp dụng nhằm nâng cao tính ổn định và dễ dự đoán của hệ thống thương
mại quốc tế. Một trong số đó là giảm việc sử dụng hạn ngạch nhập khẩu và
các biện pháp khác để hạn chế số lượng nhập khẩu. Việc sử dụng hạn ngạch
nhập khẩu có thể dẫn tới tệ quan liêu và gia tăng những vụ kiện về thương
mại bất bình đẳng. Một biện pháp khác là làm cho luật thương mại của các
nước càng rõ ràng, minh bạch càng tốt. Nhiều hiệp định của WTO yêu cầu
các chính phủ công bố những chính sách của mình trong nước hoặc thông
báo cho WTO.
sang nền kinh tế thị trường. Trong suốt bảy năm rưỡi của vòng đàm phán
Uruguay, hơn 60 nước trong số này đã tự tiến hành các chương trình tự do
hoá thương mại. Đồng thời, trong vòng đàm phán Uruguay, các nước đang
phát triển cũng trở nên năng động và có ảnh hưởng hơn bất kỳ vòng đàm
phán nào trước đó.
1.2.3 Các hiệp định trong khuôn khổ WTO
Các hiệp định trong khuôn khổ WTO bao gồm hàng hoá, dịch vụ và
quyền sở hữu trí tuệ. Những hiệp định này qui định các nguyên tắc của quá
trình tự do hoá thương mại và những ngoại lệ cho phép. Chúng bao gồm cam
22
kết của các quốc gia trong việc cắt giảm thuế, dỡ bỏ các rào cản thương mại
khác, và mở rộng thị trường dịch vụ; qui định thủ tục giải quyết tranh chấp;
qui định những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển; đòi hỏi các chính
phủ phải làm cho các chính sách thương mại của nước mình trở nên minh
bạch rõ ràng bằng việc thông báo cho WTO biết những luật được áp dụng và
các biện pháp thực hiện.
1.2.3.1 Hiệp định chung về Thương mại và thuế quan (GATT)
Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan đầu tiên, gọi là GATT
1947, đưa ra những qui tắc cơ bản của hệ thống thương mại quốc tế từ tháng
1/1948 đến khi Tổ chức Thương mại thế giới được thành lập vào ngày
1/1/1995. Những qui tắc này chỉ điều chỉnh thương mại hàng hoá, được cụ
thể và chi tiết hoá qua rất nhiều văn bản luật được thông qua trong suốt 47
năm từ năm 1948 đến năm 1995 tại các cuộc đàm phán đa phương. Các điều
khoản của GATT điều chỉnh những vấn đề như tiếp cận thị trường, tư vấn và
giải quyết các khiếu nại của các thành viên, cho phép GATT hoạt động một
cách có hiệu quả với tư cách là một tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, một đặc
tiền cho sản xuất những mặt hàng nhằm xuất khẩu. Có 3 loại trợ cấp trong
nước được đưa ra, mỗi loại được gán cho một màu khác nhau.
Hộp màu vàng: bao gồm những khoản chi cho các nhà sản xuất và các
loại trợ cấp trong nước khác mà các chính phủ phải cắt giảm, nhưng không
cần xoá bỏ. Tất cả chi tiêu của chính phủ cho nông nghiệp đều được xếp vào
hộp màu vàng, trừ khi nó phù hợp với các tiêu chuẩn của những hộp khác.
AoA yêu cầu những trợ cấp trong hộp này giảm 20% sau 5 năm đối với các
nước phát triển và 13,3% sau 9 năm đối với các nước đang phát triển.
24
Hộp xanh da trời: cho phép các nước chi tiêu không hạn chế một cách
trực tiếp cho nông dân nếu những khoản chi này liên quan tới sản xuất- giới
hạn các chương trình bằng những mức ranh giới cố định. Từ năm 1996, Mỹ
đã không sử dụng những chương trình được xếp vào hộp này.
Hộp xanh lá cây: cho phép sử dụng những khoản chi có liên quan tới
các chương trình môi trường, kiểm soát bệnh dịch và sâu hại, phát triển cơ
sở hạ tầng và hỗ trợ lương thực trong nước.
Tiếp cận thị trường
AoA yêu cầu các nước phát triển giảm thuế trung bình là 36%, với mức
giảm tối thiểu cho một dòng thuế là 15%, trong vòng 5 năm. Các nước đang
phát triển phải giảm thuế trung bình 24%, với mức giảm tối thiểu cho một
dòng thuế là 10%, trong vòng 9 năm. Các nước chậm phát triển không phải
giảm thuế nhưng hoặc phải chuyển đổi các biện pháp phi thuế quan thành
thuế quan hay cam kết trong tương lai sẽ không tăng thuế cao hơn mức tối
đa đã định sẵn. Hàng rào phi thuế quan bao gồm các biện pháp hạn chế về số
lượng, đóng vai trò quan trọng trong những chương trình quản lý cung mà
các chính phủ sử dụng để hạn chế số lượng hàng hoá nhập khẩu trên thị
trường nội địa để bình ổn giá.
bao gồm các hình thức cung cấp dịch vụ quốc tế khác nhau. GATS định
nghĩa 4 hình thức dịch vụ sau:
Các dịch vụ được cung cấp từ một quốc gia này đến một quốc gia
khác( ví dụ dịch vụ điện thoại quốc tế), gọi là “cung cấp dịch vụ qua biên
giới”
Người tiêu dùng hay các công ty sử dụng dịch vụ tại một nước khác
(ví dụ dịch vụ du lịch), gọi là “sử dụng dịch vụ ở nước ngoài”