Tiểu luận:Tài nguyên Biển Đông - Pdf 12

1

BÀI TIỂU LUẬN: ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN BIỂN ĐÔNG
Chủ đề: Tài nguyên Biển Đông
2
- Phần nội dung
- Phần kết luận
II. PHẦN NỘI DUNG
2.1 TÀI NGUYÊN SINH VẬT:
Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng biển Đông sự đa dạng sinh
học cao so với các nước trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái
và nguồn gen. Khác biệt về điều kiện tự nhiên từ Bắc đến Nam như sự thay đổi
nhiệt độ theo vĩ tuyến, mức độ trao đổi môi trường với các vùng xung quanh,
hình thái thềm lục địa… đã tạo nên những nét đặc trưng của các hệ sinh thái giữa
các vùng biển ở Việt Nam.
Cho đến nay, trong vùng biển này đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh
vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Trong đó có khoảng 6.000
loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài san hô
cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94
loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12
loài thú biển và 5 loài rùa biển.
Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đã mang đến những ưu thế cho
đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh. Trữ lượng hải sản
đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế
cao có thể khai thác được hàng năm. Trong khu vực, có các nước đánh bắt và
nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam,
Indonesia và Philippines.
4

Biển Việt Nam với dải bờ chạy dài trên 3260 km, diện tích trên 1 triệu km
2
,
hàng năm đem lại nguồn lợi trên 2 triệu tấn trong số hơn 90 triệu tấn hải sản của
thế giới, đồng thời cũng là hệ sinh thái rất đặc thù và được đánh giá là một trong
16 trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới. Đây là một điều kiện thuận lợi để

trong khu vực phía Nam biển Đông hơn vùng phía Bắc như ở các vùng duyên hải
Hoa Nam,trong vịnh Bắc Việt, ngoài khơi Việt Nam,duyên hải Mã Lai-Brunei-
Palawan,vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.
Biển Đông được coi là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới.
Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney -
Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mêkông, sông Hồng, cửa
sông Châu Giang. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã
được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu
thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông
khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên
tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5
triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới. Ba mỏ dầu khí được thăm
dò và có trữ lượng lớn là: Bạch Hổ ( 175-300 triệu thùng ), Đại Hùng ( 300-600
triệu thùng ), Rồng ( 100-150 triệu thùng ). Trữ lượng và sản lượng dầu khí của
Việt Nam đứng vào hạng trung bình trong khu vực, tương đương Thái Lan và
Malaysia.
Nước ta có thềm lục địa rộng lớn rộng khoảng 1 triệu km2 là nơi có nhiều bể
trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng để khai thác. Tại vùng biển và thềm
lục địa Việt Nam xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các
bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn
6

nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về
dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ
lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ m3.
Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa
ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung Việt Nam.
Các mỏ dầu và khí đốt tập trung trong các miền võng,với các bể trầm tích
như: bể trầm tích sông Hồng, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Mã Lay-Thổ
Chu, Phù Khánh và Trường SaHiện trạng khai thái dầu khí ở Việt Nam

bị hiện đại, đủ khả năng đáp ứng với công việc tương ứng
2.2.2 Khoáng sản kim loại và phi kim loại
Biển Đông nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái
Bình Dương, tập trung các sa khoáng biển kim loại hiếm, chủ yếu là thiếc,titan,
ziricon, vonfaram, brom, sắt, đồng….Một số khoáng sản hòa tan khác với nồng
độ thấp hơn : bạc , Uran , và Iot. Hiện nay biển Đông còn có nhiều kim loại nằm
ngay trên đáy biển dưới dạng hạt đa kim. Thành phần chủ yếu là magan và sắt.
Ngoài ra còn có niken, coban, nguyên tố phóng xạ uran, radi và các nguyên tố
khác.
- Muối :
Biển Đông là biển nằm trong khu vực gần xích đạo nên có giờ nắng nhiều
cán câu bức xạ mặt trời lớn thuận lợi cho sản xuất muối. Độ muối trên Biển Đông
khá cao nên có thể nói rằng tài nguyên muối trên Biển Đông là rất lớn. Hàng năm
các nước trong khu vực Biển Đông đều nhận được một nguồn lợi lớn từ muối
biển không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn phục vụ xuất
khẩu, Trung Quốc là một điển hình.
8

Ở Việt Nam, có khả năng khai thác 900 nghìn tấn muối/năm (tập trung ở
tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận).Sản lượng muối tháng 1/2012 đạt khoảng
23.931 tấn. Theo thông tin từ Bộ NN và PTNT, lượng muối tồn trong diêm dân
và một số doanh nghiệp sản xuất tính tới thời điểm 20/01 khoảng gần 93 nghìn
tấn, bằng 42% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, miền Bắc tồn hơn 15 nghìn
tấn, Miền Trung tồn hơn 38 nghìn tấn, ĐBSCL tồn hơn 39 nghìn tấn.
Tháng đầu năm 2012, diện tích sản xuất muối cả nước ước đạt 14.602 ha,
trong đó diện tích muối thủ công đạt 11.638 ha; diện tích muối công nghiệp đạt
2.964 ha. Sản lượng muối tính đến 20/1 đạt khoảng 23.931 tấn (tăng 334% so với
cùng kỳ năm 2011). Trong đó, muối sản xuất thủ công đạt 12.250 tấn, muối sản
xuất công nghiệp đạt 11.681 tấn.
Nước ta với 3260 km bờ biển, tiềm năng về muối là vô cùng lớn nhưng nước

lượng lớn phục vụ xuất khẩu. Với trữ lượng rất lớn, việc khai thác hiện nay là
chưa đáng kể.
2.2.3. Băng cháy:
Người ta đã tìm thấy băng cháy ở nhiều đáy biển khắp các đại dương thế
giới và cả ở những vùng băng tuyết phủ quanh năm (như Siberi của Nga) với trữ
lượng đủ cung cấp cho toàn thế giới trong hàng trăm năm. Về hình dạng hydrat
metan trông như tuyết hay băng nên có mang cái tên là “băng cháy”. Băng cháy
hình thành trong điều kiện áp suất cao và nhiệt độ thấp, nó được hình thành từ
xác sinh vật biển trầm tích. Ở những vùng biển tích tụ hydrat metan thường ở độ
sâu dưới 500m. Ngoài ra, độ muối là một tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự
tích tụ và giữ sự ổn định của hiđrat metan. Người ta nói “hidrat metan” là nguồn
nhiên liệu khổng lồ cho tương lai vì tiềm năng tài nguyên này rất lớn. Người ta
dự báo trữ lượng hydrat metan khoảng 11.200 triệu tỷ m3. Những nghiên cứu gần
10
đây đã khoanh vùng những khu vực có triển vọng về băng cháy là những vùng
đáy biển có độ sâu trên 500m, và Biển Đông là vùng biển nhiều tiềm năng vì độ
sâu trung bình và độ muối đáp ứng được. Nếu khai thác hidrat metan thì đó sẽ là
nguồn năng lượng cho thế giới trong tương lai.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nước nào khai thác hidrat metan ở quy mô
công nghiệp. Nhưng triển vọng khoảng một vài chục năm tới khai thác công
nghiệp không phải là dự báo thiếu cơ sở. Ở Việt Nam chưa có công trình nghiên
cứu về hidrat metan. Nhưng đây là vấn đề lớn và Chính phủ hết sức quan tâm về
sự có mặt băng cháy trong vùng biển nước ta. Báo Đà Nẵng ngày 6/6/2011 dẫn
thông tin, các chuyên gia Nga đánh giá, khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường
Sa còn chứa đựng tài nguyên băng cháy. Trên trang wed của Bộ Tài nguyên và
Môi trường đưa tin ngày 13 tháng 3 năm 2012 cho biết tiềm năng khí hydrat của
Việt Nam nằm thứ 4 trong nhóm có tiềm năng trung bình của châu Á, sau
Philippines, Srilanka, Malaysia. Hiện chúng ta mới chỉ dừng ở việc “nghiên cứu,
điều tra” mà chưa đi vào khai thác. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là
thiếu nhân lực chuyên sâu.

vô giá mà thiên nhiên đã ban cho Bình Thuận. Mặc dù được xem là nguồn tài
nguyên quý giá, nhưng loại sa khoáng này đang được bán với một giá rẻ như cát.
Nhiều năm qua nạn đào đãi, mua bán trái phép loại sa khoáng này diễn ra ồ ạt.
Trong khi đó, hàng năm Việt Nam phải nhập lại các sản phẩm được tinh chế từ sa
khoáng này để sử dụng với một lượng lớn.
12
Dọc dải bờ biển nước ta có nhiều sa khoáng kim loại, đáng kể nhất là các sa
khoáng ilmenit tập trung các vùng biển Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Bình Định,
Phú Yên, Ninh Thuận với tổng trữ lượng khoảng 10 triệu tấn. Các khoáng vật đi
kèm ilmenit là zircon, monaxit có giá trị kinh tế cao. Những năm gần đây, công
tác khai thác đã được phát triển mạnh ở Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Bình Định
và Bình Thuận với sản lượng khai thác khoảng 100 ngàn tấn/năm phục vụ cho
nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Ngoài ra, biển Việt Nam còn có nhiều loại khoáng sản khác như: đất hiếm,
bùn đỏ, đất sét biển và nhiều loại kim loại quý hiếm khác.
2.3 TÀI NGUYÊN DU LỊCH BIỂN
Biển Đông có nhiều vùng du lịch hấp dẫn không những đối với nhu cầu nghỉ
dưỡng của khách hàng trong khu vực, mà còn thu hút nhiều khách quốc tế trên
thế giới. Địa lý bờ biển Đông đã tạo điều kiện kết hợp hài hòa các cảnh quan tự
nhiên với cảnh quan xã hội. Tài nguyên du lịch Biển Đông đa dạng, giàu bản sắc
cả về mặt thiên nhiên cũng như về mặt nhân văn. Du lịch vẫn được xem là giấy
thông hành của hoà bình. Các quốc gia giáp biển như: Việt Nam, Malaysia,
Inđônêxia, Philippin đã tận dụng ưu thế này nhằm phát triển một dịch vụ đem
lại nguồn lợi khổng lồ và trở thành một trong những điểm đến hàng đầu về du
lịch biển, đảo.
Ở Việt Nam, du lịch biển cũng là một ưu thế đặc biệt, mở ra triển vọng khai
thác tổng hợp để phát triển mạnh. Các bãi biển của Việt Nam phân bố trải đều từ
Bắc vào Nam. Dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc
phát triển du lịch, với bãi thoải, nước trong xanh, khí hậu ôn hòa, và cảnh quan
thiên nhiên kỳ thú. Trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác. Một số địa danh

biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển lớn nhỏ thuận lợi cho phát triển du lịch
nhưng số lượng bãi tắm được đầu tư với qui mô lớn chưa nhiều. Nhiều bãi tắm ở
tình trạng: “nhiều nắng, nhiều biển, nhiều cát nhưng không có người”. Nhiều bãi
biển ô nhiễm nặng, nhiều điểm du lịch chưa đưa vào sử dụng
2.4 GIAO THÔNG VẬN TẢI BIỂN
Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái
Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á. Đây được
coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có
khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là
tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên.
Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào
loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Công. Thương mại
và công nghiệp hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực.Biển Đông được coi là
con đường chiến lược về giao lưu quốc tế và thương mại quốc tế.
Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con
đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung
Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên
thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và
Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng
đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông.
Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp
15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực biển Đông có những eo
biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế
giới nằm trong khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn
nhịp thứ hai trên thế giới. Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập
15
khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận
chuyển qua biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng
60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận
chuyển bằng đường biển qua biển Đông.

định tầm quan trọng to lớn của biển và đại dương. Các nước giáp Biển Đông, nhờ
nguồn tài nguyên biển phong phú, đã không ngừng phát triển kinh tế và ngày
càng phát huy tốt hơn thế mạnh biển.
Tình trạng khan hiếm nguyên liệu, năng lượng trở nên gay gắt hơn bao giờ
hết, dẫn tới cạnh tranh thị trường, tranh chấp lãnh thổ và xung đột quốc gia
thường xuyên và gay gắt. Vươn ra biển, khai thác đại dương đã trở thành khẩu
hiệu hành động mang tính chiến lược của toàn thế giới. Chính vì lẽ đó mà không
phải ngẫu nhiên luận điểm “Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương” xuất hiện và
được nhất trí cao trên toàn thế giới . Tuy nhiên, trong vấn đề phát triển kinh tế
biển có nhiều thách thức đang được đặt ra.
Khu vực Biển Đông đang có tranh chấp gay gắt, nên việc hợp tác và hội
nhập quốc tế để phát triển kinh tế ở khu vực này còn gặp không ít khó khăn.
Việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, những vi phạm trong quá trình
sử dụng, khai thác tài nguyên biển chưa có các quy định cụ thể mang tính pháp
quy như trong quản lý sử dụng đất trên đất liền và còn nhiều bất cập. Ngoài ra,
khu vưc Biển Đông còn có nhiều vấn đề quan trọng về giao thông biển, môi
trường biển… cần sự chung tay đối thoại và giải quyết của các quốc gia trong
thời gian tới nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status