BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC NGẦM HÓA ĐIỆN VÀ THÔNG TIN TRÊN ĐƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO (TP.HCM) doc - Pdf 12



1

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC NGẦM HÓA
ĐIỆN VÀ THÔNG TIN TRÊN ĐƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO (TP.HCM)

Tác giả: 1. ThS. Đinh Ngọc Sang (094.339.33.99 – Email: )
2. ThS. Nguyễn Hoàng Minh Vũ (Phó Trưởng Khoa KTĐT)
3. ThS. Trương Công Đính (Trưởng bộ môn NL-TT)

A. GIỚI THIỆU
Công trình hạ tầng kỹ thuật là một phần không thể tách rời trong công cuộc “Công
nghiệp và hóa hiện đại hóa” mà Đảng, Nhà Nước và nhân dân ta đang hướng đến.
Trong quá trình phát triển đất nước, hiện tượng “mạng nhện” các công trình hạ tầng kỹ
thuật trên không đã hình thành gây mất an toàn và mỹ quan đô thị như nhiều bài báo đã
đề cập trong các đô thị của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới là hậu quả của
việc qui hoạch và quản lý còn bất cập.
Các văn bản qui định về qui hoạch và quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật đã được
Nhà Nước ban hành kịp thời, nhưng ngay lúc này đây, nếu chúng ta thiếu quan tâm đến
qui hoạch không gian ngầm, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm không chặt chẽ
sẽ dẫn đến “mạng nhện” trong lòng đất như đã từng nằm trên không và sẽ để lại hậu quả
cho các thế hệ mai sau.
Công trình ngầm hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật đường Trần Hưng Đạo (đoạn từ
Nguyễn Cư Trinh đến Nguyễn Văn Cừ) do Tổng Công ty Điện lực Tp.HCM làm chủ
đầu tư là một trong các công trình đầu tiên xã hội hóa đầu tư, thí điểm ngầm tập trung
hệ thống cáp điện và cáp thông tin liên lạc cũng như ứng dụng một số công nghệ mới.
Bài viết này được trình bày nhằm đưa ra một số vấn đề đúc kết từ các thuận lợi và
khó khăn trở ngại trong quá trình đầu tư xây dựng công trình để hội nghị nghiên cứu,
thảo luận đề ra những ý kiến đóng góp cho công tác qui hoạch và quản lý không gian
ngầm nói chung và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật nói riêng.

+ Giai đoạn 2021-2025: cơ bản hoàn tất ngầm hóa lưới điện kết hợp với dây thông tin
tại các quận, các trung tâm hành chính huyện, các khu đô thị mới, khu công nghiệp
trên phạm vi toàn thành phố.
2. Chuẩn bị đầu tư ngầm hóa thí điểm đường Trần Hưng Đạo:
2.1. Sơ lược công tác chuẩn bị thí điểm ngầm hóa trên đường Trần hưng Đạo:
Chủ đầu tư xây dựng công trình ngầm hóa đường Trần Hưng Đạo (Đoạn từ
Nguyễn Cư Trinh đến Nguyễn Văn Cừ dài 2.400m) là Tổng Công ty Điện lực Tp.HCM.
Chương trình ngầm hóa đường Lý Tự Trọng (tiền thân giải pháp ngầm hóa đường
Trần Hưng Đạo):
- Tháng 5/2008 bắt đầu xây dựng phương án, giải pháp ngầm hóa đường Lý Tự Trọng
(tiền thân giải pháp thi công đường Trần hưng Đạo);
- Ngày 13/11/2008 UBND/TP đồng ý chủ trương ngầm hóa đường Lý Tự Trọng (Văn
bản số 7042/UBND-CNN). Từ ngày này, phương án, giải pháp ngầm hóa đã được
xây dựng và trình bày cho UBND/TP, các sở ngành, địa phương và các đơn vị quản
lý lưới điện và thông tin suốt đến tháng 4/2009;
Do đường Lý Tự Trọng đang trong giai đoạn cấm đào nên ngành điện đã chuyển
hướng sang ngầm hóa đường Trần Hưng Đạo. Giải pháp được thừa hưởng của đường
Lý Tự Trọng nhưng do nhu cầu sử dụng khác nhau nên phương án ngầm hóa phải được
xây dựng lại cho phù hợp với qui mô đường Trần Hưng Đạo:
- Từ tháng 3-9/2009, Phương án ngầm hóa đường Trần Hưng Đạo được báo cáo cho
UBNDTP, các sở ngành, địa phương và các đơn vị quả lý vận hành (3 lần vào tháng
5, 6 và 9);
- Ngày 31/8/2009 UBND Thành phố có Văn bản số 4450/UBND-CNN V/v chấp thuận
phương án xây dựng hào kỹ thuật thực hiện thí điểm ngầm hoá lưới điện và dây
thông tin đường Trần Hưng Đạo, quận 1;
- Ngày 25/9/2009 chính thức thông qua phương án, giải pháp ngầm hóa đường Trần
Hưng Đạo.
Song song đó, từ tháng 4/2009 bắt đầu tiến hành khảo sát lập DAĐT và thiết kế
công trình. Đến tháng 9/2009, sau khi thông qua phương án ngầm hóa cũng là lúc chủ
đầu tư ra quyết định đầu tư dự án ngầm hóa thí điểm đường Trần Hưng Đạo (đoạn từ

- Thống nhất giải pháp
- Điều tra công trình hiện hữu
- Xác định công trình ngầm
- Thống nhất nhu cầu dự phòng
2.2.3. Nhu cầu dự phòng trong tương lai quá lớn:
Đối với công trình nổi, việc phát triển thêm dung lượng rất dễ dàng nên gần
như các đơn vị vận hành không cần phải dự phòng cho tương lai xa 5-10 năm.
Tuy nhiên, khi ngầm hóa, việc phát triển không còn đơn giản nữa. Dự phòng
cho tương lai của từng đơn vị thực chất cũng chưa xác định được, hơn nữa phụ
thuộc vào qui hoạch phát triển dân cư, đô thị của khu vực nhưng kế hoạch xây dựng
các khu dân cư, đô thị thường chưa chính xác. Vì vậy để đảm bảo an toàn thường
mỗi đơn vị đề xuất dự phòng ống (hoặc không gian ngầm) rất cao (có đơn vị chỉ kéo
1 sợi cáp nhưng dự phòng thêm 1 ống). Tính bình quân số lượng dự phòng trên
50%.
Việc dự phòng cao dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, khó thu hồi vốn đầu tư nên
chủ đầu tư khó chấp nhận.
2.2.4. Thiếu thông tin công trình ngầm:
Tình trạng hiện nay là công trình của đơn vị nào vện hành thì đơn vị đó quản
lý, dẫn đến rất nhiều đơn vị quản lý. Mặt đường, lề đường qua thời gian được tôn
tạo nhiều lần dẫn đến công trình ngầm không còn mốc định vị, cao độ thay đổi.
Vì vậy công trình ngầm hiện nay được điều tra khảo sát khó có độ chính xác
để thiết kế và thi công.
2.2.5. Không hiệu quả đầu tư:
Các công trình nổi hiện nay đang được các đơn vị vận hành khái thác an toàn.
Việc đầu tư ngầm hóa chỉ nhằm mục đích chỉnh trang đô thị và thường không nâng
hiệu quả kinh doanh của các đơn vị nên không có hiệu quả đầu tư dẫn đến một số
đơn vị vận hành thiếu quyết tâm trong việc ngầm hóa.
2.1.6. Thiếu tiêu chuẩn:
Tại thời điểm thiết kế công trình, mỗi ngành đều có tiêu chuẩn thiết kế riêng.
Tuy nhiên, để lắp đặt tất cả các công trình điện và thông tin trong cùng một mương,

điểm, mỗi ý kiến khác nhau nên việc thống nhất rất khó khăn. Đôi khi không xác
định được công trình ngầm hiện của đơn vị nào, đến khi sự cố mới có đơn vị quản
lý xuất hiện.
3.2.2. Hệ thống công trình ngầm dày đặc:
Khu vực Trần Hưng Đạo là khu vực dân cư liên kế nên có hệ thống công trình
ngầm hiện hữu rất dày đặc, gồm cáp điện trung hạ thế, cáp thông tin liên lạc của
một số đơn vị, ống cấp thoát nước, …
Việc điều tra khảo sát công trình thường không chính xác (như đã trình bày
phần chuẩn bị đầu tư), do đó khi thi công phải có biện pháp thăm dò. Mặc dù vậy
đôi khi vẫn không các định được và phạm phải công trình ngầm hiện hữu gây sự cố.
Việc xử lý sự cố này xảy ra rất thường xuyên, gây mất thời gian, ảnh hưởng
đến tiến độ thi công, ảnh hưởng đến vận hành của công trình hiện hữu và ảnh hưởng
đến cuộc sống của người dân.
3.2.3. Cấm đào:
Công trình đi qua một số đường giao cấm đào nên khi đào đường tại các vị trí
này phải có qui trình xin phép đào đường riêng và thường khó khăn hơn.
3.2.4. Khó khăn từ người dân:
Đối với dự án chỉnh trang đô thị, phần lớn người dân ửng hộ rất tận tình. Tuy
nhiên, còn một số người dân gây khó khăn, khiếu nại các vị trí lắp đặt công trình
ngang qua lề đường trước nhà mặc dù các thủ tục xây dựng công trình đã được các
cơ quan ban ngành cấp.
3.2.5. Thiếu kinh nghiệm sử dụng công nghệ mới:
Được biết công nghệ ống nhựa soắn là công nghệ mới đã được lắp đặt nhiều
tại Hàn Quốc và Tp. Hà Nội, nhận thấy việc sử dụng ống soắn có nhiều ưu thế so
với ống thẳng, công trình đã sử dụng ống nhựa soắn. Tuy nhiên, do kinh nghiệm lắp
đặt, giám sát chưa có kinh nghiệm nên có một số khó khăn khi kéo cáp.
4. Kết quả đạt được:
Với mục tiêu thí điểm chỉnh trang, tạo mỹ quan đô thị, được sự chỉ đạo, hỗ trợ tận
tình của các cấp thẩm quyền, công trình đã hoàn thành và đáp ứng được mục tiêu đặt ra
như mong muốn. Một số hình ảnh minh họa kết quả thực hiện:

- Cáp có thể đi trên lề hoặc lòng đường và thường đi cả trên lề đường và lòng
đường do chiếm khoảng không rộng.
Ưu điểm:
- Đầu tư rẻ, linh động do đặt cáp vị trí nào cũng được;
- Vận hành sửa chữa dễ;
Khuyết điểm:
- Khó khăn lớn nhất là việc không quản lý được tất cả không gian ngầm do nhiều
đơn vị đầu tư lắp đặt, khó quản lý việc phát triển thêm công trình ngầm của các
đơn vị vận hành. Sau một thời gian sẽ trở thành rác trong lòng đất như dây nổi
hiện nay; 7

- Như tình trạng hiện nay, qua thời gian vận hành, các tài liệu quản lý công trình
ngầm không còn chính xác do thay đổi địa hình, nền đất bị trôi;
- Khi cần lắp đặt công trình ngầm mới, khó điều tra thu thập đầy đủ và chính xác
công trình ngầm hiện hữu do nhiều đơn vị quản lý, thay đổi theo thời gian, cập
nhật chưa đầy đủ các công trình ngầm mới, …
- Do khó phát triển mới nên tình trạng kéo mới dây nổi sau một thời gian ngầm
hóa rất có khả năng xảy ra, điển hình như các tuyến đường Điện Biên Phủ (đoạn
quận Bình Thạnh), Phan Xích Long (khu Rạch Miễu), … (xem minh họa hình 7)

Hình 5: Công trình ngầm hóa đường Lê Thánh Tôn (theo giải pháp cổ điển)

Hình 6: Công trình ngầm theo giải pháp cổ điển rất lộn xộn không có trật tự

Hình 7: Một số tuyến đường xuất hiện dây nổi trở lại sau một thời gian ngầm hóa (hình
chụp năm 2009): (a)đường Điện Biên Phủ; (b) đường Phan Xích Long

9Hình 8: Chi tiết một số dạng mương máng bằng vật liệu tái chế:
(a),(b) máng kết hợp ống tạo thành khối ống
(c),(d) Một dạng mương đúc sẵn

Hình 9: Mương đặt trong đường hầm

Hình 10: Mương đặt trên đường cao tốc

Khuyết điểm:
- Vốn đầu tư tương đối cao cho việc sản xuất mương bằng vật liệu tái chế. Do
phương án này bảo vệ môi trường nên cần có chính sách ưu đãi từ chính quyền
để hỗ trợ kinh phí;
- Chiếm một không gian nhất định trong lòng đất, vì vậy thích hợp cho công trình
xây dựng mới các khu qui hoạch; 10Hình 11: Mương đặt trong nhà ga, trạm điện

2.2. Giải pháp ngầm trên đường Trần hưng Đạo:
Công trình ngầm hóa đường Trần hưng Đạo sử dụng giải pháp mương bê tông kết
hợp cổ điển. Mương đặt được khoảng 5-6 sợi cáp trung thế, 2-4 sợi cáp hạ thế và 12
tuyến ống cáp viễn thông (khoảng 20-30 sợi cáp viễn thông tùy theo kích cỡ)
Hình 16: Chi tiết các giải pháp ngầm hóa hiện nay
D. ĐỀ XUẤT
1. Quan tâm nhiều hơn công tác Qui hoạch hạ tầng kỹ thuật ngầm:
Các tài liệu qui hoạch trong thời gian vừa qua chưa đề cập hoặc đề cập chưa đúng
tầm việc sử dụng không gian ngầm, đặc biệt đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị. Việc này 13

dẫn đến trong suốt thời gian dài công trình kỹ thuật hạ tầng chỉ xây dựng trên không
hoặc nếu có xây dựng ngầm thì tự phát, xây dựng không đúng nơi đúng chỗ dẫn đến
không gian đô thị chằng chịt công trình hạ tầng kỹ thuật không còn mỹ quan, khi cần
ngầm hóa thì không còn không gian ngầm cho các công trình đi sau gây các khó khăn
trở ngại như công trình Trần Hưng Đạo đã gặp như nêu trên.
Vì vậy cần quan tâm để dần đưa công tác qui hoạch không gian ngầm vào khuôn
khổ qui định, thống nhất chủ trương từ các nhà quản lý nhà nước đến các đơn vị vận
hành, tư vấn, thi công lắp đặt. Trong công tác chấn chỉnh qui hoạch không gian ngầm,
ngoài các qui định cho từng ngành hiện nay, cần có qui chuẩn, các tiêu chuẩn cần thiết
phối hợp bố trí chung các công trình hạ tầng kỹ thuật để tiết kiệm không gian. Ngoài ra,
cần ứng dụng các công nghệ hiện đại trong công tác quản lý và xây dựng.
Các giải pháp qui hoạch đề xuất:
- Đối với khu đô thị hiện tại: qui hoạch lại không gian bố trí các công trình hạ tầng
kỹ thuật, chấp nhận sử dụng các giải pháp cổ điển (chỉ cho các khu vực lề đường chật
hẹp) hoặc mương kỹ thuật để bố trí công trình ngầm trong không gian qui hoạch;
- Các khu đô thị mới, các tuyến xe lửa nội đô: Nên ưu tiên sử dụng giải pháp
mương kỹ thuật nhằm thuận lợi trong công tác quan lý;
- Đối với một số tuyến đường đại lộ chính: khuyến khích sử dụng tuynen.
2. Quản lý không gian ngầm:
14

quản lý nhà nước và địa phương, cũng như của các cấp thẩm quyền thì chương trình hạ
ngầm mới có thể thành công và được nhân rộng cho toàn Tp.HCM.
Để đạt được như mong muốn, trước hết cấp thẩm quyền cần xây dựng qui định
trách nhiệm phối hợp và hỗ trợ của các cá nhân, đơn vị liên quan đến chương trình. Trên
cơ sở đó thông tin và tuyên truyền cho toàn xã hội biết được lợi ích và cùng tham gia
thực hiện chương trình.
Từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật ngầm
như: ban hành các thông tư, qui định, văn bản hướng dẫn, qui trình trong việc thực hiện
và quản lý hạ tầng kỹ thuật ngầm cũng như xây dựng các qui chuẩn, tiêu chuẩn liên
quan.
Ngoài ra, cần chuẩn bị tốt nguốn nhân lực trong công tác quản lý vận hành hệ
thống hạ tầng kỹ thuật ngầm, đặc biệt chuẩn bị cho quản lý vận hành các công trình kỹ
thuật cao, hệ thống tuynen, metro, …
Trân trọng cám ơn các cá nhân và tập thể đã hỗ trợ cho bài viết:
- TS. KTS. Phạm Anh Dũng – Trưởng Khoa Kỹ Thuật Đô Thị;
- Các giảng viên bộ môn Năng lượng – Thông tin (Khoa Kỹ thuật Đô thị - Trường
Đại học Kiến Trúc Tp.HCM)
- Các kỹ sư của TT Tư vấn XD, Ban QLDA - Cty CP Đầu tư Kinh doanh ĐL
Tp.HCM.
Tài liệu tham khảo
[1] Nghị định 38/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính Phủ về quản lý không gian,
kiến trúc, cảnh quan đô thị;
[2] Nghị định 39/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính Phủ về quản lý không gian
xây dựng ngầm đô thị;
[3] Thông tư 11/2010/TT-BXD ngày 17/8/2010 của Bộ Xây Dựng Hướng dẫn về quản
lý cơ sở dữ liệu công trình ngầm đô thị;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status