viện vệ sinh dịch tễ trung ơng
công ty vắc xin và sinh phẩm số 1
báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Nhà nớc
nghiên cứu thay thế chủng nakayama
bằng chủng Beijing-1 trong sản xuất
vắc xin viêm no Nhật bản
M số chơng trình : kc.10.22
chủ nhiệm đề tài: GS.TS Huỳnh phơng liên
- Năm 1936-1938, Mitamura và Takanouchi đã nghiên cứu sản xuất thử văcxin viêm
não từ não chuột, dù bước đầu nhưng là rất sớm sau khi đã phân lập được virut
VNNB [16]. Công nghệ này 40 năm sau mới được hoàn thiện. Văcxin bất hoạt tinh
khiết, an toàn cao và hiện đang có mặt trên thị trường quốc tế, đó là văcxin của hãng
Biken theo phương pháp hóa lý của Takaku Nhật Bản [111].
- Năm 1959, Buecher và Scherer đã nghiên cứu về sinh thái học bệnh VNNB ở Nhật
Bản và đã chứng minh chim và lợn là những vật chủ chính bị nhiễm virut huyết và
nhờ có muỗi là vectơ hút máu các động vật nhiễm truyền virut sang cho người. Từ đó
bệnh VNNB được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu [21].
2. Phân loại virut VNNB
Virut VNNB là một thành viên của virut Arbo (arthropod borne viruses). Là
những virut do côn trùng tiết túc truyền cho động vật có xương sống qua đường máu. Tất
cả các virut arbo đều có hệ gen (genome) là ARN, hầu hết chúng đều có vỏ lipit và bị bất
hoạt bởi ether hoặc sodium deoxycholate [20, 24]. Việc đặt tên cho các virut arbo đôi khi
dựa vào bệnh như sốt Dengue, số vàng (yellow fever) hoặc theo vùng địa lý mà ở đó lần
2
đầu tiên phân lập được virut như viêm não Nhật Bản (Japanese encephalitis), St. Louis
encephalitis, West Nile fever
Có trên 350 loài trong nhóm virut arbo, trong đó arbo gây bệnh cho người có trên
75 thành viên, được sắp xếp theo mối quan hệ kháng nguyên. Một số tác giả nghiên cứu
để xếp loại theo các đặc tính địa lý. Nhiều virut arbo được xếp vào họ Togaviridae,
Bunyaviridae, Reoviridae, Rhabdoviridae Họ Togaviridae được chia thành 2 chi
(genus) là Alphavirus thuộc nhóm A trong đó điển hình là các loài Aura; Babanki;
Barmah Forest; Eastern equine encephalitis; Everglades; Western equine encephalitis;
Whataroa. Họ Flaviviridae thuộc nhóm B bao gồm: Japanese encephalitis (VNNB);
Dengue; Yellow fever; West Nile fever; Brazilian encephalitis…
JE
WN KUN MVE JE SLE
YF
TBE
POW LGT LI TBE
DEN
DEN
3 1 2 4
77
69
62
3
Hội nghị 1992 tại Geneve, Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã xếp loại viêm não
do muỗi truyền và gây tổn thương thần kinh trung ương được ký hiệu như sau:
A83.0 Viêm não Nhật Bản
A83.1 Viêm não ngựa miền Tây
A83.2 Viêm não ngựa miền Đông
A83.3 Viêm não St. Louis
A83.4 Viêm não châu Úc
A83.5 Viêm não California
A83.6 Viêm não virut Nga
A83.7 Viêm não virut do muỗi truyền khác
A83.8 Viêm não virut do muỗi truyền không xác định
Viêm não Nhật Bản được xếp hàng đầu trong các loại viêm não do muỗi truyền,
bệnh để lại hậu quả nặ
ng nề nên đã có văcxin phòng bệnh từ 1954, và sớm có các phương
pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm để xác định căn nguyên [31, 47, 95, 115, 120, 139,
148, 187].
3. Đặc điểm và cấu trúc của virut VNNB
5’
7-m
G
3’
Capsid preM E NS1 NS3 NS4 NS2 NS5
118 nt
51 nt
Sù phiªn m· vµ ph©n
c¾t protein
ORF ®¬n
(
10233 nt
)
NS4A
NS4B NS2BNS2A
Phiªn m· trªn m¹ng
l−íi néi chÊt h¹t
H
ình 2: Sơ đồ cấu trúc h
ạ
t virut VNNB
(
Flaviviruses
)5
3.4 Các protein không cấu trúc (NS1-NS2A-NS2B-NS3-NS4A-NS4B-NS5)
- NS1: có trọng lượng phân tử 42-50KDa, là một glycoprotein gồm 353-354 axit
amin. Chức năng chưa rõ, có thể như một bổ thể hòa tan cố định kháng nguyên khi bộc lộ
trên tế bào cảm nhiễm, có thể NS1 như là đích của đáp ứng miễn dịch chăng? [86, 88,
148].
6
- NS3: có trọng lượng phân tử 67-70 KDa gồm 618-623 axit amin và có tính bảo
tồn cao trong chuỗi nucleotid của nhóm flavivirus, đóng vai trò mã hóa cho enzym
proteaza và helicaza [31, 101, 148].
- NS5: có trọng lượng phân tử 104-106 KDa gồm 900-905 axit amin và cũng có
tính bảo tồn cao trong chuỗi nuleotid. Một số nghiên cứu khác cho thấy NS5 gắn liền với
sự tạo vỏ capsid của ARN. Các nghiên cứu invitro polymeraza đã thẩm định và cho thấy
NS3 và NS5 được sử dụng khi ARN của virut nhân lên [148, 149, 176, 179, 181].
- NS2A-NS2B-NS4A và NS4B: đều rất nhỏ bé, có tính chất bảo tồn kém trong
chuỗi nucleotid, có thể nghĩ đến sự mã hóa của chúng có liên quan đến protein M.
Những năm gần đây, các nghiên cứu về sinh học phân tử của virut VNNB đã có
những bước tiến đáng kể. Định loại cấu trúc 3 protein của virut VNNB là M, C và E.
Protein E phân lập được từ bề mặt của hạt virut. Thử nghiệm trên động vật có vú cho thấy
protein E tạo ra kháng thể trung hòa sau khi tiêm và các động vật này (chuột nhắt trắng)
đã sống sót sau khi thử thách b
ằng chủng độc lực. Khả năng bảo vệ của protein E được
thử nghiệm và phân tích bằng thử nghiệm kháng thể đơn dòng (MAb) để định loại nhiều
epitop có phản ứng chéo với các flavivirus và cũng giống nhau về đặc tính sinh học [23,
24, 31].
3.5 Tính chất hóa lý và bền vững của virut VNNB [31, 82]
- Virut VNNB có tỷ trọng 1,19-1,20g/cm
3
trong đường và 1,22-1,24g/m
3
7
kết hợp bổ thể (CF), rồi miễn dịch huỳnh quang (IF). Vậy đánh giá đáp ứng miến dịch
sau khi tiêm văcxin bằng ký thuật trung hòa là đặc hiệu nhất, đặc biệt là trung hòa giảm
50% đám hoại tử (PRNT) trên tế bào [126, 127]. Hoặc dùng kháng thể đơn dòng để định
loại flavivirus và phân biệt với virut VNNB [59, 68, 74, 102, 104, 123, 126, 127, 128,
139, 151].
Những năm cuối thập kỷ 90, công nghệ sinh học phân tử phát triển không ngừng
và chỉ cần sử dụng kỹ thuật phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR), với cặp mồi (primer) đặc
hiệu thì rất nhanh chóng định loại được typ virut trong các flavivirus [118, 133]. Hoặc xa
hơn còn phân tích được đặc tính di truyền của các virut VNNB lưu hành ở các vùng khác
nhau bằng phương pháp phân tích trình tự gen (sequencing), so sánh trình tự các
nucleotid của các chủng virut VNNB khác nhau [134, 185] Ngày nay, nhờ công nghệ
này mà nhiều nhà khoa học đã cố gắng chế tạo các văcxin tái tổ hợp ADN nh
ằm cải thiện
một bước công nghệ gen trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng [65].
3.7 Khả năng bảo vệ của kháng nguyên
Kháng nguyên tạo ra kháng thể tương ứng, nhưng không phải tất cả các kháng
nguyên đều liên quan đến việc gây bệnh và sinh miễn dịch. Thường có 1-2 kháng nguyên
quyết định tính sinh miễn dịch và cũng là kháng nguyên bị kháng thể trung hòa nếu xâm
nhập vào cơ thể đã được miễ
n dịch. Kháng nguyên này nằm ngay trên bề mặt của hạt
virut. Đó là kháng nguyên chịu trách nhiệm tiếp xúc đầu tiên trên tế bào chủ. Với hạt
virut VNNB thì kháng nguyên ngưng kết hồng cầu (HA) và hoạt tính trung hòa là
glycoprotein trên preM và E (vỏ và tiền màng của virut), cũng chính 2 thành phần
glycoprotein này sinh kháng thể ƯCNKHC (HI) và kết hợp bổ thể (CF), kháng thể trung
hòa (NT) [31, 96, 111, 151]. Để chứng minh đều này khi Kitano và Suzuki đã tách chiết
ngưng kết tố hồng cầu trên bề mặt hạt virut VNNB rồ
i gây miễn dịch cho chuột nhắt
trắng. Kết quả là kháng thể trung hòa ở chuột được gây miễn dịch với hạt virut VNNB
nguyên vẹn và bằng kháng nguyên HA đều có hiệu giá như nhau. Từ đó hai tác giả kết
Hình 3 : Sơ đồ nhân lên của flaviviruses [148]
Virut VNNB nhân lên trên nhiều loại tế bào cả ở trên tế bào tiên phát và tế bào
thường trực, chúng có nguồn gốc từ
người, khỉ, gặm nhấm, lợn, chim, gia cầm và muỗi
[23, 24, 45]. Tế bào thận bào thai người, thận khỉ, thận lợn, tế bào phôi gà các dòng tế
bào thường trực như GMK2, Vero (thận khỉ), BHK21 (thận chuột đất vàng), C6/36 (tế
bào muỗi Albobitus). Virut nhân lên gây hủy hoại tế bào (CPE) nhưng cũng có một số
7. Sự hình thành
virion trong NSC
1. Gắn kế
t
th
ụ thể
2
.
Th
ụ
t
h
méo mó. Tăng sinh tiểu thể Lysosom và làm loãng nguyên sinh chất của tế bào. Hoạt tính
enzym lysosom tăng lên trong tổ chức tế bào nhiễm [132].
5. Sinh bệnh học
Virut VNNB có cấu trúc kháng nguyên giống như các flavivirus khác, bao gồm
virut viêm não St. Louis, virut West Nile vì vậy, chúng có phản ứng chéo với các epitop
trung hòa với virut VNNB trên kháng nguyên bề mặt E. Một số phân typ của kháng
nguyên đã được nghiên cứu, mặc dù vậy cho đến nay nghiên cứu sự khác nhau giữ
a các
phân typ về độc tính thần kinh, vật chủ vẫn còn nghèo nàn. Vẫn các giả thiết, muỗi đốt
qua da rồi virut nhân lên tại chỗ sau đó tiến đến các hạch lympho vùng. Virut tấn công
đến hệ thần kinh trung ương và chắc chắn sẽ đến hệ tuần hoàn tổn thương tế bào thần
kinh trung ương rồi hủy hoại hệ thần kinh trung ương [92]. Virut nhân lên và khu trú ở
não, vùng chất xám, vùng đồi thị, tiểu não và có mặt trong nước não t
ủy [40, 74, 75, 76].
Chẩn đoán căn nguyên VNNB chủ yếu dựa vào huyết thanh học [61, 80]. Sử dụng
bộ sinh phẩm MAC-ELISA để phát hiện sớm IgM đặc hiệu kháng virut VNNB trong
nước não tủy hoặc trong máu bệnh nhân trong vòng 4-7 ngày sau khởi bệnh [8, 22, 25,
26, 48, 71, 194]. Những phương pháp chẩn đoán khác như dot-blot hoặc kỹ thuật tủa
miễn dịch (immuniprecipitation IgM assay) phát hiện IgM [167]. Có thể phân lập virut từ
máu bệnh nhân trong giai đoạ
n sớm, từ dịch não tủy hoặc từ não tử thi. Kỹ thuật PCR để
phát hiện hệ gen đặc hiệu của virut, đặc biệt trong dịch não tủy cũng dễ dàng phát hiện
được sự có mặt của hệ gen virut VNNB [68, 93, 107, 133].
Mô hình nghiên cứu thí nghiệm trên chuột nhắt trắng là rõ ràng nhất [40]. Những
nghiên cứu sâu về các thể lâm sàng và nhiễm virut thể ẩn cho thấy mức độ thể hiện lâm
sàng: từ t
ừ, đột ngột, thể nhẹ, thể nặng, thể ẩn phụ thuộc vào các yếu tố: đường gây
nhiễm (dưới da, phúc mạc, não); số lượng virut xâm nhập vào cơ thể; tính độc lực của
chủng virut; tuổi cảm nhiễm của vật chủ Vật chủ là yếu tố rất quan trọng về tạo miễn
dịch, sinh interferon. Sức khỏe của vật chủ ảnh hưởng
Máu
Huyết tương
Tổ chức biểu mô
Kháng thể thể dịch
Nội mô mao mạch
Tế bào nội mạc võng mô
- Rối loạn chức năng tế bào
- Ly giải tế bào
- Viêm tế bào
Thần kinh đệm
Lymphocyt
Macrophage
KT của hệ thần kinh
trung ương
Mô thần kinh
11
nghiên cứu theo dõi và miêu tả các tổn thương thần kinh trung ương cho thấy, liệt ngoại
biên, liệt 4 chi và liệt toàn thân [66]. Miyake mô tả lại bệnh lý thể hiện ở người trong giai
đoạn cấp: xung huyết, phù nề, xuất huyết vi thể ở não, gây hủy hoại và thái hóa tế bào
thần kinh, viêm tắc mạch vi thể chủ yếu xảy ra ở chất xám, não giữa và thân não [111].
Ngoài ra các thương tổn ngoài tổ chức thần kinh như tă
ng sinh các trung tâm bạch huyết,
viêm cơ tim, xuất hiện các tế bào kuffler ở gan, viêm phổi, xuất huyết thận [160].
Lợn nhiễm virut viêm não dẫn đến sẩy thai và tìm thấy các thương tổn ở bào thai
lợn bị sẩy. Virut viêm não còn gây vô tinh, viêm mào tinh hoàn, viêm bao tinh hoàn và
dừng sinh tinh dịch. Sau khi tiêm virut viêm não vào chuột cái chửa cũng gây sẩy thai. Ở
người cũng đã chứng minh nhiễm virut truyền qua nhau thai, gây sẩy thai và đã phân lập
được virut ở bào thai [111].
Đáp ứng miễn dị
chuột hamster. Đó là động vật dễ cảm nhiễm với virut VNNB nhưng các yết tố có quyết
định đến tính sinh bệnh là :
+ Đường gây nhiễm.
+ Lượng virut thâm nhập vào cơ thể.
+ Tuổi cảm nhiễm.
+ Độc lực thần kinh của chủng gây nhiễm.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu, đều có chung một nhậ
n xét là chuột non có tính cảm
nhiễm mạnh hơn chuột già [54]. Họ còn chứng minh đường gây nhiễm trực tiếp vào não,
thời gian ủ bệnh và phát bệnh nhanh hơn đường ngoại biên [52]. Năm 1991, Ogata đã
chứng minh virut viêm não có ái tính với tế bào thần kinh [125]. Dù đường vào cơ thể
bằng trực tiếp với tổ chức não hay bằng đường ngoại biên thì virut cũng theo các hạch
bạch huyết, hướng tới các nơron thầ
n kinh và nhân lên mạnh mẽ, nhanh chóng ở tổ chức
tế bào thần kinh. Miura đã nghiên cứu, phân tích về tính độc lực thần kinh ở chủng độc
lực có một gen trội, chính gen này quyết định tính độc lực của chủng virut VNNB. Huang
và Wong đã nghiên cứu và công bố kết quả trùng lặp với một số tác giả trước đó là:
Trong giai đoạn cấp tính virut VNNB nhân lên và gây tổn thương tổ chức não như hiện
tượng xung huyế
t, phù nề và xuất huyết ở não chuột [66, 122]. Các tiêu bản cắt cực mỏng
soi trên kính hiển vi cho thấy sự thoái hóa, hoại tử tế bào thần kinh, hạch thần kinh đệm,
nơron thần kinh, hiện tượng viêm quanh mao mạch [54, 132]. Các hiện tượng này xảy ra
ở não trung gian, não giữa và thân não chủ yếu ở vùng chất xám. Ngoài ra người ta cũng
ghi nhận được sự tăng sinh của các trung tâm bạch huyết, tăng các tiểu thể Malpighi ở
lách, viêm c
ơ tim, viêm tế bào Kuffler ở tổ chức gan, viêm giãn phế nan ở phổi và các nốt
xuất huyết cục bộ ở thận. Johnson đã phát hiện thấy các kháng nguyên virut VNNB tập
trung ở nơron thần kinh vùng đồi thị và thân não của bệnh nhân tử vong do VNNB [75].
Nghiên cứu virut VNNB ở lợn cho thấy lợn không có triệu chứng viêm não mà
thường virut viêm não gây thai chết lưu hoặc sẩy thai và đã chứng minh virut viêm não ở
6.2.1 Phân lập virut [43, 80, 81, 94, 162, 112, 193]
- Tiêm vào não chuột sơ sinh
- Nuôi cấy trên tế bào phôi gà, phôi vịt tiên phát
- Nuôi cấy trên các dòng tế bào thường trực: Vero, LLCMK
2
, C6/36 và AP/61.
- Kỹ thuật tiêm vào muỗi
6.2.2 Phát hiện kháng nguyên [39, 143, 145, 193]
- Ngưng kết hồng cầu thụ động ngược.
- Miễn dịch huỳnh quang.
- Miễn dịch gắn vàng, bạc (MIGSS).
6.2.3 Phát hiện kháng thể [26, 36, 45, 55, 167]
- ELISA tóm bắt kháng thể IgM
- Avidin biotin system
- Kỹ thuật hấp phụ miễn dịch gắn Biotin
- Thử nghiệm miễn dịch DOT tóm bắt IgM phát hiện màng nitrocellulose
- Kỹ thuật ngưng kết hồng cầu
- Kỹ thuậ
t kết hợp bổ thể
- Kỹ thuật tan huyết phóng xạ đơn
- Kỹ thuật trung hòa
14
Để có thể chẩn đoán phân biệt viêm não do herpes hay VNNB , vùng tổn thương
chủ yếu là diencephalon và basal ganglia, nơi virut herpes gây viêm não thường gây biến
đổi ở vùng sừng trước.
6.2.4 Chẩn đoán căn nguyên [8, 166, 167]
Dựa vào phân lập virut, phát hiện kháng nguyên, kháng thể đặc hiệu trong máu,
trong dịch não tủy. Chẩn đoán phòng thí nghiệm xác định VNNB theo một trong ba yêu
cầu sau:
6.2.4.2 Phân lập virut trên tế bào [44, 69]
15
Sau khi tiêm não chuột ổ (+). Não chuột nhiễm được nghiền đồng nhất 10-20%
trong PBS pH8. Ly tâm loại tủa, lọc vô trùng (millipore Millex). Huyền dịch virut sau lọc
được cấy vào tế bào C6/36 (nhạy nhất) hoặc Vero Theo dõi sử hủy hoại của tế bào,
trong 14 ngày nếu có CPE sớm hơn thì gặt và cấy truyền tiếp để nâng hiệu giá.
Hình 5: Sơ đồ phân lập virut viêm não Nhật Bản [150]
6.2.5 Định loại virut VNNB [43]
Bệnh nhân Tử thi
Mẫu bệnh phẩm để
tiêm truyền
- Máu, huyết thanh, plasma
(khởi bệnh 1-4 ngày)
- Dịch não tủy
- Não: Sinh thiết vùng chất xám.
- Lách, phổi, gan và các cơ quan
khác
Xử lý
- Tách chắt huyết thanh, bỏ
máu đông.
- Pha loãng 1/10 hoặc không
pha loãng
- Nghiền đồng nhất 10-20%
trong PBS pH8, có chất bền
vững và kháng sinh. Ly tâm
1000v/p, trong 20 phút.
- Lấy nước nổi pha 10
- Chuẩn độ PFU
bằng phương
pháp phủ thạch
Tiếp tục tiêm
truyền trên chuột,
trên tế bào hoặc
trên muỗi
Xác định động
vật hoặc tế bào
thích h
ợpChuột ổ
Tế bào muỗi
C6/36, BHK21,
Vero
Phương pháp khó
thực hiện (cần
p
hải điêu luyện)
(+) (-)
Hủy
(+) (-)
Hủy
16
Sau khi tiêm truyền nhiều lần (theo sơ đồ phân lập) cho đến khi đạt hiệu giá ≥ 10
-5
chuẩn bị kháng thể đơn dòng để
loại trừ.
Lấy kháng nguyên HA thử nghiệm
với KHT mẫu chuẩn
Thử nghiệm khuếch đại gen bằng
kỹ thuật PCR với cặp mồi đặc
hiệu.
Nếu nghi ngờ virut Arbo mới cần
mở rộng định loại, phối hợp với
các phòng Thí nghiệm chuẩn thức
quốc tế để thực hiện định loại
bằng kỹ thuật PCR và phân tích
trình tự gen (sequencing).
Nếu không tìm thấy virut nhưng nghi
ngờ thì phải phân lập lại từ đầu17
nghiệm vì kỹ thuật đơn giản và không cần thiết bị [38]. Do đó, giá thành để xét
nghiệm rẻ hơn so với các kỹ thuật khác.
- Kết hợp bổ thể (CF): Hầu như ít phòng thí nghiệm còn sử dụng vì phức tạp và độ tin
cậy thấp.
- Hấp phụ liên kết enzym (ELISA): gồm có GAC-ELISA để phát hiện kháng thể IgG
và MAC-ELISA để phát hiện IgM. Là các kỹ thuật đang sử dụng rộng rãi ở các phòng
thí nghiệm trên th
ế giới [22, 43].
- Miễn dịch huỳnh quang (IF)[143]: với kháng nguyên chuẩn: Yêu cầu trước tiên kính
hiển vi huỳnh quang, đây là một loại thiết bị đắt tiền và các sinh phẩm chuẩn thức
quốc tế, do đó các tuyến dưới khó có thể áp dụng nếu không có kinh phí và không
được đào tạo.
vong. Số còn sống sót đều để lại di chứng thần kinh và tinh thần cần tiếp tục điều trị và
chăm sóc. Hầu hết di chứng để l
ại ở trẻ <10 tuổi [112, 159].
Kinh nghiệm cho thấy phụ nữ mang thai mắc viêm não rất hạn chế. Tuy nhiên một
nghiên cứu của Uttar Pradesh (Ấn Độ) đã xác định rằng nguy cơ sẩy thai ở 1-6 tháng
mang thai nếu nhiễm virut viêm não thể nặng [46, 91]. Vấn đề này còn được tiếp tục
nghiên cứu mới có kết luận đầy đủ. Một vài thể VNNB ở góc độ dịch tễ học cần phả
i tiếp
tục nghiên cứu. Ví dụ phân vùng địa lý, lưu hành virut giữa các vụ dịch, chu kỳ dịch
bùng phát
Tính nghiêm trọng của bệnh thể hiện ở bệnh cảnh lâm sàng. Thời kỳ ủ bệnh 5-16
ngày. Sau đó, khởi bệnh ồ ạt bằng các triệu chứng sốt cao đột ngột, đau đầu, đau cơ, buồn
nôn, nôn. Tiếp đến là rối loạn ý thức xuất hiện các dấu hiệ
u như lú lẫn, mê sảng, hôn mê.
Rối loạn vận động như trương lực cơ tăng, chân tay co cứng, cứng gáy, cử động bất
thường, có các cơn co giật. Nặng hơn là liệt nửa người hoặc liệt toàn thân. Bệnh để lại di
chứng liệt vận động hoặc rối loạn tinh thần. Bệnh VNNB thể hiện rất đa dạng: từ thể
VNNB điển hình, viêm màng não n
ước trong đến những trường hợp nhẹ chỉ sốt, đau đầu
và phần nhiều là nhiễm virut nhưng không biểu hiện triệu chứng gọi là nhiễm thể ẩn với
tỷ lệ 200/1-300/1, có nghĩa là cứ 200-300 trường hợp nhiễm mới có mội trường hợp điển
hình. Hoặc theo TCYTTG tỷ lệ này giao động 200/1- 1000/1.
Tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh VNNB
Cần phối hợp d
ịch tễ học, lâm sàng và xét nghiệm. Dựa vào các tiêu chuẩn dưới
đây để chẩn đoán bệnh VNNB:
- Dịch tễ học
Vùng có lưu hành các yếu tố dịch tễ học và gây bệnh VNNB như nuôi lợn gần
nhà, muỗi Culex phát triển, mùa bệnh tháng 4-tháng 7 hàng năm. Tuổi cảm nhiễm 1-15
tuổi, đặc biệt ở nhóm 1-4 tuổi.
Hình 7: Sự lan truyền của virut VNNB kể từ lần đầu tiên được ghi nhận 1871 cho đến
năm 1998 đã đến Australia [163]
Virut VNNB lưu hành rộng rãi ở hầu hết các nước trong khu vực châu Á (hình 7),
bao gồm: Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Triều Tiên, Philippine, vùng viễn đông Nga,
tất cả các nước Đông Nam Á và Ấn Độ. Dần dần nó đã lan tràn đến các vùng khác không
thuộc châu Á như vùng Torres của Australia [49, 141]. Hàng năm, trong khu vực này có
khoảng 50.000 trường h
ợp mắc và trong đó có khoảng 10.000 tử vong, số sống sót mang
nhiều di chứng thần kinh nặng nề [164].
Bảng 1 : Phân bố bệnh VNNB ở một số nước theo vùng và mùa [171]
Nước Vùng lưu hành Mùa truyền bệnh Ghi chú
Bangladest
Ít số liệu, dự đoán lưu
hành rộng
Tháng 7- tháng 12
(giống miền Bắc Ấn
Độ)
Dịch rải rác một số huyện,
không thông báo đầy đủ
Bhutan Không có số liệu Không có số liệu Không có số liệu
Brunei Dịch rải rác giống
Malaysia
Lưu hành quanh năm
Cambodia
Lưu hành dịch cao và
rộng khắp trong cả nước
Tháng 5 - tháng 10 Dự phòng cao ở những
vùng nông thôn gần Phnom
tháng 11-tháng 3 ;
Bệnh dịch ở người xảy ra ở
Bali và Java ; chỉ 4 ca
khách du lịch đến Bali
21
tháng 6- tháng 7 ở
một số nơi
Nhật Bản Hiếm, một vài ca rải rác
ở tất cả các đảo trừ
Hokkaido
Tháng 6 - tháng 9,
Đảo Okinawa tháng 4
– tháng 10
Tiêm văcxin không thường
xuyên, khuyến cáo du
khách đến Tokyo và các
thành phố có dịch phải tiêm
văcxin
Hàn Quốc Bắc Triều Tiên không
có số liệu; Nam Triều
Tiên dịch xảy ra rải rác
Tháng 7 - tháng 10 ;
hầu hết ca dịch vào
tháng 8 và tháng 9
Vụ dịch lớn xảy ra vào năm
1982-1983
Lào Lưu hành trong cả nước Có thể tháng 5 -
tháng 10
Không thống kê, rất ít tiêm
Bắc Trung Quốc:
tháng 5 – tháng 9;
Nam Trung Quốc:
tháng 4 – tháng 10
Đang tiêm phòng tích cực,
khuyến cáo du khách tiêm
phòng trước khi vào Trung
Quốc
Pakistan Châu thổ miền trung Tháng 6 - tháng 1 Thông báo ca bệnh ở
Karachi, vùng lưu hành
VNNB và West Nile virus
Philippine Hầu như xảy ra ở tất cả
các đảo
Tháng 4 – tháng 11 ;
đỉnh vào tháng 9 và
tháng 1
Dịch được thông báo ở
Nueva Ecija, Luzon và
Manila
LB Nga Vùng Trung cận đông
maritime, Phía Nam của
Khabarousk
Tháng 7 – tháng 9 Ca bệnh ghi nhận đầu tiên
cách đây 30 năm
Singapore Hiếm gặp Quanh năm, đỉnh
bệnh vào tháng 4
Không tiêm phòng thường
xuyên
Australia và
Papua New
Guinea
Dịch ở miền Bắc đảo
Mariana và Torres
Strait, Australia và một
số ca rải rác ở bờ biển
phía Tây, của Cap York
Penninsula, Australia và
phía Tây của Papua
New Guinea
Tháng 9 – tháng 1
(Thái Bình Dương)
và tháng 3 – tháng 4
(Torres Strait)
Chu kỳ truyền bệnh trong
động vật không thể duy trì
ở các đảo, dịch có thể theo
mùa và phụ thuộc vào virut
phát triển
Bệnh VNNB thường do muỗi Culex đốt truyền vào ban đêm. Tỷ lệ nhiễm ở muỗi
vào khoảng 1-3% [70]. Loài muỗi này sống chủ yếu ở đồng ruộng lúa nước nhưng có thể
di chuyển vào vùng dân cư sinh sống gần đó. Các ca bệnh thường là ở vùng ngoại ô thành
phố [70, 175, 186]. Các động vật hoang dã và động vật nuôi như Lợn, Chim là vật chủ
chính cho virut VNNB phát triển, người là vật chủ cuố
i cùng và tồn tại trong thời gian
ngắn với hiệu giá virut ở máu ngoại vi rất thấp [186]. Hầu hết số nhiễm không có biểu
hiện lâm sàng, tỷ lệ nhiễm trên thể ẩn vào khoảng 1/30-1/50 [186]. Theo Bernard Field là
1/200-1/300 (tùy thuộc từng vùng lưu hành). Tuổi mắc tập trung ở trẻ <15 tuổi, ở người
hết khí hậu những khu vực này là ôn hòa, mưa nhiều, gió mùa phù hợp với các cánh đồng
ruộng lúa nướ
c, đồng thời chăn nuôi lợn cũng phát triển ở các nước này. Trên cơ sở về
môi trường của các nước nông nghiệp này tạo điều kiện cho chu kỳ truyền bệnh trong
thiên nhiên được dễ dàng. Vectơ phát triển tỷ lệ thuận với các động vật khuếch đại và chu
24
kỳ truyền virut sang người cũng dễ dàng nên số mắc bệnh ngày càng tăng nếu không có
văcxin dự phòng [14, 65].
- Miền Bắc Thái Lan có tỷ lệ mắc 25/10
5
dân số.
- Việt Nam: lưu hành rộng rãi từ Bắc đến Nam, nhưng đặc biệt nghiêm trọng là ở vùng
châu thổ Sông Hồng và Trung du, tỷ lệ mắc trung bình 5-6/10
5
dân.
- Nhật Bản và Hàn Quốc đã dự phòng bằng văcxin từ lâu nên số mắc bệnh rất thấp. Ở
Nhật Bản chỉ có 10-20 trường hợp/năm.
Bệnh VNNB trước tiên xuất hiện tại châu Á, chủ yếu là ở trẻ em dưới 15 tuổi.
Trong số nhiễm có 70% phát bệnh thể lâm sàng. Số mắc bệnh hoặc chết hoặc để lại di
chứng thần kinh suốt đời. Từ
ca bệnh được ghi nhận cuối thế kỷ 19, bệnh VNNB lan
truyền do du khách từ vùng viễn nam như châu Úc và viễn Tây như Pakistan. Đến nay
bệnh VNNB chưa lan truyền đến châu Phi, châu Âu và châu Mỹ. Văcxin VNNB được sử
dụng từ năm 1941 nhưng rất hạn chế ở nhiều nước lưu hành bệnh. 60 năm trước có
khoảng 10 triệu trẻ em mắc VNNB, tử vong 3 triệu và di chứng thần kinh lâu dài > 4
triệu. Việc giám sát bệnh VNNB còn nghèo nàn và h
ạn chế. Không được tiêm văcxin đầy
đủ, thiếu sự hướng dẫn và hỗ trợ thường xuyên để tiêm chủng và ý thức về phòng chống
bệnh VNNB còn chưa quán triệt đầy đủ.