Luận văn
Thúc đẩy hoạt động xúc tiến
xuất khẩu hàng nông sản
của Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ XTTM VÀ HỆ
THỐNG CÁC TỔ CHỨC XTTM TẠI VIỆT NAM 9
1.1. Khái quát các quy định của Nhà nước về XTTM 9
1.1.1. Khái niệm và vai trò của XTTM 9
1.1.2. Khái quát các quy định của Nhà nước về XTTM 12
1.2. Hệ thống các tổ chức XTTM tại Việt Nam 15
1.2.1. Cấp quốc gia 15
1.2.2. Các tổ chức XTTM và các hiệp hội ngành hàng 17
1.2.3. Các tổ chức kinh doanh dịch vụ XTTM 17
1.2.4. Các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU
HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM 19
2.1. Khái quát tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản 19
2.1.1. Tình hình sản xuất nông sản 19
2.1.2. Tình hình xuất khẩu nông sản 24
2.2. Thực trạng hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản 30
2.2.1. Hoạt động XTXK ở cấp quốc gia 30
2.2.2. Hoạt động XTXK ở các Hiệp hội 33
2.2.3. Hoạt động XTXK ở các doanh nghiệp 38
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
HCTL Hội chợ triển lãm
NLTS Nông lâm thủy sản
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
VFA Hiệp hội Lương thực Việt Nam
VAFEC Trung tâm Tiếp thị Triển lãm Nông nghiệp và phát
triển nông thôn
VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Vietfores Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam
WTO Tổ chức thương mại thế giới
XTTM Xúc tiến thương mại
XTXK Xúc tiến xuất khẩu
EU Liên minh châu Âu
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ Bảng 2.1: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá so sánh 1994 phân theo ngành
hoạt động 21
Bảng 2.2: Diện tích trồng rừng tập trung và sản lượng gỗ khai thác giai đoạn
2006 - 2009 22
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá so sánh 1994 phân theo ngành
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng kim
ngạch xuất khẩu các mặt hàng này vẫn đạt hơn 15,2 tỷ USD, vượt 8,5% chỉ
tiêu mà Chính phủ đề ra (14 tỷ USD). Tuy nhiên, tổng giá trị xuất khẩu nông
sản vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Người nông dân và
doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề này
và cũng chưa nhận được sự hỗ trợ kịp thời. Bên cạnh đó, nền nông nghiệp còn
bộc lộ những lỗ hổng cần phải giải quyết ngay như vấn đề vệ sinh an toàn
thực phẩm, dây chuyền công nghệ sản xuất, bảo quản sản phẩm, quy trình
đóng gói
Bênh cạnh đó là xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế
giới đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến từng quốc gia trong đó có Việt Nam.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta được đánh dấu bởi những sự
kiện quan trọng như: gia nhập vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), tham gia vào diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC), là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đó thực sự
là cơ hội và cũng là thách thức không nhỏ đối với hàng nông sản của Việt
Nam. Do đó, để đưa nông sản Việt Nam vươn ra thị trường thế giới và khẳng
định được vị thế của nó thì cần phải đẩy mạnh hơn nữa hoạt động XTTM.
Sau một thời gian thực tập ở Cục xúc tiến thương mại, em nhận thấy
hoạt động XTTM đối với hàng nông sản xuất khẩu bên cạnh những thành
công nhất định thì vẫn còn những tồn tại cần khắc phục. Do đó, em đã chọn
đề tài nghiên cứu: “Thúc đẩy hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản
của Việt Nam”.
Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng hoạt động XTTM đối với hàng nông sản qua đó
đánh giá những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại trong công tác
XTTM đối với mặt hàng này. Từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động XTTM đối với hàng nông sản của
CHƯƠNG 1: CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ XTTM VÀ HỆ
THỐNG CÁC TỔ CHỨC XTTM TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái quát các quy định của Nhà nước về XTTM
1.1.1. Khái niệm và vai trò của XTTM
1.1.1.1. Khái niệm XTTM
Xúc tiến thương mại là thuật ngữ ra đời từ lâu cùng với sự hình thành
và phát triển của khái niệm marketing. Tuy nhiên, trong những thập niên gần
đây, các quốc gia, doanh nghiệp mới có sự quan tâm và chú trọng đến hoạt
động này. Qua thời gian, XTTM có rất nhiều các định nghĩa khác nhau như
sau:
- Theo cách truyền thống, XTTM được hiểu là hoạt động trao đổi và hỗ
trợ trao đổi thông tin giữa người bán và người mua, hoặc qua khâu trung gian
nhằm tác động tới thái độ và hành vi mua bán qua đó thúc đẩy việc mua bán,
trao đổi hàng hóa và dịch vụ chủ yếu nhằm mở rộng và phát triển thị trường.
- Trong cuốn “Essentials of Marketing” Jerome và William định nghĩa
như sau: “XTTM là việc truyền tin giữa người bán và người mua hay những
khách hàng tiềm năng khác nhằm tác động vào hành vi và quan điểm của
người mua hàng. Chức năng XTTM chính của nhà quản trị marketing là mách
bảo cho khách hàng mục tiêu biết đúng sản phẩm, đúng chỗ và đúng giá.”
- Còn Dennis W. Goodwin thì: “XTTM là một lĩnh vực họat động
được lợi thế cạnh tranh?”
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cùng với xu thế toàn cầu hóa và tự
do hóa thương mại trên thế giới đã mở ra những cơ hội, hướng đi mới cho các
doanh nghiệp trong việc củng cố và tăng cường hệ thống tổ chức và nâng cao
sức cạnh tranh. Ngày nay, hai yếu tố cơ bản tạo nên thị trường thế giới là:
cạnh tranh quyết liệt trên phạm vi toàn cầu và sự tiến bộ không ngừng về
khoa học kỹ thuật. Do đó, các doanh nghiệp phải có tầm nhìn chiến lược
mang tính toàn cầu và đa quốc gia, chứ không chỉ bó hẹp trong lãnh thổ của
một quốc gia.
Trong những năm qua, hầu hết các nước trong đó có Việt Nam chú
trọng đến việc ban hành hệ thống luật pháp, chính sách thương mại và đầu tư
hấp dẫn, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút vốn và công nghệ của
nước ngoài. Và xu thế này sẽ vẫn tiếp tục mạnh mẽ và sôi động hơn, đặc biệt
là tại khu vực năng động nhất: Châu Á - Thái Bình Dương trong thời gian tiếp
theo. Vì vậy XTTM là công cụ không thể thiếu và hữu hiệu trong chiến lược
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
Từ khi Việt Nam là thành viên của các tổ chức lớn trên thế giới cũng
tạo ra những cơ hội to lớn để phát triển kinh doanh, mở rộng thị trường và đẩy
mạnh xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng đặt ra
những thách thức không nhỏ khi phải cạnh tranh gay gắt và bình đẳng giữa
các doanh nghiệp với nhau và với các doanh nghiệp nước ngoài không những
trong xuất khẩu mà cả trên thị trường nội địa. Do vậy, hoạt động XTTM đã,
đang và sẽ đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển xuất khẩu
của các doanh nghiệp hiện nay.
Trong bối cảnh tự do hóa thương mại toàn cầu hiện nay, khi hàng hóa
và dịch vụ được trao đổi buôn bán rất đa dạng và phong phú, để tồn tại và
phát triển các doanh nghiệp phải luôn tìm tòi, nghiên cứu đồng thời cải tiến
sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thay đổi nhanh chóng trên thị trường thế giới.
Mặt khác, Việt Nam là nước nông nghiệp có điểm xuất phát thấp lại
tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới muộn hơn nhiều so với
khiếu nại nếu có.
- Hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách
hàng dùng thử phải là hàng hoá, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà
thương nhân đang hoặc sẽ bán, cung ứng trên thị trường.
- Thương nhân khi thực hiện các hình thức khuyến mại phải gửi thông
báo bằng văn bản về chương trình khuyến mại đến Sở Thương mại nơi tổ
chức khuyến mại chậm nhất 7 ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại.
- Việc sử dụng sản phẩm quảng cáo thương mại có chứa đựng những
đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải được sự đồng ý của chủ sở
hữu đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đó.
Quyết định số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03 tháng 11 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ về ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình
xúc tiến thương mại quốc gia giai đoạn 2006-2010. Được xem như văn bản
đầu tiên và quan trọng về XTTM của Việt Nam do đó nó vẫn còn có những
bất cập như: thiên về hỗ trợ các mặt hàng truyền thống, nội dung hỗ trợ chưa
hoàn thiện, chưa có quy định cụ thể về thời hạn cấp tạm ứng kinh phí hỗ trợ
cho các Hiệp hội ngành hàng sau khi Chương trình được phê duyệt…Do đó
để nhằm nâng cao hơn nưa chất lượng và công tác XTTM thì Quyết định số
80/2009/QĐ-TTg ngày 21/5/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế
xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia giai đoạn
2006 – 2010, có hiệu lực và được thi hành từ ngày 15/7/2009. Đây được xem
là tín hiệu tích cực và thiết thực nhất trong nỗ lực tháo gỡ khó khăn cho doanh
nghiệp, tìm đầu ra cho hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới
với rất nhiều điểm mới quan trọng như sau:
- Mở rộng hơn về đối tượng tham gia Chương trình XTTM quốc gia so
với trước đây với việc bổ sung các tổ chức XTTM (bao gồm cả các đơn vị chủ
trì) được nhận kinh phí hỗ trợ khi tham gia chương trình XTTM quốc gia của
các đơn vị chủ trì khác. Điều này sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức XTTM của
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đại diện cho doanh nghiệp địa
phương tham gia vào hoạt động XTTM quốc gia để xúc tiến tiêu thụ các sản
- Hỗ trợ về thông tin bằng việc xây dựng website; phổ biến thông tin về thị
trường trong ngoài nước và các văn bản pháp quy mới.
- Tổ chức các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài
- Giới thiệu hoặc tổ chức (hay phối hợp tổ chức) các hội chợ quốc tế, tạo
điều kiện cho các cơ quan, doanh nghiệp của quốc gia đối tác giao lưu, xúc
tiến mua bán hàng hoá, dịch vụ.
- Tổ chức các chương trình tập huấn về kỹ năng, cách thức tiếp cận các thị
trường nước ngoài.
Hoạt động XTTM của nước ta được phối hợp thực hiện ở các bộ ban
ngành và nhiều cơ quan của Chính phủ, trong đó Bộ Công thương là đơn vị
chủ chốt đối với thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại.
Bộ Công thương: là cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách, soạn
thảo các văn bản liên quan đến hoạt động XTTM, đàm phán ký kết các hiệp
định thương mại song phương và đa phương, là cầu nối giữa các tổ chức
XTTM trong nước với các thương vụ và cơ quan đại diện của Việt Nam tại
nước ngoài, thực hiện các hoạt động thông tin thương mại, nghiên cứu thị
trường, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực…
Cục xúc tiến thương mại: là tổ chức trực thuộc Bộ Công Thương, thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về XTTM, thương hiệu và đầu tư phát triển
ngành công nghiệp và thương mại theo quy định của pháp luật. Trong đó, Cục
XTTM có nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau:
- Giúp Bộ trưởng Bộ công thương định hướng công tác XTTM: xây
dựng hoặc tham gia xây dựng chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về
xúc tiến thương mại; trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy trình, quy
phạm, quy chuẩn về xúc tiến thương mại; hướng dẫn và kiểm tra việc thực
hiện các quy định trên sau khi được duyệt.
- Nghiên cứu, dự báo và định hướng về thị trường trong nước và ngoài
nước để phát triển thị trường và sản phẩm thương mại; thu thập, xử lý và cung
cấp thông tin thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp công tác xúc tiến thương mại.
- Tổ chức tập huấn nhắm nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác
Chính phủ về luật và chính sách chi phối hoạt động nói chung và XTTM của
doanh nghiệp, quan hệ với các cơ quan tổ chức trong nước và nước ngoài
(thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, các văn phòng đại diện ở nước ngoài…).
- Cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh bao gồm đào tạo, tư vấn kỹ thuật,
tổ chức HCTL, hội thảo, hội nghị, mở rộng giao lưu quan hệ kinh doanh, thu
thập và cung cấp thông tin về những vấn đề có tác động đến hội viên.
- Các hoạt động khác như các hoạt động về nhân đạo, xã hội.
1.2.3. Các tổ chức kinh doanh dịch vụ XTTM
Bao gồm các công ty quàng cáo, tư vấn kinh doanh, cũng cấp các dịch
vụ thông tin, tư vấn về thị trường xuất khẩu, thiết kế và phát triển sản xuất, tư
vấn về hệ thống pháp luật pháp quốc tế… các tổ chức này cũng có vai trò
không nhỏ trong công tác quảng bá, giới thiệu hình ảnh doanh nghiệp, thương
hiệu sản phầm đến người tiêu dùng, là cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp
xuất khẩu với người tiêu dùng hiện nay.
1.2.4. Các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
Doanh nghiệp là đối tượng được sự hỗ trợ rất lớn về kinh phí của Nhà
nước và các bộ ngành có liên quan thông qua việc tham gia vào các chương
trình XTTM trọng điểm quốc gia mà các cơ quan chủ trì là các Hiệp hội
ngành hàng và các tổ chức XTTM phối hợp thực hiện. Hiện nay, hoạt động
XTTM thực sự là “cánh tay đắc lực” mở đường cho hoạt động xuất khẩu của
doanh nghiệp. Hầu như các doanh nghiệp đều nhận thấy rằng XTTM hiệu quả
thì hoạt động kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng
phát triển. Do đó, doanh nghiệp luôn tích cực phối hợp hoạt động với các bộ
ban ngành và các tổ chức để thực hiện tốt công tác XTTM.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ các tổ chức Xúc tiến thương mại của Việt Nam
Nguồn: Sinh viên tự tổng hợp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT
KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, lạm phát tăng,
tỷ giá hối đoái thay đổi gây ra những khó khăn trong xuất khẩu hàng hoá và
dịch vụ, ngành nông nghiệp thì gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, giá
nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, sự cạnh tranh về giá nông sản giữa các quốc
gia…nhưng giá trị tổng sản phẩm trong nước vẫn tăng lên một phần do đất
nước đang trong quá trình hội nhập WTO, cùng các chính sách mở cửa và nỗ
lực cải thiện môi trường kinh doanh của Chính phủ, các chương trình cải cách
hành chính, hỗ trợ về vốn tiếp tục đẩy mạnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh.
2.1.1.2. Tình hình sản xuất ngành nông lâm thuỷ sản
a. Tình hình sản xuất nông sản
Sau khi tìm hiểu về tình hình sản xuất chung của cả nước chúng ta xem
xét đến tình hình sản xuất nông sản trong những năm gần đây. Mặc dù không
ít những khó khăn nhưng nỗ lực cải tiến, đổi mới phương thức hoạt động và
sản xuất cũng những biện pháp hỗ trợ kịp thời, thích hợp đã giúp ngành này
vẫn tăng trưởng đều đặn qua các năm.
Bảng 2.1: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá so sánh 1994 phân theo
ngành hoạt động
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm Tổng số
Chia ra
Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ
2006 142711 111613,0 27907,4 3190,6
2007 147846,7 115374,8 29196,1 3275,8
2008 156681,9 122375,7 30938,6 3367,6
2009 160081 123470 33133 3478
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhìn vào bảng 2.1 ta thấy tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng
lên liên tục qua các năm từ năm 2006 là 142711 tỷ đồng lên đến 160081 tỷ
đồng vào năm 2009 tăng 1,12 lần. Trong đó các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi
lâm nghiệp (tỷ đồng)
2006 192,7 3128,5
6408,4
2007 189,9 3461,8
6603,1
2008 200,1 3562,3
6752
2009 212 3766,7
7008
Nguồn: Tổng cục thống kê
Qua bảng số liệu 2.1, ta thấy được giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp
cũng liên tục tăng qua các năm đã tăng từ 6408,4 tỷ đồng năm 2006 lên đến
7008 tỷ đồng năm 2009 tăng gấp 1,09 lần. Trong đó diện tích trồng rừng tập
trung và sản lượng gỗ khai thác đều có xu hướng tăng như sau: diện tích trồng
rừng tăng 1,1 lần từ 192,7 nghìn ha năm 2006 lên đến 212 nghìn ha năm 2009
còn sản lượng gỗ khai thác tăng nhiều hơn là 1,2 lần từ 3128,6 nghìn m3 năm
2006 lên đến 3766,7 nghìn m3 năm 2009. Nhìn vào bảng trên ta cũng thấy
rằng diện tích trồng rừng tăng không đáng kể so với lượng gỗ khai thác đó là
do những nguồn lợi lớn từ gỗ gây nên tình trạng chặt phá rừng bừa bãi điều
này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến sự cân bằng môi trường sinh thái, giá trị sản
xuất ngành lâm nghiệp. Do đó, trong thời gian tới cần có những biện pháp cụ
thể và thích hợp để vừa bảo vệ và trồng rừng, khai thác rừng hợp lý để đạt
hiệu quả cao trong giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp.
c. Tình hình sản xuất thuỷ sản
Số liệu của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) cho thấy, sản
lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2006 của thế giới là 63 triệu tấn triệu tấn.
Trong đó, Việt Nam cung cấp gần 1,7 triệu tấn, vẫn giữ ở vị trí thứ 5, chỉ sau
Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Philippines.
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá so sánh 1994 phân theo
ngành hoạt động giai đoạn 2006-2009
của Việt Nam thời gian qua thì tình hình xuất khẩu mặt hàng này cũng có
những thành công nhất định. Từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2008, nền kinh
tế toàn cầu bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng, suy thoái kinh tế và dấu
hiệu nhận thấy rõ ràng nhất đó là sự suy giảm nhanh chóng về nhu cầu nhập
khẩu NLTS trên thế giới trong khi nền kinh tế Việt Nam đang hướng đến sự
tăng trưởng về xuất khẩu mặt hàng lợi thế này.
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng NLTS chủ yếu
Các mặt
hàng
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Lượng
(tấn)
Trị giá
(1000USD)
Lượng
(tấn)
Trị giá
(1000USD)
Lượng
(tấn)
Trị giá
(1000USD)
Gạo 4557511 1489970 4741858 2894441 5958300