Báo cáo " Quy định về người làm chứng theo Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng hoà liên bang Đức " potx - Pdf 12

Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức

52 TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011 PGS.TS. Hoµng ThÞ Minh S¬n *
1. Khác với Bộ luật tố tụng hình sự
(BLTTHS) Việt Nam, BLTTHS của Cộng
hoà Liên bang Đức không quy định riêng về
người tham gia tố tụng hình sự. Tuy nhiên,
BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức lại
có hẳn một chương (Chương VI) quy định
về người làm chứng (từ Điều 48 đến Điều
71). Theo đó, bất kì người nào cũng có thể
trở thành người làm chứng, trừ bị cáo và
đồng phạm.
(1)
Khác với BLTTHS của Cộng
hoà Liên bang Đức, theo Điều 55 BLTTHS
Việt Nam thì người nào biết được những
tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể
được triệu tập đến làm chứng.
(2)
Những vấn
đề liên quan đến người làm chứng được quy
định rải rác trong các chương khác nhau, tùy
theo từng trường hợp cụ thể. Trong thực tiễn
tố tụng ở Việt Nam, mặc dù luật không quy

nhiên, có trường hợp lí do vắng mặt không
được đưa ra đúng thời hạn nhưng người làm
chứng vẫn được miễn trả chi phí và không
bị áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu họ
chứng minh được rằng việc giải thích nghĩa
vụ này cho họ bị chậm không phải do lỗi
của người làm chứng. Việc ban hành những
quyết định về các biện pháp như trên thuộc
thẩm quyền của thẩm phán trong giai đoạn
chuẩn bị tố tụng cũng như thẩm phán được
ủy thác theo yêu cầu.
(5)

Thứ hai, người làm chứng có nghĩa vụ
làm chứng một cách trung thực nếu không
có đặc quyền từ chối làm chứng.
* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự
Trường Đại học Luật Hà Nội
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011 53
BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức
quy định người làm chứng có quyền từ chối
khai báo vì những lí do sau đây:
- Quyền từ chối khai báo vì những lí do
cá nhân.
(6)

Những người sau đây có thể từ chối khai
báo: Vợ (hoặc chồng) chưa cưới của bị cáo;

lí do nghề nghiệp chuyên môn cũng có thể từ
chối khai báo, cụ thể như sau:
Giới tăng lữ, liên quan đến thông tin mà
họ được tin tưởng cho biết hoặc họ đã được
biết vì chức năng của mình với tư cách là
những người cố vấn về tinh thần;
Luật sư biện hộ cho bị cáo, liên quan đến
những thông tin mà họ được tin tưởng cho
biết hoặc được biết vì chức năng của mình;
luật sư, luật sư chuyên ngành sáng chế, công
chứng viên, kiểm toán viên, kế toán viên có
bằng chứng nhận, cố vấn về thuế và đại diện
thuế, bác sĩ, nha sĩ, người chữa bệnh bằng
các liệu pháp tâm lí, chuyên gia điều trị tâm
lí cho trẻ em và người chưa thành niên, dược
sĩ và bà đỡ, liên quan đến những thông tin
mà họ tin tưởng được cho biết hoặc được
biết vì chức năng của mình; các thành viên
hoặc các đại diện của cơ quan tư vấn được
công nhận theo Điều 3 và Điều 4 của Luật về
mang thai trong những tình huống xung đột,
liên quan đến những thông tin mà họ tin
tưởng được cho biết hoặc được biết vì chức
năng của họ; Người tư vấn về nghiện ma tuý
trong cơ quan tư vấn được công nhận hoặc
được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền,
đơn vị, viện hoặc quỹ theo luật công, liên
quan đến những thông tin mà họ tin tưởng
được cho biết hoặc được biết vì chức năng
của họ; Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 53

những người khác trong cơ quan công quyền
với tư cách là người làm chứng liên quan
đến những việc thuộc phạm vi nghĩa vụ của
công chức phải giữ bí mật cũng như việc cho
phép khai báo. Những thành viên của Quốc
hội Liên bang, quốc hội bang, của Chính phủ
Liên bang hoặc chính phủ bang và những
người làm việc trong nhóm công tác của
Quốc hội Liên bang, quốc hội bang sẽ là đối
tượng có thể được áp dụng những quy định
đặc biệt. Tổng thống Liên bang có thể từ
chối khai báo nếu lời khai của Tổng thống
bất lợi cho quyền lợi chung của Liên bang
hoặc một bang của Cộng hoà Liên bang Đức.
Những quy định này cũng sẽ áp dụng nếu
những người nói trên không còn là thành
viên của cơ quan công quyền hoặc những
người làm việc cho nhóm công tác của Quốc
hội nữa hoặc nếu nhiệm kì của họ đã kết
thúc liên quan đến những vấn đề xảy ra trong
nhiệm kì phục vụ, đến công việc hoặc cơ
quan của họ hoặc họ đã biết được trong
nhiệm kì phục vụ, khi làm việc hoặc tại cơ
quan của họ.
Thứ ba, người làm chứng có nghĩa vụ
xác nhận lời làm chứng của mình bằng cách
tuyên thệ trước thẩm phán.
Việc tuyên thệ được quy định tại các
điều từ Điều 59 đến Điều 67 BLTTHS của
Cộng hoà Liên bang Đức. Trước khi lấy lời

Toà án cũng có thể quyết định không
thực hiện việc tuyên thệ đối với người làm
chứng vào thời điểm lấy lời khai đã đủ 16
tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi cũng như người
chưa đủ 16 tuổi vào thời điểm lấy lời khai,
người không hiểu biết hết tầm quan trọng và
bản chất của lời tuyên thệ do họ là người có
nhược điểm về trí tuệ hoặc tâm thần hay tình
cảm là họ hàng của người bị hại hoặc của bị
cáo; toà án cho rằng lời khai của họ không
có tầm quan trọng lớn và không thể có được
lời khai quan trọng ngay cả khi thực hiện
việc tuyên thệ; người đã từng bị kết án về tội
khai báo gian dối trước toà án; hoặc nếu cơ
quan công tố, người bào chữa và bị cáo đều
bỏ qua thủ tục này. Đối với thủ tục tư tố thì
việc tuyên thệ chỉ được tiến hành khi toà án
thấy cần thiết bởi tính chất quan trọng quyết
định của lời khai hoặc nhằm có được lời khai
trung thực. Những người họ hàng của bị cáo
(vợ hoặc chồng chưa cưới của bị cáo; vợ
hoặc chồng của bị cáo; vợ hoặc chồng của bị
cáo ngay cả khi hôn nhân không còn tồn tại
nữa; người là hoặc đã có quan hệ trực hệ
hoặc quan hệ theo hôn nhân, quan hệ bàng
hệ ở hàng thứ ba hoặc có quan hệ theo hôn
nhân ở hàng thứ hai với bị can, bị cáo) có
quyền từ chối lời khai được tuyên thệ, họ sẽ
được thông báo quyền này. Lí do của việc
không tuyên thệ phải được ghi vào biên bản.

chứng nói rằng họ là thành viên của giáo
phái hoặc của cộng đồng theo tín ngưỡng
nào đó mong muốn sử dụng những nghi thức
của tôn giáo hay cộng đồng của họ thì người
đó có thể bổ sung vào lời tuyên thệ. Khi thực
hiện việc tuyên thệ, người tuyên thệ phải giơ
tay phải của mình lên.
Nếu người làm chứng nói rằng họ không
muốn thực hiện lời tuyên thệ vì những lí do
về đức tin hoặc lương tri thì người đó sẽ xác
nhận sự thật trong lời khai của mình. Sự xác
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức

56 TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011
nhận đó được coi là lời tuyên thệ. Người làm
chứng được thông báo về việc này. Sự thật
của lời khai sẽ được xác nhận bằng hình thức
thẩm phán nói với người làm chứng: “Anh
nhận được trách nhiệm của mình trước toà
án và xác nhận rằng, với tất cả những gì mà
anh biết anh đã nói toàn bộ sự thật và không
được giấu giếm bất cứ điều gì”. Sau đó,
người làm chứng sẽ nói: “Vâng”. Đối với
người làm chứng bị câm không thể tuyên thệ
bằng việc họ nói ra những nội dung trên thì
sẽ tuyên thệ bằng cách viết những câu như
trên ra và kí vào đó.
Đối với những người làm chứng đã được
lấy lời khai có tuyên thệ thì khi lấy lời khai
lần thứ hai trong thủ tục chuẩn bị tố tụng

trước đó cung cấp chứng cứ về các vấn đề đã
hỏi, trừ trường hợp thẩm phán đã tiến hành
thẩm vấn người làm chứng có thể được gọi
đến để cung cấp chứng cứ về những điều
người làm chứng đó đã khai. Nếu người làm
chứng chỉ từ chối đưa ra chứng cứ tại phiên
toà thì những lời khai chính thức trước đó
của họ được chấp nhận cho dù họ không được
thông báo về điều đó trong các cuộc thẩm vấn
trước đây. Trong trường hợp này, người đã
thẩm vấn người làm chứng có thể được gọi
đến toà án để cung cấp chứng cứ. Bản sao
biên bản các lời khai trước đó của người làm
chứng có thể được công bố tại phiên toà.
(9)

Ngoài những quy định nêu trên, BLTTHS
của Cộng hoà Liên bang Đức còn quy định
quyền từ chối cung cấp thông tin của người
làm chứng tại Điều 55, cụ thể là mọi người
làm chứng đều có thể từ chối trả lời bất cứ
câu hỏi nào mà việc trả lời sẽ làm cho họ
hoặc một số những người họ hàng của họ có
nguy cơ bị truy tố. Người làm chứng sẽ được
thông báo quyền từ chối cung cấp thông tin
của họ. Tuy nhiên, theo Điều 70 BLTTHS
của Cộng hoà Liên bang Đức thì người làm
chứng không có lí do chính đáng mà từ chối
khai báo hoặc tuyên thệ sẽ phải chịu khoản
chi phí phát sinh do việc từ chối này. Đồng

hình ảnh sẽ chỉ được chấp nhận với mục đích
truy tố về hình sự và chỉ được thực hiện ở
mức độ cần thiết để xác định sự thật.
4. Việc kiểm tra căn cước và các đặc
điểm về nhân thân của người làm chứng
được BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức
quy định tương đối cụ thể tại Điều 68. Theo
đó, phiên toà xét xử bắt đầu bằng việc người
làm chứng được yêu cầu nói rõ họ tên, tuổi,
công việc hoặc nghề nghiệp và nơi cư trú.
Những người làm chứng đã khai báo về nghề
nghiệp của họ có thể khai nơi làm việc của
mình thay cho nơi cư trú. Nếu có lí do cho
rằng người làm chứng hoặc người khác có
thể bị nguy hiểm vì người làm chứng khai
báo về nơi cư trú của họ thì người làm chứng
có thể được phép khai địa chỉ nơi công tác
hoặc nơi làm việc hay địa chỉ khác mà có thể
gửi các tài liệu đến đó thay cho việc khai báo
nơi cư trú. Thẩm phán chủ tọa phiên toà
cũng có thể cho phép người làm chứng
không khai báo nơi cư trú của mình tại phiên
toà khi có lí do nêu trên. Trường hợp có lí do
cho rằng việc tiết lộ căn cước, nơi cư trú hay
nơi ở của người làm chứng sẽ gây nguy hiểm
cho tính mạng, sức khoẻ hoặc tự do của
người làm chứng hay người khác thì người
làm chứng có thể được phép không khai báo
về những đặc điểm nhân thân hoặc chỉ khai
báo về những đặc điểm để xác định căn cước

kiện do pháp luật quy định
(14)
hay khi cần
đánh giá tính đáng tin cậy của họ.
5. Khác với BLTTHS Việt Nam, BLTTHS
của Cộng hoà Liên bang Đức có quy định
việc phân công luật sư tham gia khi lấy lời
khai của người làm chứng tại Điều 68b như
sau: Với sự đồng ý của cơ quan công tố, một
luật sư có thể được phân công tham gia trong
thời gian lấy lời khai của người làm chứng,
người mà trước đó không có cố vấn pháp lí
nếu có bằng chứng cho thấy họ không thể tự
thực hiện các quyền của mình trong quá
trình lấy lời khai và nếu bất kì lợi ích nào
đáng được bảo vệ của họ có thể không thể
được xem xét đến theo một cách khác. Khi
việc lấy lời khai liên quan đến tội phạm
nghiêm trọng; tội phạm ít nghiêm trọng quy
định tại các điều từ 174 đến 174c, 176, 179,
khoản 1 đến khoản 3 Điều 180, 180b, 182,
khoản 1, 2 Điều 225 BLHS của Cộng hoà
Liên bang Đức; tội phạm ít nghiêm trọng
khác có tính chất đáng kể liên quan đến lĩnh
vực thương mại hoặc thường xuyên được
thực hiện hoặc do thành viên của băng đảng
thực hiện hoặc được thực hiện bằng các thủ
đoạn khác có tổ chức thì việc phân công luật
sư sẽ được quyết định căn cứ vào yêu cầu
của người làm chứng hoặc của cơ quan công

những tình tiết do người làm chứng trình bày, nếu họ
không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
(12). Theo khoản 1 Điều 67 BLTTHS năm 2003 của
Việt Nam thì người làm chứng trình bày… quan hệ
giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo, người bị hại, người làm chứng khác. Còn theo
khoản 4 Điều 135 BLTTHS năm 2003 thì trước khi
hỏi về nội dung vụ án, điều tra viên cần xác minh
mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, người
bị hại và những tình tiết khác về nhân thân người
làm chứng.
(13). Họ hàng của người làm chứng trong trường hợp
này được hiểu là vợ (hoặc chồng) chưa cưới của
người làm chứng; vợ (hoặc chồng) của người làm
chứng, kể cả trường hợp đã li hôn; người là hoặc đã
có quan hệ trực hệ hoặc quan hệ theo hôn nhân, quan
hệ bàng hệ ở hàng thứ ba hoặc có quan hệ theo hôn
nhân ở hàng thứ hai với người làm chứng.
(14). Người làm chứng đã từng bị kết án về tội khai
báo gian dối trước tòa án theo quy định tại Điều 154
và Điều 155 Bộ luật hình sự của CHLB Đức…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status