TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN NHÓM
MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỀ TÀI:
BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Cô Lê Thị Thùy Dương
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Nhiệm vụ của đề tài 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM
CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6
1.1. Khái luận về người làm chứng 6
1.1.1. Khái niệm người làm chứng 6
1.1.2. Đặc điểm của người làm chứng 6
1.1.3. Vai trò của người làm chứng 8
1.1.4. Phân loại người làm chứng 9
1.1.5. Những trường hợp không được làm chứng 11
1.2. Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng 12
1.2.1. Quyền của người làm chứng 12
1.2.2. Nghĩa vụ của người làm chứng 14
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH QUYỀN VÀ LỢI ÍCH
HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM 15
2.1. Quyền được bảo đảm về vật chất của người làm chứng 15
2.2. Quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe, tính mạng của người làm
chứng 16
tụng, bên cạnh đó là những Quyết định do Bộ công an ban hành nhằm quy định
quy trình dẫn giải người làm chứng không được xâm phạm trái pháp luật tính
mạng, danh dự, nhân phẩm của người làm chứng bị dẫn giải, gồm: Quyết định số
810/2006/QĐ-BCA-C11 và quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA.
Những bổ sung tiến bộ về bảo đảm quyền của người làm chứng trong Tố tụng
Hình sự hiện hành đã quan tâm đến quyền con người theo nghĩa rộng, cụ thể là
đã bảo đảm một số quyền hiến định và luật định cho người làm chứng. Liệu rằng
việc ban hành những quy định trên lý thuyết có đi kèm với việc thực hiện hay
chưa, ngoài ra khi thực hiện đã và đang gặp phải những bất cập như thế nào, nay
để tìm hiểu sâu hơn vấn đề này và đưa ra những giải pháp cụ thể dựa trên thực
trạng hiện nay, nhóm quyết định thực hiện đề tài “Bảo đảm quyền, lợi ích của
người làm chứng theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam.”
Trang 3/25
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Cho đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu về chế định người làm chứng
nhưng chỉ mới dừng lại ở việc phân tích về những vấn đề lý luận của người làm
chứng nói chung, như: khái niệm, đặc điểm, vai trò của người làm chứng…nhằm
đưa ra các vướng mắc trong việc áp dụng quy định pháp luật về người làm chứng
vào thực tiễn. Tuy nhiên lại chưa có một đề tài nào nghiên cứu tổng quát và khai
thác cụ thể các bất cập của pháp luật trong việc bảo đảm quyền lợi của người làm
chứng như quyền được bảo đảm về vật chất; quyền được bảo đảm an toàn về sức
khỏe, tính mạng; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tinh thần để từ đó đưa
ra các kiến nghị hoàn chỉnh cơ sở pháp lý cũng như các giải pháp, các chế tài để
giải quyết các vấn đề trên nhằm bảo vệ quyền lợi cho người làm chứng. Dưới đây
là các công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu, bài viết trên báo, tạp chí trong và
ngoài trường có liên quan mà nhóm tác giả thu thập, thống kê được trong quá
trình tìm hiểu để thực hiện đề tài “BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI
LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM”:
Trong trường:
Nguyễn Hữu Việt (2012), Chế định người làm chứng trong pháp luật Tố tụng
giúp họ có thể hiểu một cách cơ bản nhất về quyền lợi mà họ được hưởng trong
quá trình vụ án được đưa ra xét xử, giúp họ mạnh dạn hơn khi ra tố giác tội
phạm và ra làm chứng bảo vệ công lý.
Trang 5/25
CHƯƠNG MỘT
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái luận về người làm chứng
1.1.1. Khái niệm người làm chứng
Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đưa ra khái niệm người
làm chứng như sau: “Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ án
đều có thể được triệu tập đến làm chứng”.
Từ quy định trên của pháp luật, ta có thể hiểu người làm chứng là người
biết được tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng triệu tập tham gia tố tụng.1 Khái niệm này đã xác định một cách
chính xác về phạm vi, nội dung và tính chất pháp lý của người làm chứng, đó là
bất cứ người nào biết được tình tiết liên quan đến vụ án và được các cơ quan tiến
hành tố tụng triệu tập đến để khai báo nên người làm chứng phải trực tiếp tham
gia tố tụng chứ không thể ủy quyền cho người khác hoặc cho người khác đại
diện.
1.1.2. Đặc điểm của người làm chứng
a) Người làm chứng phải là những người biết được các tình tiết có liên
quan đến vụ án.
Người làm chứng tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự không
chỉ là “người đứng ra xác nhận những gì mình đã chứng kiến, đã nghe thấy” mà
họ tham gia vào quá trình tố tụng là để trình bày một cách trung thực và chính
xác tất cả những tình tiết liên quan đến vụ án để các cơ quan tiến hành tố tụng sử
dụng làm chứng cứ trong vụ án hình sự, nhằm xác định sự thật khách quan của
vụ án. Do đó, nhận thức của người làm chứng về các tình tiết của vụ án có thể là
trực tiếp (trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy) hoặc gián tiếp (được người khác kể lại).
các cơ quan tiến hành tố tụng phải có sự lựa chọn. Những người biết được nhiều
tin tức quan trọng, biết được các tình tiết một cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ;
những người có khả năng mô tả lại một cách tốt nhất những hiểu biết của họ mà
cơ quan điều tra đang cần; những người có thiện chí, có trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ người làm chứng thường được các cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn.
Việc lựa chọn triệu tập ai là người làm chứng sẽ làm giảm được khối lượng công
việc cũng như thời gian thu thập chứng cứ.
Bên cạnh đó, bởi vì người làm chứng là người biết về các tình tiết trong vụ án,
nên trong nhiều trường hợp chính các bị can, bị cáo, bị hại … trong vụ án hình sự
có thể yêu cầu tòa triệu tập người do mình chỉ định tham gia tố tụng với tư cách
là “người làm chứng” (Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) – nhằm mục đích
làm sáng tỏ những vấn đề có lợi cho mình. Điều này cũng có nghĩa là bị can, bị
cáo cần chủ động tìm người làm chứng, chứ không nên chỉ trông chờ vào việc để
tòa án “tự động” triệu tập. Vì Tòa đâu thể biết hết mọi việc, trong khi luật qui
định quyền chứng minh – tức là quyền làm sáng tỏ sự thật – thuộc về bị can, bị
cáo (theo Điều 10 Luật Tố tụng hình sự 2003).
Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, việc quy định điều kiện để trở thành người
làm chứng là phải được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập thì chưa đáp ứng yêu
cầu phòng chống tội phạm mà cần thiết phải có quy định “mở” về người làm
chứng, đó là trường hợp biết được sự việc và tự mình đến làm chứng. Bởi lẽ
người làm chứng tham gia tố tụng trình bày những tình tiết sự việc cho các cơ
quan tiến hành tố tụng không phải chỉ để buộc tội hoặc tăng nặng trách nhiệm
hình sự cho bị can, bị cáo mà nó còn có thể gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho bị can, bị cáo (nếu có). Đồng thời, việc người làm chứng tự mình tìm
đến cung cấp, trình bày những tình tiết sự việc cho cơ quan tiến hành tố tụng
cũng là nhằm đảm bảo cho việc xử lý được đúng người đúng tội, tránh xảy ra oan
sai và cũng là để thực hiện tích cực nghĩa vụ công dân của họ (với điều kiện là
những thông tin họ cung cấp là có ích cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án và điều này lại thuộc khả năng nhận thức và đánh giá
của những người tiến hành tố tụng).
giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức xã hội nói chung và các cơ quan bảo
vệ pháp luật nói riêng. Bên cạnh đó, sự có mặt của người làm chứng cũng tác
động đến các chủ thể khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Đối với các chủ thể như nguyên đơn dân sự, người bị hại, họ cần sự có mặt
của người làm chứng để xác định những thiệt hại do người phạm tội gây ra cho
họ, làm căn cứ để xác định bồi thường thiệt hại.
Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, thông tin có được từ người làm chứng
có ý nghĩa trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự. Qua việc
khai báo, người làm chứng sẽ cung cấp các tình tiết mà họ biết về vụ án, từ đó cơ
quan có thẩm quyền sẽ cùng với các nguồn chứng cứ khác dùng làm căn cứ để
xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội
cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Hoạt
động tố tụng càng có tính tranh tụng cao bao nhiêu, sự bình đẳng về quyền của
Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự 1999
Trang 8/25
các bên trong hoạt động chứng minh càng được thừa nhận đầy đủ bao nhiêu thì
vai trò người làm chứng càng được khẳng định. Những tình tiết mà người làm
chứng biết được vẫn là một trong những chứng cứ không thể thiếu được trong
quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ
án được nhanh chóng, chính xác, không bỏ sót tội phạm, không làm oan người vô
tội, tăng niềm tin của nhân dân vào pháp luật, công lý.
Đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu người làm
chứng là người biết các thông tin có thể giúp gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự hoặc hình phạt cho họ thì sự hiện diện của người làm chứng trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự sẽ có lợi cho họ. Trong trường hợp này, khả năng
người làm chứng gặp nguy hiểm do người phạm tội gây ra nhằm che giấu hành vi
mình đã thực hiện hầu như là không có. Ngược lại, nếu một người biết các tình
tiết trong vụ án hình sự là những thông tin có tính chất khẳng định sự việc, hành
vi phạm tội, lỗi, các tình tiết có tính chất tăng nặng trách nhiệm hình sự … thì khi
đó sự hiện diện của người làm chứng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối
Trang 9/25
tâm lý, suy nghĩ, nhận thức,… và những đặc điểm liên quan khác của người làm
chứng là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lấy lời khai.
Muốn vậy phải dựa trên những kết quả phân loại người làm chứng để rút ra
những kết quả và đánh giá chính xác về đối tượng. Thông thường, có 5 cách phân
loại chủ yếu sau đây:3
- Căn cứ vào độ tuổi:
Người làm chứng dưới 16 tuổi
Người làm chứng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Người làm chứng từ đủ 18 tuổi trở lên
- Căn cứ vào đặc điểm thể chất, tâm thần:
Người làm chứng bình thường về thể chất và tâm thần
Người làm chứng có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần (nhưng
vẫn có khả năng làm chứng)
- Căn cứ vào đặc điểm quốc tịch và ngôn ngữ mà người làm chứng có khả
năng diễn đạt:
Người làm chứng là công dân Việt Nam
Người làm chứng là người nước ngoài
Người làm chứng là công dân Việt Nam nhưng không biết tiếng
phổ thông (như một số đồng bào thuộc dân tộc thiểu số)
- Căn cứ vào nguồn tài liệu chứng cứ phản ánh thông tin mà người làm
chứng nhận thức được:
Người làm chứng biết sự việc trực tiếp
Người làm chứng biết sự việc gián tiếp
- Căn cứ vào mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị cáo hoặc
người bị hại:
hại
người bị hại
Người làm chứng có mối quan hệ với bị can, bị cáo hoặc người bị
Người làm chứng không có mối quan hệ với bị can, bị cáo hoặc
vụ. Hơn nữa, người bào chữa tham gia tố tụng để thực hiện chức năng gỡ tội nên
chỉ đưa ra các chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo. Họ không thể làm chứng với
nghĩa vụ của người làm chứng là khai báo trung thực những gì họ biết về vụ án,
nghĩa vụ này mâu thuẫn với nghĩa vụ của người bào chữa. Do đó, quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 55 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 là hợp lý nhằm đảm bảo sự
khách quan, vô tư cần thiết trong hoạt động tố tụng, bởi lẽ một người không thể
đồng thời tham gia tố tụng với hai tư cách là người bào chữa và người làm chứng
và với hai chức năng là buộc tội và gỡ tội.
Xét trường hợp thứ hai, đối với trường hợp người có nhược điểm về thể
chất hoặc tâm thần mà không có khả năng nhận thức hoặc khai báo đúng đắn
cũng là điều kiện hạn chế làm chứng. Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định căn
cứ để xác định trường hợp nào không có khả năng nhận thức và trường hợp nào
không có khả năng khai báo đúng đắn. Vì vậy để áp dụng, có thể chia thành hai
trường hợp:
- Trường hợp có nhược điểm về thể chất như câm, điếc, mù bị hạn chế về
khả năng nghe, nhìn, nói nhưng nếu có căn cứ cho rằng nhược điểm đó không
ảnh hưởng quyết định đến khả năng nhận thức và khai báo thì họ vẫn có thể tham
gia làm chứng khi có người thân hoặc người khác có thể giúp họ diễn đạt những
nội dung muốn trình bày. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật thì người làm
chứng là người biết được các tình tiết liên quan tới vụ án và những người có
nhược điểm về thể chất biết được các tình tiết theo cách riêng của họ. Người điếc
không nghe thấy được nhưng có thể nhìn thấy, người mù không thể nhìn thấy
được nhưng có thể nghe thấy … Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc xác định tư cách
làm chứng của ngững người này rất khó khăn vì đối với người hạn chế về thính
lực, thị lực, khả năng nghe, nhìn không tốt thì vấn đề cần phải quan tâm ở đây
Trang 11/25
không phải là tư cách làm chứng của họ mà là vấn đề đánh giá tính xác thực
trong lời khai của họ như thế nào.
- Những trường hợp có nhược điểm về tâm thần thì không được tham gia
làm chứng. Điều quan trọng ở đây là xác định có hay không nhược điểm về tâm
theo nghĩa rộng, bảo đảm một số quyền hiến định cho người làm chứng. Xuất
phát từ nguyên tắc có tính chất hiến định “ở Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội
được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp
và luật” (Điều 50 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992). Phần lớn các quyền của người làm chứng quy định tại điều 55 Bộ luật Tố
tụng hình sự 2003 được cụ thể hóa từ các quyền hiến định của công dân quy định
trong đạo luật cơ bản của Nhà nước (Hiến pháp) cụ thể là:
Trang 12/25
+ Quyền được pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu đối với tài sản, thu nhập
hợp pháp (quy định tại Điều 58 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992).
+ Quyền được pháp luật bảo hộ về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm (quy định tại Điều 71 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992);
+ Quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc
làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào (quy định tại Điều 74 Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992)
Xét ở khía cạnh luật định, các quyền của người làm chứng được quy định
tại khoản 3 Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 như sau:
- Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng.
Với sự giúp đỡ của người làm chứng, cơ quan tiến hành tố tụng có thể dễ
dàng hơn trong việc giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, khi ra làm chứng, người
làm chứng đã vô tình tạo ra sự xung đột về mặt lợi ích với bị can, bị cáo hoặc
người bị hại. Chính vì vậy, họ có thể gặp nguy hiểm về tính mạng, sức khỏe, bị
tổn hại về danh dự, nhân phẩm trước sự đe dọa từ những chủ thể đó hoặc từ
những người thân thích của họ. Do đó, pháp luật quy định quyền này cho người
làm chứng để giúp họ an tâm khi tham gia vào hoạt động tố tụng cũng như đảm
và nhóm tác giả sẽ phân tích kĩ lưỡng hơn trong chương 2 của bài tiểu luận này.
1.2.2. Nghĩa vụ của người làm chứng
Nghĩa vụ của người làm chứng được quy định tại khoản 4 Điều 55 Bộ luật Tố
tụng hình sự 2003:
“a) Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà
án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng
mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;
b)Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án.
Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do
chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự;
khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 của Bộ luật
hình sự”.
Thông qua những quy định của pháp luật tố tụng hình sự, người làm
chứng có những quyền lợi hợp pháp nhưng mặt khác cũng đòi hỏi người làm
chứng phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình. Nhà nước chỉ có thể đảm
bảo quyền cho họ khi họ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Nhưng điều ta cần
khẳng định ở đây là lý do mà họ tham gia vào vụ án hình sự không phải là vì lợi
ích cá nhân của riêng họ mà là vì lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần làm
sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Vì thế có ý kiến cho rằng những quy định
về nghĩa vụ của người làm chứng còn quá nghiêm khắc bởi lẽ người làm chứng
khi tham gia tố tụng thực chất chỉ nhằm mục đích giúp đỡ các cơ quan tiến hành
tố tụng, họ không có quyền lợi gì trong vụ án nhưng họ lại có thể bị dẫn giải, bị
truy cứu trách nhiệm hình sự … Ngoài Điều 55 là điều luật quy định một cách
tương đối toàn diện về nghĩa vụ của người làm chứng, trong Bộ luật Tố tụng hình
sự 2003 còn có một loạt các điều luật khác nằm rải rác ở các chương quy định về
các nghĩa vụ của họ trong các giai đoạn khác của hoạt động tố tụng hình sự (Điều
133 quy định về việc triệu tập người làm chứng; Điều 134 quy định về dẫn giải
người làm chứng; Điều 138 quy định về việc tiến hành đối chất có sự tham gia
của người làm chứng; Điều 139 quy định về việc tham gia nhận dạng của người
làm chứng; khoản 2 Điều 150 quy định về việc tham gia khám nghiệm hiện
phí: chi phí tiền lương, thù lao cho người làm chứng; chi phí đi lại; chi phí lưu
trú; các chi phí khác theo quy định của pháp luật và đây là mức tạm ứng chi phí
cho người làm chứng. Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2013, đây
cũng là một sự bổ sung, hoàn thiện những thiếu sót về quyền được bảo đảm về
vật chất của người làm chứng.
Trước đây, khi chưa có những quy định về chi phí cho người làm chứng đối
với pháp luật tố tụng Hình sự nói riêng và những ngành luật yêu cầu người làm
chứng, họ bị thiệt thòi rất nhiều. Họ bị triệu tập bất cứ lúc nào, và không được trả
chi phí thích đáng, đến nổi có một số người sửa đổi lời khai để được một phần lợi
ích vật chất nào đó. Cụ thể, mới đây, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
xử một vụ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử đã xét hỏi người làm chứng vì sao cho lời khai gian dối, thì bà
cho biết bên nguyên đơn hứa nếu thắng kiện sẽ tặng bà điện thoại di động xịn
nhất hiện nay nên bà mới làm vậy.4
4
Tham khảo trực tuyến tại: http://phapluattp.vn/20111030110539134p0c1063/kho-xu-khi-nguoi-lam-
chung-khai-sai.htm
Trang 15/25
Hoàng Yến (2011) Khó xử khi người làm chứng khai sai, báo Pháp luật
Hơn nữa, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 chưa tạo ra được cơ sở pháp lý phù
hợp để khuyến khích người làm chứng tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân của
mình - hợp tác với Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tội phạm và xác lập
chân lý của vụ án. Cơ sở pháp lý liên quan đến những quyền lợi vật chất của
người làm chứng chưa được hướng dẫn cụ thể, thủ tục như thế nào để quyền lợi
của họ được bảo đảm, được nhận đúng và đủ số tiền mà họ đáng được hưởng khi
ra tòa làm chứng bảo vệ công lý.
2.2. Quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe, tính mạng của người làm
chứng
Cùng với sự tiến bộ về quyền được đảm bảo vật chất cho người làm chứng, Bộ
luật Tố tụng Hình sự 2003 quy định người làm chứng được quyền yêu cầu cơ
8
9
Tham khảo trực tuyến tại: http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nhan-chung-vu-Nam-Cam-se-bi-dan-giai-
neu-khong-den-toa/10833002/218/
Trang 16/25
Điểm a khoản 3 Điều 3 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Điểm b khoản 2 Điều 9 Quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA và khoản 1 Điều 10 Quyết định số
Khoản 1 Điều 10 Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA-C11
Khoản 3 Điều 10 Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA-C11
Nhân chứng vụ Nam Cam sẽ bị dẫn giải nếu không đến Tòa
đều khẳng định đã nhiều lần khai với cơ quan điều tra về các tình tiết của vụ án,
cam đoan lời khai của mình là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của
mình nhưng kiên quyết từ chối ra tòa. Họ giải thích trong vụ án còn có một người
đi theo “bảo kê” cho bị cáo nhưng cơ quan điều tra không làm rõ lai lịch và vai
trò của người này trong vụ án. Vì ngại “người chưa lộ mặt ” này nên họ không
dám ra tòa làm chứng. Tòa tiếp tục xử và chấp nhận cho những người làm chứng
vắng mặt. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cho rằng áp dụng dẫn giải người làm
chứng trong trường hợp này là “ làm khó” cho họ.10
Theo như Thiếu tướng Trần Văn Nho đề cập thì để mọi người vượt qua sự e
ngại này, thời gian qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã kiên quyết tấn công tội
phạm, đánh mạnh, đánh nhanh, đánh trúng các đối tượng phạm tội và răn đe
những kẻ có manh nha gây nguy hiểm cho người làm chứng. Thực tế cũng đã
chứng minh điều đó. Trong phiên toà sơ thẩm xử vụ án Khánh “trắng", có rất ít
người làm chứng đến dự và khai báo trước Hội đồng xét xử vì sợ đồng bọn của
Khánh “trắng" trả thù. Nhưng trong phiên tòa phúc thẩm, Công an Thành phố Hà
Nội có công văn gửi đến từng địa bàn có người làm chứng ở, quy định rõ: nếu
người làm chứng hoặc bị hại nào bị đe dọa hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng,
sức khỏe thì thủ trưởng trực tiếp của địa bàn đó phải chịu trách nhiệm trước cấp
trên. Nhờ sự kiên quyết đó mà đến phiên tòa phúc thẩm, hầu hết các người làm
chứng đã có mặt.11
vụ án này là Nguyễn Tuấn Bình cũng bất bình không kém: “Tôi gặp Hùng thì nói
là gặp Hùng nhưng không hiểu sao cơ quan điều tra làm tôi mất thời gian nhiều
quá. Lúc đầu thì điều tra viên nói chuyện thấy được, nhưng sau đó gắt gỏng quá.
Tôi thấy vậy phản ứng lại rằng tôi là người làm chứng mà sao mấy anh đối xử
như vậy? Nhưng các điều tra viên cứ ép tôi nói theo hướng phản lại những lời
khai ban đầu của tôi. Rồi các anh công an mặc sắc phục vào tận cơ quan tôi gửi
giấy mời nhiều người trong cơ quan cứ nghĩ tôi là tội phạm gì hay sao mà công
an cứ mời tôi hoài”.13
Người làm chứng là một trong những người quan trọng giúp cho vụ án được
khách quan và làm cơ sở cho Tòa quyết định một cách sáng suốt và công bằng
nhất. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều trường hợp người làm chứng vì bị đe dọa mà
vắng mặt tại buổi xét xử14 và không dám tố giác vì sợ trả thù.15
2.3. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tinh thần
Pháp luật Tố tụng hình sự còn quy định về quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, tinh thần của người làm chứng tại điểm a khoản 3 Điều 55 Bộ luật Tố tụng
Hình sự.
Người làm chứng ở bất kỳ vụ án hình sự nào cũng đều có quyền yêu cầu bảo
vệ. Đã là vụ án hình sự thì mọi trường hợp rủi ro đều có thể xảy ra và người làm
chứng được yêu cầu bảo vệ không chỉ trong thời gian làm chứng mà trong cả
cuộc sống hàng ngày. Khi người ta đã yêu cầu thì cơ quan tố tụng, cán bộ tố tụng
phải đáp ứng quyền đó, tất nhiên không phải bằng lời hứa mà phải bằng một hình
thức có giá trị pháp lý, theo Thẩm phán Đinh Văn Quế là bằng văn bản.16
Một vụ việc cụ thể gây ảnh hưởng tinh thần của người làm chứng đó là việc
một thẩm phán và thư ký tòa trực tiếp thụ lý vụ án đến nhà riêng của người làm
chứng thuyết phục và đọc lời khai cho người làm chứng viết theo hướng có lợi
cho một bên đương sự đã gây bức xúc trong dư luận tại thành phố Thái Nguyên,
thậm chí ngay trước mặt bố mẹ của người làm chứng những vị “quan tòa” này
còn dùng lời lẽ lăng mạ, xúc phạm người làm chứng sau khi không thuyết phục
được người làm chứng khai theo ý đồ của họ.17
Trường hợp bà Lưu Thị Gấm, 47 tuổi, là mẹ của bị cáo Nguyễn Văn Cường
60 triệu đồng sẽ thả người.19
Để người làm chứng thực hiện tốt công tác bảo vệ pháp luật khi ra làm chứng,
thì họ phải có một tinh thần tốt, được cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ tinh thần
cho họ. Nhưng vẫn có một số trường hợp, người làm chứng lâm vào tình trạng
tinh thần không tốt khi bị bắt làm chứng. Cụ thể, trường hợp câu chuyện của một
cô bé 13 tuổi phải ra làm chứng trong phiên tòa xử vụ bố bạo hành dẫn đến cái
chết của mẹ khiến bất cứ người nào có lương tâm cũng phải đau xót,20 trường
hợp khác là ép một em bé 13 tuổi là người làm chứng cho bị cáo nói theo lời của
người tố cáo.21
So với quy định đảm bảo sức khỏe, tính mạng của người làm chứng thì quy
định bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tinh thần của người làm chứng không được quy
định đầy đủ. Quyền bảo đảm về vật chất thì có Pháp lệnh số
02/2012/UBTVQH13 về chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm
chứng, người phiên dịch trong tố tụng, về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm thì có
Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA-C11 và quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA.
Nhưng về danh dự, nhân phẩm, tinh thần thì chưa có văn bản cụ thể nào quy
định, hướng dẫn ngoài trừ Bộ luật Tố tụng hình sự 2003.
18
Tham khảo trực tuyến tại: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=312912
19
Tham khảo trực tuyến tại:http://www.baomoi.com/Home/HinhSu/www.tienphong.vn/Dan-giai-nhan-
chung-nao-dong-thon-que/4412700.epi
20
Tham khảo trực tuyến tại: http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/65131/bat-em-ra-toa-lam-chung sao-tan-
nhan-the html
21
Tham khảo trực tuyến tại:
http://moj.gov.vn/hoidappl/Lists/DanhSachCauHoi/View_Detail.aspx?ItemID=18589
Trang 19/25
Nổ súng trong phiên toà xét xử
- Bồi thường cho người làm chứng nếu họ không được bảo vệ kịp thời.
Theo quy định thì người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của mình khi tham gia tố tụng. Do đó, khi người làm chứng có yêu cầu mà
cơ quan triệu tập chậm trễ trong việc bảo vệ thì phải bồi thường các thiệt hại cho
người làm chứng do việc chậm trễ gây ra. Việc bảo đảm cho người làm chứng
quyền này vừa bảo đảm nguyên tắc công bằng trong hoạt động tố tụng hình sự,
thể hiện bản chất dân chủ của tố tụng hình sự xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hiện
đại, góp phần quan trọng trong việc khắc phục các sai sót trong quá trình tiến
hành tố tụng và giúp nâng cao trách nhiệm của cơ quan triệu tập trong việc bảo
vệ người làm chứng.
3.1.2. Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, tinh thần của người làm chứng
Người làm chứng là người đưa ra lời khai, cung cấp các thông tin về những
vấn đề liên quan đến vụ án góp phần làm sáng tỏ sự thật và giải quyết đúng đắn
vụ án. Vì vậy họ và những người thân thích của họ có nguy cơ bị người phạm tội,
Trang 20/25
thân nhân hoặc “đàn em, chiến hữu” của người phạm tội đe dọa, gây thiệt hại đến
tính mạng, sức khỏe, uy hiếp tinh thần, xúc phạm danh dự, nhân phẩm là rất cao.
Tuy nhiên, luật lại không quy định cụ thể đó là những biện pháp nào. Do đó, để
góp phần bảo vệ an toàn về tính mạng sức khỏe cũng như tinh thần, danh dự,
nhân phẩm cho người làm chứng và những người thân thích của họ các cơ quan
chức năng có thể thực hiện các biện pháp sau:
- Bố trí người bảo vệ người làm chứng suốt đời. Theo quy định của Bộ luật
Tố tụng Hình sự 2003 thì người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập
bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình khi tham gia tố tụng nhưng không chỉ đợi
đến khi người làm chứng có yêu cầu thì cơ quan triệu tập mới bố trí người bảo vệ
họ mà cần phải bố trí người bảo vệ người làm chứng kể cả khi họ không yêu cầu.
Trong một số vụ án sau khi đã thi hành xong bản án, người bị kết án quay lại tìm
người làm chứng để trả thù do đó việc bố trí người bảo vệ người làm chứng
ảnh về người làm chứng, không được ghi âm lời khai của người làm chứng.
Trang 21/25
+ Trang bị những phương tiện kĩ thuật nghe nhìn hiện đại để hạn chế sự
tiếp xúc mặt đối mặt giữa người làm chứng và đối tượng cần đối chất, nhận dạng
khi cần tiến hành đối chất hoặc nhận dạng. Đồng thời, giúp Tòa án có thể thẩm
vấn người làm chứng mà không cần có sự hiện diện của người làm chứng ngay
tại phiên tòa.
- Áp dụng các biện pháp ngăn chặn, răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa những
đối tượng có hành vi đe dọa, gây nguy hiểm cho người làm chứng. Khi có đủ căn
cứ xác định rõ những đối tượng có hành vi đe dọa, khống chế hoặc xâm phạm
đến người làm chứng thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể trực tiếp thực hiện
hoặc đề nghị cơ quan Công an nhanh chóng bắt giữ và xử lý những đối tượng
trên hoặc triệu tập các đối tượng để răn đe, cảnh cáo và yêu cầu chấm dứt ngay
hành vi gây nguy hiểm cho người làm chứng.
- Kiểm soát các cuộc điện thoại, tin nhắn, thư từ gọi đến hoặc gởi cho
người làm chứng để có thể chủ động áp dụng những biện pháp bảo vệ người làm
chứng thích hợp khi đó là những cuộc gọi, tin nhắn, thư từ của những đối tượng
đe dọa người làm chứng. Bên cạnh đó kết quả của biện pháp này có thể làm cơ sở
cho việc khởi tố trách nhiệm hình sự của những người tác động người làm chứng
cản trở điều tra, xét xử. Tuy nhiên việc áp dụng biện pháp này cần phải thực hiện
một cách nghiêm túc tránh việc lạm dụng nhầm xâm phạm bí mật đời tư của
người làm chứng.
- Thay đổi tạm thời hoặc lâu dài nơi cư trú, nơi làm việc, học tập của người
làm chứng. Biện pháp này rất tốn kém về tài chính và khi áp dụng nó không được
gây bất kỳ thiệt hại nào về tài sản, về quyền lao động, học tập hay hưu trí cho đối
tượng áp dụng đồng thời phải bảo đảm cho họ có thể sinh sống, làm việc, học tập
bình thường trong điều kiện mới. Cần lưu ý là phải giữ bí mật địa chỉ nơi cư trú,
nơi làm việc, học tập mới của người làm chứng.
3.2. Định hướng hoàn thiện bộ luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm hơn nữa
quyền của người làm chứng
Theo quy định hiện hành, trong các quyền của người làm chứng không hề có
quyền được tham gia đối đáp, trình bày ý kiến tại phiên tòa. Tuy nhiên, lời khai
của người làm chứng có đặc điểm là thường bị lôi kéo, thay đổi, hiểu sai; do đó
có nhiều trường hợp người làm chứng đã thay đổi lời khai của họ khác đi so với
lời khai tại cơ quan điều tra hay người làm chứng chưa khai báo hết về các tình
tiết mà mình biết hoặc trường hợp có nhiều người làm chứng mà họ lại đưa ra
các lời khai mâu thuẫn nhau (người này đưa ra lời khai có tính chất “buộc tội”,
trong khi người khác đưa ra lời khai có tính chất “gỡ tội”) thì việc để cho những
người làm chứng tham gia đối đáp sẽ góp phần làm sáng tỏ lời khai nào là gần
với sự thật khách quan nhất. Ngoài ra, để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong Tố
tụng Hình sự, để cho các cuộc tranh tụng hình sự thực sự dân chủ nên quy định
cho người làm chứng có quyền đưa ra ý kiến khẳng định, bảo vệ quan điểm của
mình hoặc thay đổi lời trình bày của họ liên quan đến những gì họ biết về vụ án.
3.2.4. Quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng
Nhằm thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố
tụng, Bộ luật Tố tụng Hình sự đã quy định cụ thể những trường hợp phải từ chối
hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng và những người có quyền đề nghị thay đổi
người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, người làm chứng lại không có quyền đề nghị
thay đổi người tiến hành tố tụng. Vì luật không quy định quyền của người làm
chứng được mời luật sư tham gia trong hoạt động làm chứng do đó chỉ có người
làm chứng mới biết được những người tiến hành tố tụng có thật sự khách quan,
vô tư trong khi lấy lời khai hay không (hỏi người làm chứng có tính chất gợi ý,
người làm chứng biết nhiều thì không hỏi hoặc hỏi qua loa, người làm chứng
không biết rõ và có thể đưa ra ý kiến phù hợp với hướng điều tra thì lại được hỏi
nhiều …). Vì vậy, trong trường hợp người làm chứng có căn cứ rõ ràng người
tiến hành tố tụng không khách quan trong việc lấy lời khai và không tuân thủ quy
định của pháp luật tố tụng thì phải cho phép người làm chứng có quyền đề nghị
thay đổi người tiến hành tố tụng, việc bổ sung quyền này cho người làm chứng
đồng thời cũng là biện pháp đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố
tụng.
có sự “tương xứng” giữa quyền và nghĩa vụ của người làm chứng khi mà Bộ luật
Tố tụng hình sự 2003 quy định nghĩa vụ của người làm chứng nhiều và nặng nề
hơn so với quyền và lợi ích hợp pháp mà họ được hưởng mặc dù họ có vai trò rất
quan trọng trong việc giúp làm sáng tỏ vụ án. Thêm vào đó, sự chưa thống nhất
giữa quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng vẫn là trở ngại lớn đối với
người làm chứng. Mặc dù họ muốn thực hiện trách nhiệm của mình đối với xã
hội thông qua việc cung cấp thông tin về hành vi phạm tội, những rào cản về vật
chất và cả tinh thần đã không ít lần ngăn cản người làm chứng thực hiện tốt trách
nhiệm của mình.
Do đó, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của quá trình tố tụng, cần có những
giải pháp đồng bộ và cụ thể từ phía các cơ quan chức năng để bảo vệ tốt quyền,
lợi ích của người làm chứng, phát huy vị trí và vai trò của chủ thể này trong việc
giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, góp phần duy trì pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Trang 25/25