Chế
Chếđịnh
địnhngười
ngườilàm
làmchứng
chứngtrong
trongBLTTHS
BLTTHS2003
2003
GVHD:
GVHD:Th.s
Th.sMạc
MạcGiáng
GiángChâu
Châu
TRƯỜNGLỜI
ĐẠICẢM
HỌCTẠ
CÀN THƠ
KHÒALUẬT
----T&.
OQ JSS
rb*£ũl«és
Qua bốn năm học tập ở trường Đại học cần Thơ, em đã tích lũy được những
kiến thức vô cùng quý giá và học hỏi được nhiều điều từ tấm gương của quý thầy cô
trong trường. Em sẽ cố gắng sử dụng những vốn kiến thức này để phục vụ cho quê
hương, đất nước sau khi ra
trường.
Sinh viênXin
thực
hiện:
chân
thành cảm ơn!
Huỳnh Thị cẩm Hồng
MSSV: 5085804
Lớp: Thưong Mại 2- K34
Cần Thơ, 01/2012
SVTH:
SVTH:Huỳnh
HuỳnhThị
Thịcẩm
cẩmHồng
Hồng
21
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
3
BLDS: Bộ luật dân sự
-
BLHS: Bộ luật hình sự
-
NBH: người bị hại
-
VAHS: Vụ án hình sự
-
TTHS: Tố tụng hình sự
-
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
4
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.......................................................20
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự
HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA vụ CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG.. .22
2.1............................................................................................................................. Quyề
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
5
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
2.2.2.
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
Nghĩa vụ khai báo trung thực........................................................31
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BÁT CẬP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
CHẾ
ĐỊNH NGƯỜI LÀM CHỨNG............................................................33
3.1. Tồn tại về mặt pháp lý..........................................................................33
3.1.1. Quy định quyền làm chứng của NLC............................................33
3.1.2. Quy định đối tượng không được trở thành NLC...........................35
3.1.3. về đảm bảo quyền công dân của NLC...........................................36
3.1.4 về đảm bảo quyền tố tụng của NLC.................................................38
3.1.5.
Vấn đề đãi ngộ NLC.....................................................................41
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
LỜI NÓI ĐẦU
l.Tính cấp thiết của đề tài
Đi đôi với quá trình hội nhập phát triển kinh tế là yêu cầu xây dựng một xã hội
có những thiết chế pháp luật chặt chẽ và cụ thể, theo đó chế định “người làm chứng”
phải được quy định cụ thể đảm bảo tính phù hợp với thực tế khách quan và đảm bảo
tính thi hành. Chế định “người làm chứng” được quy định trong BLTTHS Việt Nam là
cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ NLC, là chủ thể góp phần xác định rõ sự thật khách
quan của vụ án. Là một trong những chế định lâu đời trong hệ thống pháp luật nước ta
cũng như nhiều nước trên thế giới, xuất phát từ lời khai của NLC là một trong những
chứng cứ có vai trò rất quan trọng giúp vụ án được sáng tỏ. Cùng với quá trình hội
nhập, sự hoàn thiện chế định pháp luật NLC và sự bảo đảm của nhà nước về địa vị
pháp lý của NLC sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ quyền lợi của con người,
quyền lợi của toàn xã hội nói chung cũng như quyền lợi của NLC nói riêng; góp phần
củng cố niềm tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật, của Nhà nước và đồng
thời góp phần quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa vững
mạnh.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - chính trị xã hội thì vấn đề tội phạm
cũng ngày càng tinh vi và nguy hiểm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức. Hoạt động xét
xử
ở nước ta cũng như ở một số nước trên thế giới hiện nay đang gặp phải trở ngại to lớn
là sự tác động của giới tội phạm đối với những NLC và người thân của họ. Các hình
thức cưỡng bức NLC để họ không họp tác với CQTHTT thông qua việc trình bày lời
khai gian dối, phản cung, không khai báo... ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Do điều
kiện khách quan cũng như chủ quan, nên việc ban hành chế định NLC trong BLTHHS
thường ít ra làm chứng, từ chối làm chứng, khi khai báo thì lại chịu tác động của nhiều
yếu tố khách quan và chủ quan chi phối... gây ra thiệt hại lớn cho nhà nước và xã hội.
Cùng với việc đẩy mạnh hội nhập phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta
cũng đã tiến hành cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, phù hợp
với quá trình hội nhập quốc tế, trong đó chế định về NLC là một dẫn chứng cụ thể.
Qua những phân tích trên, nhiệm vụ tìm hiểu và hoàn thiện chế định về NLC
trong BLTTHS là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay. Từ những lý do trên, cùng với
mong muốn tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về NLC ở Việt Nam
trong thời gian qua, sinh viên đã mạnh dạn chọn đề tài: “C/zê định người làm chứng
trong bộ luật tổ tụng hình sự Việt nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Phạm vỉ nghiên cứu đề tài
Vì thòi gian có hạn nên sinh viên chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu tất cả các
quy định về NLC, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về NLC được quy định
trong BLTTHS năm 2003 Việt Nam bao gồm đặc điểm, quyền và nghĩa vụ của
NLC...từ đó thấy được những bất cập trong quy định của Luật cũng như trong thực
tiền áp dụng, mà không đi sâu phân tích trình tự thủ tục triệu tập NLC, quá trình tham
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
8
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
gia tố tụng của NLC. Vì sinh viên muốn tập trung nghiên cứu những quy định cơ bản
của BLTTHS năm 2003 về NLC để có cái nhìn tổng quát và rút ra những kết luận làm
căn cứ trong việc bảo vệ quyền con người của NLC, nâng cao tính thực thi của pháp
luật trong vấn đề bảo vệ NLC cũng như những ưu đãi cho họ để góp phần nâng cao
này.
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
9
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
6. Bổ cục của đề tài
Đe tài nghiên cứu của sinh viên ngoài những viết tắt, lời nói đầu, kết luận và
danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm các phần sau:
Chưcmg 1. Lý luận chung về người làm chứng.
Chương 2. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền và
nghĩa vụ của người làm chứng.
Chương 3. Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện chế định người làm
chứng.
Hy vọng rằng bằng lòng nhiệt huyết, sức trẻ và những kiến thức đã và đang
được trang bị, tích lũy trên ghế nhà trường, cùng sự với sự giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình của
tập thể các thầy cô giáo Trường Đại Học cần Thơ, nhất là Thạc sỹ Mạc Giáng Châu bộ môn Tư pháp, Khoa Luật, trường Đại Học cần Thơ, đã tạo điều kiện để em có thể
đi sâu phân tích, đánh giá và rút ra những kết luận mang tính khoa học, thực tế nhằm
góp phần hoàn thiện địa vị pháp lý của NLC đã hình thành và tồn tại trong quy định
của pháp luật.
Là một sinh viên năm cuối, lần đầu tiên làm quen với một đề tài nghiên cứu
khoa học mà thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức hiểu biết có
giới hạn. Vì vậy, có những thiếu sót, khiếm khuyết hay sai lầm trong đề tài nghiên cứu
này là điều không thể tránh khỏi. Sinh viên rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
đánh giá, phê bình của thầy cô, các nhà nghiên cứu pháp luật và các bạn sinh viên.
Thuật ngữ “người làm chứng” trong dân gian thường gọi là “nhân chứng” thì
chỉ
đơn thuần là người mà theo đó bằng mắt thấy tai nghe, họ chứng kiến hay nghe được
một hoặc một số tình tiết liên quan đến VAHS hoặc do một số nguồn thông tin khác
cung cấp mà biết.
Nói tóm lại, NLC là người biết được những tình tiết có liên quan đến VAHS
hoặc những tình tiết có giá trị chứng minh, làm sáng tỏ vụ án đó và tham gia vào quá
trình tố tụng để cùng với CQTHTT tìm ra sự thật khách quan của VAHS trên cơ sở
triệu tập của của những cơ quan có thẳm quyền.
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
11
1 “ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi
phạm
tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lôi hay không có lôi, do cổ ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm
hình sự Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 hay
mục
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu không;
đích,
động
cơ phạm tội;
Những
tình tiết tăng nặng,
tình tiết
giảm nhẹ trách
1.1.2. Đặc điểm
nhiệm
do
hành
một cách hiệu quả nhất và đạt mục đích tố tụng.
vi phạm
tội gây ra” (Điều
63
Trong khoa học pháp lý TTHS để được thừa nhận là NLC thì đòi hỏi phải thỏa BLTTHS 2003).
mãn hai yếu tố bắt buộc là NLC phải biết được những tình tiết liên quan đến VAHS và
phải được triệu tập bỏi CQTHTT. Trước hết, NLC phải là người biết những tình tiết
cần phải chứng minh, làm sáng tỏ trong VAHS,1 vì xuất phát từ mục đích của sự có
mặt của NLC, vai trò của NLC trong TTHS, mà yêu cầu NLC phải biết được các tình
tiết cần được chứng minh, cần được làm sáng tỏ trong VAHS là yếu tố bắt buộc. NLC
cùng với CQTHTT, người THTT và những người tham gia tố tụng khác cùng nhau đi
tìm sự thật khách quan của VAHS, do đó NLC khi tham gia vào quá trình tố tụng, phải
là người biết được những tình tiết có liên quan tới VAHS, bằng việc cung cấp lời khai
một cách cụ thể và thành thật, mới có thể tham gia vào quá trình làm sáng tỏ VAHS,
đạt được mục đích tố tụng và yêu cầu của BLTTHS đặt ra. Thứ hai, người đó phải
được CQTHTT triệu tập đến để tham gia vào quá trình điều tra, hợp tác và khai báo về
những tình tiết cần xác minh, làm sáng tỏ trong VAHS mà mình biết, NLC tham gia
vào vụ án trên cơ sở quyết định triệu tập của CQTHTT. Chỉ được trở thành NLC trong
TTHS nếu được CQTHTT triệu tập bởi vì BLTTHS chỉ coi việc làm chứng là nghĩa vụ
phải làm của công dân, chứ không phải là quyền mà công dân được hưởng, trên cơ sở
xác định và triệu tập của CQTHTT. Những cơ quan có thẩm quyền đó nhân danh Nhà
Nước, để triệu tập NLC đến và giao cho họ nhiệm vụ làm chứng trên cơ sở xác định họ
có đầy đủ điều kiện để trở thành NLC hoặc có khả năng làm tròn nghĩa vụ của NLC
hay không, chứ bản thân họ không tự có được quyền này. Ngoài ra, việc triệu tập NLC
phải tuân theo một trình tự thủ tục nhất định của BLTTHS để đảm bảo áp dụng thống
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
diện hợp pháp của bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân” (Điều 35 BLTTHS 2003)
với vai trò tố tụng của mình là “Người bào chữa trong to tụng hình sự là người tham
gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người
bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.2 Việc quy
định không cho người bào chữa của bị can, bị cáo được trở thành NLC vì hai lý do sau.
2
ThS. Trân Văn Bảy, Người bào chữa trong tô tụng hình sự, tạp chí khoa
hoc pháp lý, Trường Đại Học
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
13
3 “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người trong trường
hợp
khẩn cấp và Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia to
tụng từ Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 khi có
quyết định tạm
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
giữ.
Trong
trường họp cần
giữ bí
mật điều tra đối với
tội xâm Thứ nhất là để bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo. Do đặc thù công việc, người bào phạm an ninh
quốc chữa tham gia tố tụng từ rất sớm,3 nên họ dễ dàng tiếp xúc với bị can, bị cáo và tìm
gia, thì
Viện trướng Viện
và không còn khách quan nữa, điều đó thì hoàn toàn đi ngược lại những gì mà
BLTTHS đang hướng tới, chẳng hạn để đảm bảo yếu tố khách quan trong lời khai của
NLC mà BLTTHS 2003 có quy định “Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án,
chủ tọa phiên tòa có thể quyết định những biện pháp để cho những người làm chứng
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
14
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan. Trong
trường hợp lời khai của bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa
phiên tòa có thể quyết định cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người
làm chứng” (Khoản 2 Điều 204 BLTTHS 2003). Loại người thứ hai không được luật
cho phép làm NLC đó là “Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà
không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng
khai báo đúng đắn” (Điểm b Khoản 2 Điều 55 BLTTHS 2003). Việc hạn chế quyền tố
tụng của loại người này trong việc trở thành NLC là điều dễ hiểu bởi khi tham gia tố
tụng với tư cách là NLC thì họ chẳng nhận thức được hoặc khai báo đúng đắn được sự
việc mà họ đã thấy hoặc nghe, tác dụng chứng minh và làm sáng tỏ vụ án từ lời khai
của họ không có, mục đích của TTHS không đạt được, thì việc hạn chế đó là điều hợp
lý.
Thứ 4, về quyền pháp lý mà pháp luật TTHS trang bị cho NLC. Không phụ
thuộc vào chức vụ, trình độ học vấn, công sức đóng góp làm sáng tỏ VAHS... khi tham
gia vào quá trình tố tụng thì NLC đều được hưởng một số quyền và một số nghĩa vụ
nhất định mà BLTTHS năm 2003 quy định. Điều 55 BLTTHS 2003 quy định NLC có
việc hình thành những quy định của pháp luật để điều chỉnh từng loại đối tượng, hoặc
có những phương pháp điều chỉnh, nghiệp vụ linh hoạt, thích hợp hơn cho từng loại
đối
tượng cụ thể. về cơ bản, có thể phân loại NLC thành những nhóm chính sau:
a) Căn cứ vào độ tuổi, có thể chia NLC thành hai loại
NLC là người đã thành niên: Tại điều 18 BLDS 2005 về người thành niên và
chưa thành niên có quy đinh cụ thể “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành
niên” theo đó NLC là người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên. NLC loại này là
người đã trưởng thành về mặt tâm lý và sinh lý, họ có đầy đủ khả năng tự mình thực
hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Pháp luật TTHS quy định tương
đối đầy đủ về nghĩa vụ mà một NLC thành niên phải thực hiện.
NLC là người chưa thành niên: Tại điều 18 BLDS 2005 về người thành niên và
chưa thành niên có quy định cụ thể “Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa
thành
niên” theo đó NLC là người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. BLTTHS 2003
quy định NLC là người không thể thay thế trong tố tụng, tức là không thể tham gia tố
tụng thông qua chế định ủy quyền mà phải tham gia tố tụng để trực tiếp khai báo cho
CQTHTT về những điều mình biết hên quan đến vụ án và, khi cần thiết thì tham gia
đối chất với NBH, với các NLC khác khi có mâu thuẫn trong lời khai, hoặc tham gia
thực nghiệm điều tra để giúp làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án... thêm vào đó thì Luật
không khống chế độ tuổi để được trở thành NLC nên bất cứ người nào kể cả trẻ em,
người tàn tật, người bị hạn chế về thể chất nhưng chưa đến nỗi bị mất khả năng nhận
thức... thì họ sẽ được CQTHTT triệu tập để khai báo về những gì mà họ biết, thế nên
rất khó để bảo đảm cho họ các quyền mà luật chuyên ngành quy định hoặc có các quy
định không thống nhất giữa BLTTHS và Luật chuyên ngành điều chỉnh cho đối tượng
đó vì BLTTHS chưa phân loại NLC theo một tiêu chí cụ thể nào.
Một đối tượng đặt biệt trong nhóm này là NLC là trẻ em - loại NLC này là chủ
thể được bảo vệ bởi các văn bản pháp luật khác như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
dịch.
NLC không nói được tiếng Việt: là người không giao tiếp được bằng tiếng Việt.
Thông thường đối tượng này bao gồm người nước ngoài và người dân tộc thiểu số, họ
không biết, không thể giao tiếp hoặc biết mà không diễn đạt ý mình muốn nói bằng
tiếng việt một cách trọn vẹn và đầy đủ. Quá trình tố tụng đối với đối tượng này không
thể thực hiện một cách trực tiếp mà phải thông qua người phiên dịch. BLTTHS năm
2003 không trao cho NLC quyền được lựa chọn người phiên dịch, điều đó không chỉ vi
phạm quyền tố tụng của NLC mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình tố tụng.
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
17
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
d) Căn cứ vào lời khai của NLC có thể chia NLC thành hai loại
về bản chất thì tác dụng chính của lời khai của NLC chỉ là ở giá trị chứng minh
sự thật cho VAHS, mặc dù có những đối trọng với nhau trong lời khai NLC nhưng
chung quy tất cả những lời khai đều có tác dụng chứng minh, làm sáng tỏ các tình tiết
trong VAHS, nhưng thông thường thì lời khai của NLC có thể bất lợi hoặc có thể có lợi
cho bị can, bị cáo hoặc NBH, nên khi căn cứ vào đặc điểm này có thể chia NLC thành
hai loại sau.
NLC có lòi khai có giá trị bảo vệ người bị tình nghi: là loại NLC mà lời khai
của
họ có lợi cho bên bị can, bị cáo. Lòi khai của NLC loại này thì có vai trò bào chữa theo
hướng chứng minh những tình tiết trong VAHS giúp bị can, bị cáo trong việc chứng
thể, nên đôi khi có sự nhầm lẫn hay những cách hiểu không thống nhất về bản chất
pháp lý của NLC. NLC là chủ thể tham gia tố tụng chỉ với tư cách là người phối hợp
với CQTHTT trong quá trình giải quyết và làm sáng tỏ vụ án, với mong muốn duy nhất
là tìm ra sự thật khách quan của VAHS. Nhìn chung, khi tham gia vào TTHS, NLC là
chủ thể không có sự quan tâm pháp lý về kết cục của vụ án. Lý do tham gia của NLC
trong TTHS không phải lợi ích cá nhân của họ, mà là lợi ích của bị can, bị cáo, NBH,
của CQTHTT và lợi ích chung của xã hội: đó là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ
án, NLC hoàn toàn không được bất cứ quyền lợi về mặt vật chất nào từ việc làm
chứng. Sự tham gia của họ góp phần vào việc chứng minh, làm sáng tỏ sự thật khách
quan của VAHS. Khi so sánh vai trò, chức năng tố tụng của NLC với NBH và bị can,
bị cáo sẽ nhận thấy rõ sự khác biệt về tư cách tố tụng của NLC với các chủ thể khác
trong TTHS. Theo đó NBH tham gia tố tụng vói tư cách là chủ thể buộc tội, thực hiện
quyền công dân và quyền tố tụng, cùng với CQTHTT xác định có tội phạm xảy ra, bảo
vệ quyền lợi của mình. Cũng giống NBH, bị can, bị cáo tham gia vào tố tụng với tư
cách chủ thể rõ ràng là vì lợi ích cá nhân của mình. Trong khi đó, NLC tham gia tố
tụng chỉ với tư cách là người phối hợp với CQTHTT trong quá trình giải quyết vụ án,
tham gia tố tụng không vì lợi ích cá nhân. Bằng việc cung cấp lời khai mà mình biết có
hên quan vói VAHS, NLC làm sáng tỏ những tình tiết cần thiết trong quá trình điều
tra, chứng minh tội phạm. Đối với NLC thì tham gia vào vụ án và trình bày lời khai
trung thực tất cả những gì mà mình biết không những là quyền và nghĩa vụ công dân
mà là nghĩa vụ tố tụng của họ. Còn đối với nhà nước thì NLC chính là những người
phối họp với nhà nước, với CQTHTT và thật sự Nhà nước cần đến sự họp tác đó trong
công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Chức năng chính của NLC là hỗ trợ tư pháp. Sẽ dễ dàng nhận thấy được chức
năng TTHS của NLC hoặc sự khác biệt giữa chức năng TTHS của NLC với những
người tham gia tố tụng khác khi so sánh với vai trò TTHS của NBH. Theo đó, NBH là
nạn nhân trực tiếp của hành vi tội phạm nên lòi khai của họ có thể phản ánh đậm nét
hơn những đánh giá, cảm xúc chủ quan về các tình tiết của vụ án so với lời khai của
NLC. “Lời khai NBH không chỉ là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà
còn là lời buộc tội, là công cụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người đó.
họ. Bằng việc tham gia vào TTHS, tham gia vào việc khai báo đúng đắn những gì đã
biết có liên quan đến VAHS, góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, NLC đã
thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong việc “phái hiện, to giác
hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chong tội phạm, góp phần bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” (Khoản 1 Điều
25 BLTTHS 2003) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Bên cạnh đó, việc thực
hiện đầy đủ những yêu cầu mà BLTTHS quy định tại Khoản 4 Điều 55 BLTTHS 2003
“Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điểu tra, Viện kiểm sát, Toà án; Khai trung
thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án”, NLC cũng đã thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ tố tụng của mình, góp phần vào công cuộc phòng ngừa và phát hiện tội phạm.
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
20
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
1.2.2. Vai trò của của lời khai của NLC trong TTHS
1.2.2.1. Lời khai NLC là một nguồn chứng cứ quan trọng trong việc giải quyết
đúng đắn VAHS
Một VAHS xảy ra bao giờ cũng để lại dấu vết và những dấu vết đó được thể
hiện dưới những hình thức khác nhau, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúng
đắn VAHS, nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội. Các CQTHTT sẽ căn cứ
vào những dấu vết đã thu thập được để khỏi tố, truy tố hay xét xử một người đã có
hành vi phạm tội. Những dấu vết đó được gọi là chứng cứ. “Chứng cứ là nhũng gì có
thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra,
bảo vệ
quyền vá lợi ích
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003 pháp GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu của mình” Điểm
hợp
a
Khoản 2 Điều 58
năm
mình, luôn luôn bị ràng buộc về trách nhiệm pháp lý với những gì mình nói, “NLC BLTTDS
2004 phải cam đoan không khai gian doi” (Điều 204, BLTTHS 2003) nên tính chính xác,
xác minh càng cao.
Có thể nói là trong tương lai dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi nữa,
dù máy móc tự động có thể thay thế hoạt động của con người trong nhiều lĩnh vực khác
nhau đi chăng nữa thì lời khai NLC vẫn có vai trò to lớn trong hoạt động xét xử. Sự
phát triển của khoa học kỹ thuật chỉ có thể mở rộng khả năng, làm thuận tiện hơn, dễ
dàng hơn quá trình thu thập, lưu trữ, truyền tải và sử dụng lời khai NLC nhưng không
thể thay thế được lời khai của NLC. Lòi khai NLC vẫn là một trong những công cụ
không thể thiếu được trong quá trình chứng minh, làm sáng tỏ sự thật khách quan của
vụ án.
1.2.2.2. Lời khai NLC trong nghĩa vụ chứng minh
Chứng minh được hiểu “là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc
hoặc bằng lý lẽ”.5 Theo đó, chứng minh trong TTHS là một dạng của hoạt động chứng
minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp
lý được điều chỉnh bởi luật TTHS và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ
thể có quyền, quá trình chứng minh có hay không có tội phạm đó là nghĩa vụ bắt buộc
của những cơ quan có chức năng như CQĐT, VKS, TA “Trách nhiệm chứng minh tội
phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không
buộc phải chứng minh là mình vô lội” (Đoạn 2 Điều 10 BLTTHS 2003), chứ không
phải thuộc về đương sự như trong tố tụng dân sự 6 và kết quả của hoạt động này sẽ là
chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” (Điều 63 BLTTHS 2003) và
trong hầu hết các giai đoạn của quá trình tố tụng, thì CQTHTT luôn cần đến sự cộng
tác của NLC. Bằng việc cung cấp lời khai cho CQTHTT thì khi đó vai trò lời khai của
NLC trong việc hỗ trợ CQTHTT trong quá trình chứng minh làm sáng tỏ VAHS được
tận dụng triệt để và phát huy tác dụng tối đa.
Vì lời khai của NLC chứa đựng những yếu tố mà “họ biết về vụ án, nhân thân
của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, NBH, quan hệ giữa họ với người bị
bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, NBH... ” (Điều 67 khoản 1 BLTTHS), nên khi
căn
cứ vào những gì NLC cung cấp trong lời khai sẽ có tác dụng rất lớn trong quá trình
CQTHTT chứng minh làm sáng tỏ vụ án. Bởi quá trình chứng minh làm sáng tỏ vụ án
là quá trình đi tìm những gì có liên quan đến vụ án, rồi bằng những phưcmg pháp
nghiệp vụ, trên cơ sở phân tích, đánh giá và tổng hợp những chứng cứ thu thập được
trong quá trình tố tụng, CQTHTT sẽ rút ra kết luận một cách khoa học và logic nhất về
vụ án đó làm căn cứ cho phán quyết của TA. Giống như các chứng cứ khác thì lời khai
của NLC luôn chứa đựng những yếu tố có giá trị chứng minh, làm sáng tỏ VAHS. Bên
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
23
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
cạnh đó, lòi khai của NLC khác với vật chứng ở chỗ là luôn luôn phản ánh đúng đắn và
sinh động những gì mà NLC muốn thể hiện hơn là vật chứng vì đó là sự phản ánh của
một con người thật, qua lời nói và hành động của mình. Đặc biệt, trong trường hợp đối
vói những vụ án không có chứng cứ nào khác ngoài lời khai của NLC, thì khi đó để
giải quyết loại án này, CQTHTT chỉ duy nhất căn cứ vào lời khai của NLC mà vẫn có
Chế định người làm chứng trong BLTTHS 2003
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
Trong trường hợp NLC cho lời khai không khách quan, không chính xác, lời
khai không đúng như những gì NLC biết được, thì điều đó không những làm cho quá
trình tố tụng trở nên khó khăn, phức tạp hơn mà đôi khi làm cho hướng điều tra bị sai
lệch, quá trình điều tra kéo dài, hao phí tiền của ngân sách nhà nước, thậm chí còn dẫn
đến oan sai, thiệt hại về công lý... Đặc biệt, lọi dụng sự ảnh hưởng của lòi khai NLC
đến quá trình tố tụng, phán quyết của TA... một số đối tượng đã mua chuộc NLC cho
lời khai không đúng, không khách quan, nhằm để che dấu hành vi tội phạm hoặc gây
khó khăn trong quá trình tố tụng cho CQTHTT, bằng lợi ích về vật chất hoặc đe dọa
tính mạng, sức khỏe, danh dự NLC hoặc người thân của họ. Từ đó, thấy được vai trò
quan trọng và sức ảnh hưởng vô cùng lớn của lời khai của NLC đối với việc làm sáng
tỏ sự thật của VAHS. Lời khai của NLC có thể giúp CQĐT định hướng được quá trình
điều tra, có thể là căn cứ cho VKS ra quyết định khởi tố, truy tố và có thể là cơ sở cho
TA ra phán quyết cuối cùng để giải quyết VAHS...Khi lời khai của NLC không khách
quan, không chính xác cũng có thể làm cho quá trình tố tụng khó khăn, kéo dài, thậm
chí gây oan sai, thiệt hại về người và tiền của...
b) Lời khai của NLC đối với việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ những quyển cơ bản
của công dân
Trong quy định về nhiệm vụ của BLTTHS năm 2003, thì một trong những
nhiệm vụ cơ bản đó là “không bỏ lọt tội phạm” và “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”
(Điều 1 BLTTHS năm 2003) được coi là kim chỉ nam cho phương hướng hoạt động
trong TTHS. Theo đó, NLC cũng như các chủ thể khác trong quá trình tố tụng luôn cố
gắng chứng minh tội phạm, không để có người bị oan, không để cho những người lợi
dụng pháp luật làm những điều sai trái, hoặc những người vi phạm pháp luật sống
ngoài vòng pháp luật, thì đó cũng là một trong những cách bảo vệ pháp luật hữu hiệu
nhất. Bằng sự tham gia đóng góp vào quá trình chứng minh tội phạm, lời khai của
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyển, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” (Khoản 1
Điều 25 BLTTHS năm 2003). Làm tốt vai trò của một NLC đồng nghĩa với việc bảo vệ
quyền lợi của mình - bảo vệ quyền công cơ bản công dân. Ngoài ra, NLC cung cấp lời
khai làm sáng tỏ vụ án cũng có nghĩa là NLC đang bảo vệ bị can, bị cáo tránh khỏi
những hàm oan, trả lại sự trong sáng và khôi phục danh dự cho họ trong thời gian bị
tạm giam, tạm giữ trong trường hợp họ không thực hiện tội phạm... hoặc làm cho sáng
tỏ vụ án, trả lại sự công bằng cho NBH, bù dấp những mất mát do những hành vi do tội
phạm gây ra, thì lúc đó lòi khai NLC đã có tác dụng bảo vệ cho NBH. Lúc đó thì
những quyền cơ bản của công dân như quyền được sống, quyền công bằng... đã được
bảo vệ, Do đó, lời khai của NLC chẳng những có tác dụng làm sáng tỏ vụ án, bảo vệ
công lý, bảo vệ pháp luật mà còn phát huy tác dụng trong việc bảo vệ quyền con người.
c) Vai trò lời khai của NLC trong nghĩa vụ chứng minh đối với công cuộc đấu
tranh phòng chong tội phạm
Mọi công dân trong xã hội dù ở vị trí nào thì cũng đều bị chi phối bởi pháp luật,
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều chịu sự điều chỉnh của những quy định của
pháp luật, không ai có quyền cho mình “đứng trên pháp luật”. Nhiệm vụ của công dân
trong xã hội là tuân theo pháp luật, biểu hiện cụ thể của quá trình này là tuân thủ theo
những quy định của pháp luật. Nhiệm vụ chính của TTHS không những là phát hiện tất
SVTH: Huỳnh Thị cẩm Hồng
26