LUẬN VĂN: Tìm hiểu bản chất của thuế GTGT, đánh giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong những năm vừa qua - Pdf 12


z

LUẬN VĂN:

Tìm hiểu bản chất của thuế GTGT, đánh
giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong
những năm vừa qua
1./ Khái niệm.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ
phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
2./ Sự ra đời và phát triền của thuế GTGT.
Năm 1954 thuế GTGT lần đầu tiên ra đời tại Pháp dưới hình thức thuế đánh
vào giai đoạn sản xuất. Đến năm 1968, thuế này được nhập vào thuế lưu thông đánh
vào dịch vụ và thuế địa phương đánh vào lưu thông bán lẻ thành một loại thuế thống
nhất chung thu ở giai đoạn bán lẻ (viết tắt theo tiếng Pháp là TVA). Từ đó đến nay do
tính ưu viết của mình, thuế GTGT ngày càng được sử dụng rộng khắp ở nhiều nước
trên thế giới. Thuế GTGT được sớm áp dụng ở Châu âu, chỉ hơn hai mươi năm sau
khi ra đời hình thức sơ khai đầu tiên, nó đã được coi là một trong những điều kiện tiên
quyết để gia nhập khối EC (năm 1977).
Tính đến năm 1995, trên thế giới có tới hơn 100 nước áp dụng thuế GTGT.
Riêng Châu á kể từ năm 80 trở lại đây đã có sự gia tăng vượt bậc về số lượng các
thành viên sử dụng VAT. Đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985),
Đài Loan (1986), Philipine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994) và Việt Nam
(1999).
Việc áp dụng một phương pháp tính thuế mới ở một quốc gia không phải là
vấn đề đơn giản, hệ thống thuế ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách và vấn đề phát triển
kinh tế của quốc gia đó. Chính vì vậy, không chỉ ở những nước đang phát triển mà ở
một số nước kinh tế phát triển, do những quan điểm khác nhau trong việc nghiên cứu
nên quyết định áp dụng thuế GTGT kéo dài trong nhiều năm như:
Nhật Bản đưa ra đề nghị áp dụng GTGT từ những năm 1955 đến năm 1986
nhưng tháng 4 năm 1989 mới thực hiện.
Newzeland: Phản đối kịch liệt thuế GTGT vào đầu những năm 80 nhưng đã

ban hành GTGT tháng 5 năm 1986.
Hy Lạp đồng ý chuyển sang GTGT khi ra nhập EC năm 1981 với tư cách một
thành viên chính thức, nhưng đến tháng 1 năm 1987 mới ban hành GTGT.
Canada ban đầu cũng rất phản đối việc ban hành GTGT thay thế cho thuế bán

Vấn đề quản lý thuế cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
(2) Như vậy thuế GTGT ra đời trước hết để đáp ứng tình hình mới, sau một
thời gian được áp dụng và kiểm nghiệm, thuế GTGT được đại đa số các nước trên thế
giới thừa nhận về những ưu điểm nổi bật của nó ở các mặt sau:
a. Khắc phục được một số mặt hạn chế của thuế doanh thu hiện hành.
Có khả năng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước. Kinh nghiệm của các
nước: Indonexia, Newzeland, Bồ Đào Nha và Tuinidi đã chứng minh rõ điều này. Đại
đa số các nước áp dụng thuế GTGT, khoản thu từ số thuế này thường đảm bảo từ 12%
đến 30% tổng số thu của Ngân sách Nhà nước (tương đương khoảng 5% đến 10%
tổng sản phẩm quốc dân).
b. Tính trung lập: Với điều kiện số lượng đối tượng được miễn hạn chế và
sự vận dụng thuế suất 0% chỉ hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu, GTGT là một thứ
thuế trung lập và không dẫn đến bất kỳ một sự méo mó nào. Điều này thể hiện tính ưu
việt của thuế GTGT so với các loại thuế được nó thay thế.
c. Tính đơn giản: Tính đơn giản của thuế GTGT bắt nguồn từ cơ chế đánh
thuế và khấu trừ thuế của nó. Đối tượng nộp thuế GTGT sẽ thu số GTGT khi bán
hàng và khấu trừ số thuế GTGT đã nộp khi mua vật tư, hàng hoá đầu vào, số chênh
lệch còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước. (Việc tính thuế căn cứ vào các hoá đơn bán
hàng và mua hàng).
II. Nội dung chủ yếu của thuế GTGT.
1./ Xác định phạm vi áp dụng.

Về đối tượng chịu thuế: GTGT là loại thuế đánh vào sử dụng, có nghĩa là
đánh vào người tiêu dùng, người nộp thuế là người kinh doanh, người chịu thuế là
người tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp nộp thuế thông qua người kinh doanh.
Đối tượng nộp thuế: Tất cả các thể nhân và các pháp nhân có cung cấp hoặc
nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Một số nước dùng doanh thu để giới hạn đối tượng nộp thuế. Ví dụ: Không
phải là đối tượng nộp GTGT, đối với các doanh nghiệp có mức doanh thu hàng năm
thấp hơn:

Qua tổng kết đánh giá của các nước, trong ba hình thức tiến hành GTGT, hình
thức toàn bộ là hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rất
đầy đủ về luật, các văn bản hướng dẫn luật, trình độ hiểu biết của người nộp thuế,
trình độ quản lý của từng cơ quan thuế, chứng từ hoá đơn, ý thức chấp hành luật
Hình thức áp dụng GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế, còn hình thức áp
dụng thí điểm ở phạm vi hẹp, ở một số ngành là không đem lại kết quả.
2./ Các hình thức tính thuế GTGT.
ở các nước đã thực hiện GTGT hiện nay áp dụng một trong hai phương pháp
khấu trừ theo hoá đơn và phương pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán.
a./ Phương pháp khấu trừ theo hoá đơn:
Đây là phương pháp được hầu hết các nước áp dụng do: Tính thuế dựa vào hoá
đơn đảm bảo xác định thuế có cơ sở để kiểm tra thuế. Có thể áp dụng chính sách thuế
với nhiều thuế suất (nếu thu thuế theo chênh lệch chỉ có thể áp dụng một thuế suất).
Có thể tính GTGT thu thuế theo thời gian ấn định một tháng, hai tháng hay một quí.
b./ Phương pháp thu GTGT trên chênh lệch theo báo cáo kế toán:

Phương pháp này xác định thuế phải dựa trên số liệu báo cáo kế toán của đơn
vị áp dụng phương pháp này sẽ có những vấn đề sau:
Thứ nhất: Các xí nghiệp coi GTGT chỉ là thuế bổ xung đánh vào lợi nhuận,
còn các nhân viên của họ thì coi đó là lại thêm một thứ thuế nữa đánh vào quĩ tiền
lương.
Thứ hai: Báo cáo chỉ kêt thúc một lần trong năm, vậy là tất cả các khoản thanh
toán GTGT phải dựa vào kết toán năm.
Thứ ba: Khó kiểm tra thuế phải nộp từng kỳ so với phương pháp sử dụng hoá
đơn và không có cơ sở để tiến hành các cuộc kiểm tra chéo thuế giữa đơn vị mua và
bán.
Mô hình GTGT Nhật Bản được sử dụng theo phương pháp này (1/4/1989):
Thu GTGT trên cơ sở báo cáo kế toán với một thuế suất là 3% và đã quyết định điều
chỉnh lên 5% để thi hành từ tháng 4/1997. Nhật Bản không phát hành hoá đơn áp
dụng riêng đối với thuế GTGT vì các doanh nghiệp phản ứng, theo phương pháp tính

ịch vụ tài chính quốc tế.
Đan Mạch và Trung Quốc không sử dụng thuế suất 0%.
Miễn thuế (không áp dụng) GTGT: Các đối tượng được miễn thuế khác với
các đối tượng được hưởng thuế suất 0% ở chỗ họ không có quyền khấu trừ đầu vào
thuế đầu vào đã nộp. Qui định miễn chịu thuế có thể xuất phát từ nhiều lý do: Về kinh
tế, xã hội, về tránh sự đánh thuế chồng chéo, về kỹ thuật: khó xác định giá trị tăng
thêm như: Các dịch vụ về tài chính tín dụng, dịch vụ vận tải quốc tế về hàng không,
đường sắt.
Ví dụ : Thuỵ Điển qui định 29 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
Đan Mạch qui định 14 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
Đức qui định 5 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
4./ Quản lý GTGT.

Đăng ký thuế: Các đối tượng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đầu tiên là đăng
ký thuế tại cơ quan thuế địa phưong nơi đặt cơ quan điều hành thường trú của mình
theo mẫu thống nhất do cơ quan thuế cung cấp. Một số nước sử dụng mã số đăng ký
thuế cũ (thuế doanh thu) và thêm vào đuôi của dãy số đăng ký một số bổ xung để chỉ
rõ là số đăng ký GTGT. Riêng Nhật Bản không sử dụng hệ thống mã hoá số đăng ký
trong công tác quản lý GTGT.
Nộp thuế: Đa số các nước áp dụng GTGT thực hiện nộp thuế theo cơ chế tự kê
khai tính và nộp thuế theo mẫu in sẵn do cơ quan thực hiện cung cấp. Nộp tờ khai và
thanh toán thuế theo định kỳ hàng tháng, quí (tuỳ theo chế độ nộp thuế qui định cho
từng loại đối tượng).
Việc thoái thuế: Phần lớn được giao cho cơ quan thu thuế, trong trường hợp số
thuế được khấu trừ lớn (xuất khẩu hàng hoá hoặc mua sắm tài sản giá trị lớn, đối
tượng kinh doanh có quyền kê khai đề nghị cơ quan thuế thoái trả số tiền đã trả khâu
trước. Cơ quan thuế kiểm tra và thoái trả tiền thuế đã trả ngay một lần hoặc thoái trả
dần trong một thời gian tuỳ theo qui định của từng nước và khả năng ngân sách mỗi
nước. Theo cách này cơ quan thuế thường có một tài khoản thu GTGT và sử dụng
nguồn thu để thoái thuế, khoản còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Điển đã tăng phí bảo hiểm 1% trên tổng quĩ lương. Trong quá trình thực hiện Thuỵ
Điển cũng đã điều chỉnh thuế suất và bổ sung thêm mức thuế vào.
Thứ tư: Đối với những đầu tư trang thiết bị, máy móc khi thực hiện GTGT
cung được khấu trừ.
Thứ năm: Không qui định cho miễn giảm GTGT vì không thể dùng chính sách
thuế GTGT để trợ cấp.
2./ Philipines: Khi Chính phủ mới ra đời (tháng 12 năm 1986) việc cải cách

sửa đổi hệ thống thuế là việc làm trước tiên của nước này. Chương trình thuế năm
1986 bao gồm 29 khâu cải cách phải tiến hành và đã được soạn thảo. Một trong
những cải cách về cơ cấu đưa ra trong chương trình là ban hành thuế GTGT. Được
thể chế hoábăng Lệnh số 273, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1988. Như vậy, để ban hành
thuế GTGT, Philipines đã trải qua quá trình nghiên cứu và chuẩn bị.
Ngày 1/1/1988, Philipines bắt đầu thực hiện GTGT. Có thể tóm tắt ở mấy điểm
sau:
- Thuế GTGT được xây dựng dể hợp lý hoá hệ thống đánh thuế hàng hoá
và dịch vụ chịu thuế, để đơn giản hoá việc quản lý thuế và làm cho hệ thống thuế
Philipines công băng hơn.
- Thuế GTGT được áp dụng trên diện rộng hàng hoá và một số dịch vụ,
trên từng hoạt động bán hay nhập khẩu những hàng hoá dịch vụ đó.
- Thuế suất qui định một mức là 10% đánh trên tổng giá bán hay tổng số
tiền nhận được từ bán hàng hoá hay dịch vụ, thay cho thuế doanh thu đối với người
sản xuất gồm 4 thuế suất: 0%, 10%, 20%, 30%, thuế trên dịch vụ: 15 thuế suất từ 0%
đến 30%. Tuy nhiên, có miễn thuế đối với một số hoạt động kinh doanh được áp dụng
để khuyến khích một số hoạt động như sản xuất nông sản, giảm bớt ảnh hưởng đến
giá cả một số mặt hàng như dầu lửa, và để đơn giản việc quản lý thuế đối với doanh
nghiệp nhẹ và các dịch vụ tài chính.
- Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
- áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ và cho khấu trừ đối với tài
sản dùng trong thương mại hoặc kinh doanh.

Chương trình thí điểm về thuế GTGT ở Trung Quốc đã gặp nhiều vướng mắc
do các nguyên nhân chủ yếu:
a. Chưa chuẩn bị kỹ về chế độ hướng dẫn thực hiện và xử lý các trường
hợp vướng mắc thực tế.
b. GTGT chỉ thực hiện cho một số sản phẩm ở khâu sản xuất, chưa thực
hiện ở khâu lưu thông, dịch vụ, vì vậy, trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn
vướng mắc, không xử lý triệt để, chính xác, chưa đạt được mục đích của GTGT là
khắc phục triệt để thu thuế trùng lặp.
Bên cạnh đó, GTGT của Trung Quốc có quá nhiều thuế suất, mức chênh lệch
giữa các thuế suất cao từ 43% đến 12%. Vì vậy, khi thực hiện khấu trừ thuế phức tạp,
căn cứ không chính xác, gây ra vận dụng tuỳ tiện, không kiểm soát được chặt chẽ việc
khấu trừ tiền thuế ở cơ quan cấp dưới.
Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo thẹc hiện đơn giản, dễ kiểm soát, hiện
nay Trung Quốc thực hiện khoán mức khấu trừ thuế cho các sản phẩm đầu vào, bước
đầu có nhiều mức, nay thực hiện thống nhất một mức 7%.
Do thu theo phương pháp khấu trừ chung cho một mức thoát ly hoá đơn, nên
phạm vi khấu trừ thuế rộng thực tế có khi thuế thu thấp vì trong số thuế được khấu trừ

có phần thuế chưa được tính nộp Ngân sách.
Một trong những điều kiện tiên đề để thực hiện thành công GTGT là thực hiện
cơ chế giá thị trường. Nhưng hiện nay Nhà nước Trung Quốc vẫn quản lý giá hơn 100
mặt hàng, vì vậy, quá trình thực hiện GTGT của Trung Quốc gặp khó khăn.
Thực hiện GTGT ở khâu sản xuất của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, phức
tạp. Để việc quản lý, thực hiện GTGT có hiệu quả, Trung Quốc phân ra từng đối
tượng để có biện pháp thu thuế: Xí nghiệp qui mô nhỏ thu khoán, Xí nghiệp có qui
mô lớn và vừa thu căn cứ vào sổ sách kế toán. Thực tế hiện nay GTGT chỉ áp dụng
trong các xí nghiệp quốc doanh.
II./ một số nước kinh tế phát triển vẫn chưa áp dụng thuế GTGT.
Cho dù GTGT là một loại thuế có nhiều ưu điểm nhưng cho đến nay có một sô
nước kinh tế phát triển chưa áp dụng. Chúng ta sẽ nghiên cứu những nguyên nhân của

sẽ xâm phạm đến nguồn thu của họ.
d. Cả cơ quan thuế bang và liên bang đều lo ngại việc áp dụng GTGT sẽ
tác động về phương diện quản lý.
Autralia: Autralia cũng là một trong những nước OECD đến nay chưa chấp
nhận GTGT vì một số lý do như sau:
a. Lo sợ về chi phí quản lý cao.
b. Lo sợ về khả năng trốn thuế tăng.
c. Những yêu cầu về hoàn thuế khai tăng thêm có thể là một lỗ hổng cũng
nghiêm trọng tương đương như lập hoá đơn sai.
d. Chi phí cho việc cưỡng chế thuế tăng. Lo sợ về tính luỹ thoái.
Như vậy, những lý do chủ yếu của việc chưa ban hành thuế GTGT ở Mỹ và

Autralia là các lý do mang màu sắc chính trị chứ không phải về kinh tế, do đặc thù
của các nước đó (quan hệ liên bang và bang đang ổn định, họ không muốn có sự xáo
trộn đễ dàng gây nên tình hình mất ổn định chung).
III./ bài hoc kinh nghiểmut ra từ các nước đã tính thuế GTGT.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước áp dụng GTGT cà hội thoả, trao đổi
kinh nghiệm với các chuyên gia thuế GTGT của các tổ chức quốc tế và một số nước
có thể rut ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
1. Thuế GTGT là một loại thuế có nhiều ưu điểm cần nghiên cứu áp dụng
nhằm góp phần thúc dẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển theo cơ chế thị
trường, mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo nguồn thu ổn định và phát triển cho Ngân sách
quốc gia. Nhưng không thể và không nên áp dụng thí điểm thuế GTGT trong phạm vi
hẹp ở một số nghành và một số đơn vị.
2. Nội dung chính sách thuế GTGT ban hành phải được nghiên cứu kỹ, qui
định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện được rõ ràng, thống nhất. Phải tuân
thủ các nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT với sự vận dụng và qui định phù hợp với
từng nước.
- Củng cố chế độ hoá đơn, chứng từ, hạch toán, kế toán, nhưng không thể
đợi đến lúc thực hiện đầy đủ hoá đơn chứng từ mới áp dụng GTGT, vì việc áp dụng

nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và thực hiện mục tiêu nhiều chính sách khác, do
đó, làm cho nội dung chính sách thuế phức tạp, gây khó khăn trong quá trình thực
hiện cả đối với cán bộ thuế cũng như đối tượng nộp thuế.
- Về mặt kỹ thuật, hệ thống thuế hiện hành cũng như trong từng sắc thuế
còn quá phức tạp, trùng lặp, nhất là thuế doanh thu, nên hiệu quả chưa cao, còn gây
tâm lí chồng chéo nặng nề.
- Trong chính sách còn có những điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc
tế, do đó, có thêt trở thành những cản trở trong quá trình mở rộng quan hệ hợp tác
kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới (đặc biệt là chính sách thuế trong
việc thu hút đầu tư nước ngoài cũng như trong nước.
II./ sự cần thiết phải cải cách hệ thống chính sách thuế.
Những thành tựu đã đạt được trong 10 năm đổi mới đã tạp tiền đề đưa kinh tế
nước ta sang một giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đồng thời ngày
càng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực trong nước và trên

thế giới. Phương hướng phát triển kinh tế với các nước trong kỳ 1996 - 2000 như nới
trên đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế mở rộng hợp tác trong thời gian tới. Vì vậy cải
cách thuế là một điều tất yếu nhằm mục đích:
Thứ nhất: Khắc phục những nhược điểm của hệ thống thuế hiện hành, tạo sự
thích ứng của nó trong cơ chế thị trường, bảo đảm yêu cầu động viên vào Ngân sách
mà Đại hội lần thứ VII của Đảng đã đề ra cho những năm tới: ;àm cho thuế thực sự là
một công cụ có hiệu lực của Nhà nước trong giai đoạn mới, thúc đẩy sản xuất phát
triển và tăng trưởng kinh tế của đất nước theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Thứ hai: Làm cho hệ thống chính sách thuế cũng như từng sắc thuế tiến tới
những yếu tố tương đồng với thuée các nước và phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo
điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước trong
khu vực và thế giới.
III./ Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang cơ chế thị

hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hoá tương tự của các nước
trên thị trường quốc tế.
Thứ tư: Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ góp phần
bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước. Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khẩu
hàng hoá năm 1999, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế tiêu dùng, nhất là hàng tiêu
dùng cao cấp từ nước ngoài, thực hiện tiết kiệm cho sản xuất. Đối với vật tư, nguyên
vật liệu nhập khẩu vẫn thực hiện thu thuế GTGT khi hàng nhập về, nhưng đã có xem
xét điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu để ổn định sản xuất trong nước.
Thư năm: Thuế GTGT còn góp phần cơ cấu lại nền kinh tế từ sản xuất thay thế
nhập khẩu chuyển mạnh sang sản xuất hướng xuất khẩu. Thuế GTGT sẽ khuyến
khích việc sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng nước ta có thế mạnh như nông sản,
lâm sản, thuỷ sản bằng các qui định cụ thể như không thu thuế GTGT đối với hàng

do người sản xuất bán ra, cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các cơ sở chế
biến, thương mại mua các mặt hàng, hoàn thuế đầu vào cho các cơ sở xuất khẩu các
mặt hàng này nếu có hoá đơn GTGT đầu vào
Thứ sáu: Thuế GTGT không làm tăng giá cả hàng hoá. Bản chất thuế GTGT
không làm tăng giá vì nó thay thế thuế doanh thu đã được kết cấu vào trong giá. Điều
này cũng đòi hỏi các Bộ, Nghành địa phương phải có biện pháp quản lý hướng dẫn
kịp thời và đúng đắn việc thực hiện thuế GTGT. Tránh tình trạng một số doanh
nghiệp hay hộ kinh doanh chưa hiểu rõ, có thể sẽ cộng thêm thuế vào giá cũ để bán
làm giá cả hàng hoá tăng thêm.
Phần V. Đánh giá tình hình triển khai thực hiện thuế GTGT ở Việt Nam.
Thực hiện chương trình cải cách thuế bước II, Quốc hội đã thông qua hai luật
thuế mới: Luật thuế Giá trị gia tăng (thuế gián thu), Luật thuế thu nhập (thuế trực thu)
và sửa đổi bổ xung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Đồng thời sửa đổi, bổ xung các luật thuế có liên quan như: Luật Nhân sách, Luật

nhưng với tinh thần chủ động, lại được sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ chính trị,
của UBTVQH, và sự điều hành thướng xuyên, cụ thể của Chính phủ, cùng với sự cố
gắng của các nghành, các cấp, của các cơ quan đoàn thể, sự hưởng ứng của các đối
tượng nộp thuế, sự đồng tình của nhân dân, sự nỗ lực của nghành tài chính, nghành
thuế, đến nay sau một năm thực hiện các Luật thuế mới đã đi vào cuộc sống, sản xuất
kinh doanh giữ được ổn định, bước đầu các Luật thuế mới đã phát huy được tác dụng
trên các mặt.

1./ Về sản xuất kinh doanh.

Với việc thực hiện Luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình
đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% so với trước đâu. toàn bộ thuế GTGT của
công trình xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá công trình như
thuế doanh thu, vì vậy chi phí khấu hao tài sản cũng giảm thấp hơn. Các doanh nghiệp
xây dựng mua sắm tài sản cố định có thuế GTGT đều được khấu trừ hoặc hoàn thuế.
Mặt khác khi nhập khẩu thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng, loại
trong nước chưa sản xuất được để đầu tư thành tài sản cố định theo dự án, thì không
thuộc diện chịu thuế GTGT trong thời gian ba ngày kể từ ngày nộp tờ khai. Từ khi
thực hiện Gnhị định só 78?NĐ-CP giảm 50% mức thuế GTGT đối với sản phẩm xây
dựng cơ bản thì mức thuế GTGT các doanh nghiệp xây lắp còn phải nộp sau khi khấu
trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% đến 2%, thấp hơn so với mức 4% khi nộp
thuế doanh thu, thậm chí còn được hoàn thuế.
Thực hiện thuế GTGT còn thuc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá
phát triển do thuế GTGT chỉ thu trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các
khâu sản xuất, lưu thông đến khâu tiêu dùng cuối cùng với hai phương pháp tính thuế
(phương pháp khấu trừ thuế, và phương pháp trực tiếp). Đã khắc phục nhược điểm
của thuế doanh thu là thuế trùng lên thuế, đã thuc đẩu chuyên môn hoá, hiệp tác sản
xuất, nhất là trong lĩnh vực sản xuất có khí như: sản xuất, lắp ráp xe đạp, xe máy, ô tô,
điện, điện tử
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có qui định chế độ khuyến khích đối với

bốc xếp, xây dựng, lắp đặt, khách sạn, ăn uống, du lịch, đã được UBTVQH, Chính
phủ, Bộ tài chính thực hiện các biện pháp xử lý, tháo gữo khó khăn như: giảm mức
thuế nhập khẩu của 569 mặt hàng là vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước
với số thuế giảm gần 1000 tỷ đồng, giảm mức thuế GTGT cho 18 loaih hàng hoá,
dịch vụ mở rộng diện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ ấn định đối với một số
mặt hàng
Bằng các nội dung chính sách và biện pháp tháo gõ khó khăn nêu trên, các
Luật thuế mới đã góp phần khuyến khích đầu tư và ổn định sản xuất, kinh doanh.
Trong năm 1999, tuy gặp nhiều khó khăn do số dự án đầu tư trực tiếp của nước
ngoài giảm khoảng 12,3% nhưng tổng số vốn đầu tư vẫn tăng so với năm 1998, trong

đó vốn đầu tư trong nước tăng khoảng 28,6%, vốn ODA tăng khoảng 16%. Thực hiện
các luật thuế mới ngay sau thời gian khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ nhưng sản
xuất kinh doanh vẫn giữ được ổn định. NĂm 1999, tốc độ tăng trưởng GDP có xu
hướng tăng lên so với năm 1998, cả năm đạt 4,8%. Tình hình tài chính của các doanh
nghiệp vẫn giữ được ổn định và có thể chia ra theo các nhóm như sau:
- Nhóm các doanh nghiệp thực hiện các luật thuế mới thuận lợi hơn do
mức thuế phải nộp thấp hơn so với mức thuế cũ như: điện, xi măng, phân bón, thuốc
trừ sâu, xây dựng, ăn uống, lắp đặt, bưu chính viễn thông, xổ số kiến thiết, khách sạn,
du lịch
- Nhóm các doanh nghiệp thực hiện các luật thuế mới có mức thuế phải
nộp tương đương với mức thuế cũ như: nghành dệt may, da giầy, điện tử, vật liệu xây
dựng (trừ xi măng), đường sữa, bao bì
- Nhóm các doanh nghiệp đang lỗ thực hiện các luật thuế mới giảm lỗ
hoắc có lãi như: Dệt Nam Định, Tổng công ty vật tư Nông nghiệp, kẹo Hải Hà
- Nhóm các doanh nghiệp trước đây lỗ, thực hiện các luật thuế mới vẫn bị
lỗ như: Dệt 8/3, đạm Hà Bắc, cơ khí Hà Nội, bia Đông Nam á, công ty điện tử Đống
Đa, công ty điện tử Hanel
Để khuyến khích xuất khẩu, đại bộ phận hàng hoá xuất khẩu đều được áp dụng
mức thuế suất 0%. Một số loại hàng chịu thuế xuất khẩu như: gạo, than đá, sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status