LUẬN VĂN: Một số vấn đề về tổ chức quản lý và kế toán TSCĐ vô hình trong doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Một số vấn đề về tổ chức quản lý và
kế toán TSCĐ vô hình trong doanh
nghiệp Việt Nam Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu cao nhất của các doanh nghiệp là tối đa


I. Lý luận chung về tổ chức quản lý và kế toán TSCĐ vô hình trong doanh
nghiệp.
II. Kế toán TSCĐ vô hình theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam và kế toán của một
số nước trên thế giới.
III. Thực trạng tổ chức quản lý và kế toán TSCĐ vô hình trong chế độ, thực tế
vận dụng chế độ ở Việt Nam.
IV. Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức quản lý và kế toán TSCĐ vô hình
trong các doanh nghiệp Việt Nam.
I. Lý luận chung về tổ chức quản lý và kế toán TSCĐ vô hình trong doanh
nghiệp
1. Sự cần thiết phải tổ chức khoa học công tác quản lý TSCĐ nói chung và
TSCĐ vô hình nói riêng
Sản xuất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người: "Nếu sản xuất chỉ
ngừng một ngày thôi, chứ không nói đến ngừng một vài tuần, ngừng một vài năm thì
xã hội cũng bị tiêu vong" (Marx- Angel). TSCĐ là cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ
sản xuất kinh doanh, là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là trong cơ chế thị trường thì TSCĐ còn là yếu
tố rất quan trọng để tạo nên sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo số liệu của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (IFAC) năm 1998, từ 50 -
90% gía trị do một công ty tạo ra là nhờ vào việc quản trị các TSCĐ vô hình, như vậy
việc quản trị TSCĐ hữu hình chỉ tạo ra 10 - 50% giá trị. Sự chênh lệch này sẽ tiếp tục
tăng lên khi nền kinh tế trí thức ngày càng trở thành một thực tế khách quan. Nếu
trong những năm 70, tương quan giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của công ty là
1 -1 thì hiện nay tương quan đó là 1 - 6, những số liệu trên phản ánh một thực tế rõ
ràng là TSCĐ vô hình "đang lên ngôi".
Việc theo dõi phản ánh đầy đủ tình hình TSCĐ nói chung và TSCĐ vô hình nói

cứu được hạch toán vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Chi phí phát triển được
ghi nhận là một TSCĐ vô hình nếu đáp ứng được tất cả các điều kiện sau:
 Tính khả thi về mặt kỹ thuật của việc hoàn thiện TSCĐ vô hình để có thể
sử dụng được hoặc để bán.
 Dự tính hoàn thiện TSCĐ vô hình và sử dụng hoặc bán tài sản này.
 Khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình.
 Làm thế nào để TSCĐ vô hình có thể tạo ra các lợi ích kinh tế trong
tương lai.
 Khả năng cung cấp đầy đủ về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác
để hoàn thiện việc phát triển và sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó.
 Khả năng xác định chi phí.
Một TSCĐ vô hình được tính khấu hao một cách có hệ thống trong thời gian sử
dụng ước tính tốt nhất. Có một giả định gây tranh cãi là thời gian hữu dụng ước tính
của một TSCĐ vô hình sẽ không vượt quá 20 năm kể từ ngày có tài sản để sử dụng.
Phương pháp khấu hao được sử dụng cần phản ánh cách thức doanh nghiệp sử dụng
các lợi ích kinh tế do tài sản tạo ra. Nếu cách thức đó không thể xác định được một
cách đáng tin cậy thì doanh nghiệp cần áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng.
Lợi thế thương mại phát sinh nội bộ, nhãn hiệu hàng hoá, tên công tố, quyền ấn
bản, danh sách khách hàng và các khoản có tính chất tương tự không được ghi nhận là
tài sản. Trong trường hợp sáp nhập doanh nghiệp, chi phí cho một TSCĐ vô hình
không đáp ứng cả tiêu chí xác định lẫn tiêu chí ghi nhận cho một TSCĐ vô hình sẽ
được tính vào lợi thế thương mại.
2.2. Chuẩn mực số 4 về TSCĐ vô hình của Việt Nam
Theo Quyết định số 166/1999/QĐ - TC ngày 30/12/1999 thì một khoản chi phí
thực tế doanh nghiệp bỏ ra thoả mãn hai điều kiện: (1) Có thời gian sử dụng từ một
năm trở lên và (2) có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên mà không hình thành TSCĐ hữu
hình thì được coi là TSCĐ vô hình.

TSCĐ vô hình phải là tài sản có thể xác định được để có thể phân biệt TSCĐ đó
với lợi thế thương mại. Một TSCĐ vô hình có thể xác định riêng biệt khi doanh nghiệp
có thể đem TSCĐ vô hình đó cho thuê, bán, trao đổi hoặc thu được lợi ích kinh tế cụ
thể từ tài sản đó trong tương lai.
 Khả năng kiểm soát:
Doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát một tài sản nếu doanh nghiệp có quyền thu
lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản đó mang lại, đồng thời cũng có khả năng hạn
chế sự tiếp cận của các đối tượng khác đối với lợi ích đó. Khả năng kiểm soát của
doanh nghiệp đối với lợi ích kinh tế trong tương lai từ TSCĐ vô hình thông thường có
nguồn gốc từ quyền pháp lý. Chính vì vậy khi doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên lành
nghề và thông qua việc đào tạo có thể xác định được sự nâng cao kiến thức của nhân
viên sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai hoặc có danh sách khách hàng hay thị
phần nhưng do doanh nghiệp không có đủ khả năng kiểm soát các lợi ích kinh tế đó
nên cũng không được ghi nhận là TSCĐ vô hình.
 Lợi ích kinh tế trong tương lai:
Lợi ích kinh tế trong tương lai mà TSCĐ vô hình đem lại cho doanh nghiệp có
thể là: tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí hoặc lợi ích khác xuất phát từ việc sử dụng
TSCĐ vô hình.
Như vậy, trên nền cơ sở là Chuẩn mực kế toán quốc tế thì Chuẩn mực số 04 của
Việt Nam đã có cái nhìn tổng quan về TSCĐ vô hình khác biệt so với trước đây nhằm
phù hợp với xu thế chung trên toàn thế giới.
Theo Quyết định số 166/1999 QĐ - TC ngày 30/12/1999 thì chi phí thành lập
doanh nghiệp là các chi phí doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình chuẩn bị cho sự thành
lập doanh nghiệp được coi là một TSCĐ vô hình của doanh nghiệp. Song đến Chuẩn
mực số 04, chi phí thành lập doanh nghiệp lại không được coi là TSCĐ vô hình mà
phải ghi nhận là chi phí kinh doanh hoặc chi phí trả trước. Đây là sự tiến bộ trong việc
nhận định về TSCĐ vô hình và rất phù hợp với mong muốn của các doanh nghiệp. Sở

Bên Nợ: Nguyên giá TSCĐ vô hình tăng
Bên Có: Nguyên giá TSCĐ vô hình giảm
Số dư bên Nợ:
Nguyên giá TSCĐ vô hình hiện có ở doanh nghiệp
Tài khoản 213 - TSCĐ vô hình có 6 tài khoản cấp 2:
 Tài khoản 2131 - Quyền sử dụng đất: Phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là
toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra có liên quan trực tiếp tới sử dụng, gồm: tiền chi ra
để có quyền sử dụng đất, chi phí cho đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng
 Tài khoản 2132 - Quyền phát hành : phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là
các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra để có quyền phát hành.
 Tài khoản 2133 - Bản quyền, bằng sáng chế: phản ánh giá trị TSCĐ vô
hình là các chi phí thực thế chi ra để có bản quyền tác giả, bằng sáng chế.
 Tài khoản 2134 - Nhãn hiệu hàng hoá: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là
các chi phí thực tế liên quan trực tiếp tới việc mua nhãn hiệu hàng hoá.
 Tài khoản 2135 - Phần mềm máy tính: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là
toàn bộ các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra để có phần mềm máy tính.
 Tài khoản 2136 - Giấy phép và giấy nhượng quyền: phản ánh giá trị
TSCĐ vô hình là các khoản chi ra để doanh nghiệp có được giấy phép và giấy phép
nhượng quyền thực hiện công việc đó.
 Tài khoản 2138 - TSCĐ vô hình khác: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình
khác chưa quy định phản ánh ở các tài khoản trên.
1.1. Xác định nguyên giá TSCĐ vô hình trong từng trường hợp
- Mua TSCĐ vô hình riêng biệt: nguyên giá TSCĐ vô hình mua riêng biệt bao
gồm giá mua (trừ các khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá), các khoản
thuế (không gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến
việc đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính.
- Mua TSCĐ vô hình từ việc sáp nhập doanh nghiệp: nguyên giá TSCĐ vô hình

 Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định
cho TSCĐ vô hình.
Nguyên giá TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp gồm các chi phí
liên quan trực tiếp hoặc được phân bổ theo tiêu thức hợp lý và nhất quán từ các khâu
thiết kế, xây dựng, sản xuất thử nghiệm đến chuẩn bị đưa tài sản đó vào sử dụng theo
dự tính.
- Chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu được tính vào nguyên giá TSCĐ vô hình
nếu thoả mãn đồng thời 2 điều kiện:
 Chi phí này có khả năng làm cho TSCĐ vô hình tạo ra có lợi ích kinh tế
trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu.
 Chi phí này được đánh giá một cách chắc chắn và gắn liền với một
TSCĐ vô hình cụ thể.
- Sau khi ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng, TSCĐ vô hình được xác
định theo nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại.
1.2. Khấu hao TSCĐ vô hình
Theo quy định, các doanh nghiệp có quyền tự xác định thời gian khấu hao các loại
TSCĐ vô hình của mình tối đa là 20 năm. Khi xác định thời gian sử dụng hữu ích của
TSCĐ vô hình làm căn cứ tính khấu hao cần xem xét các yếu tố:
+ Khả năng sử dụng dự tính của tài sản.
+ Vòng đời của sản phẩm và các thông tin chung về các ước tính liên quan đến
thời gian sử dụng hữu ích của các loại tài sản giống nhau được sử dụng trong điều kiện
tương tự.
+ Sự lạc hậu về kỹ thuật, công nghệ
+ Tính ổn định của ngành sử dụng tài sản đó và sự thay đổi về nhu cầu thị trường
đối với các sản phẩm hoặc việc cung cấp dịch vụ tài sản đó mang lại.
+ Hoạt động dự tính của đối thủ cạnh tranh hiện tại hoặc tiềm năng.
+ Mức chi phí cần thiết để duy trì, bảo dưỡng.

thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Nợ TK 213 - TSCĐ vô hình (giá mua chưa có thuế GTGT)
Nợ TK 1332 - Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 112 - Tiền gửi ngân hàng; hoặc
Có TK 141 - Tạm ứng; hoặc
Có TK 331 - Phải trả cho người bán.
- TSCĐ vô hình được hình thành từ nội bộ doanh nghiệp trong giai đoạn triển
khai:
+ Khi phát sinh chi phí trong giai đoạn triển khai thì tập hợp vào chi phí sản xuất
kinh doanh hoặc chi phí trả trước dài hạn:
Nợ TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn; hoặc
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 111, 112; 152, 331
+ Khi thấy kết quả triển khai thoả mãn định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ
vô hình thì:
 Tập hợp chi phí thực tế phát sinh ở giai đoạn triển khai:
Nợ TK 241 - Xây dựng cơ bản dở dang
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
Có TK 111, 112, 152, 331
 Kết thúc giai đoạn triển khai, xác định nguyên giá TSCĐ vô hình:
Nợ TK 213 - TSCĐ vô hình
Có TK 241 - Xây dựng cơ bản dở dang
- Khi doanh nghiệp được biếu tặng TSCĐ vô hình sử dụng ngay cho hoạt động
sản xuất kinh doanh
+ Nhận TSCĐ vô hình được tài trợ, biếu tặng:
Nợ TK 213 - TSCĐ vô hình
Có TK 711 - Thu nhập khác

2.1. Ghi chép TSCĐ vô hình
Những quy định về ghi chép TSCĐ vô hình của Việt Nam đã phải thay đổi để hội
nhập với các nước trên thế giới mà biểu hiện cụ thể là Chuẩn mực 04 ra đời chính là sự
kết hợp Chuẩn mực kế toán quốc tế với kế toán một số nước vào thực tiễn Việt Nam.
Đối với những TSCĐ vô hình phát triển nội bộ thì giá trị của TSCĐ được phản
ánh là chi phí bỏ ra để tạo ra TSCĐ vô hình đó, còn đối với TSCĐ vô hình mua ngoài
thì giá trị tài sản là chi phí đã bỏ ra để có những tài sản này. Tuy nhiên trên thực tế có
những trường hợp chi phí bỏ ra cho TSCĐ vô hình chỉ được thừa nhận như một khoản
chi phí trong thời kỳ phát sinh mà không được tài snả háo vì một số lý do sau:
o Để đơn giản cho việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp: ở một số
nước, một số khoản chi phí cho TSCĐ vô hình được phép khấu trừ khi xác định lợi tức
chịu thuế trong thời kỳ phát sinh chi phí. Chẳng hạn, chi phí cho nghiên cứ khoa học
mà có thể dẫn đến những sản phẩm, hoặc phương pháp sản xuất mới có thể đăng ký
bản quyền thường được phép khấu trừ khi xác định lợi tức chịu thuế trong năm có phát
sinh chi phí.
o Xác suất để có những lợi ích kinh tế trong tương lai từ những chi phí đã
chi ra nhỏ hơn mức cần thiết để có thể coi đó là một tài sản.
o Những chi phí chi ra cho tài sản vô hình không dáng kể nên có thể không
được tài sản hoá mà phân bổ ngay trong kỳ phát sinh chi phí.
Đối với TSCĐ vô hình xác định được thì việc xác định giá trị của tài sản phát
triển nội bộ và mua ngoài không có gì khác nhau. Nhưng với TSCĐ vô hình không xác
định được thì vấn đề lại khác hẳn, chẳng hạn công ty A mua lại toàn bộ công ty B theo
giá thị trường là 50 triệu USD trong đó giá thị trường của toàn bộ TSCĐ hữu hình và
các khoản nợ là 45 triệu USD, phần chênh lệch 5 triệu USD được coi là giá trị của uy
tín kinh doanh. Còn nếu tài sản này được phát triển nội bộ thì không được ghi nhận là
TSCĐ vô hình dù chúng vẫn tồn tại trong doanh nghiệp. Chẳng hạn uy tín của công ty
được hình thành trong suốt quá trình hoạt động, được kết tinh từ nhiều yếu tố khách

kinh doanh.
Đối với Mỹ, khấu hao TSCĐ vô hình chỉ được tính theo phương pháp bình quân
cho đến khi có phương pháp nào được chứng minh là thích hợp hơn. Theo thông lệ,
khấu hao TSCĐ vô hình được ghi "Có" trực tiếp vào tài khoản tài sản đó, tài sản vô
hình được báo cáo trên bảng tài khoản tài sản theo phần giá trị chưa được khấu hao.
Lấy ví dụ như một TSCĐ vô hình là bằng sáng chế, khi mua độc quyền sáng chế thì tất
cả các chi phí để mua quyền này được ghi "Nợ" vào tài khoản "Bằng sáng chế", tương
tự, các khoản chi phí về kiện cáo bảo vệ độc quyền sáng chế cũng được ghi "Nợ" vào
tài khoản "Bằng sáng chế". Bằng sáng chế cho người chủ nhân tấm bằng độc quyền
sáng chế trong vòng 17 năm, tuy vậy giá trị tấm bằng phải được khấu hao dần trong
một thời kỳ ngắn hơn 17 năm. Chẳng hạn nếu độc quyền sáng chế có giá trị 25.000
USD và có thời gian hữu dụng ước tính là 10 năm thì bút toán điều chỉnh sau được
thực hiện vào cuối năm để khấu hao dần 1/10 giá trị của bằng.
T12 31 Khấu hao bằng sáng chế 2.500,00
Bằng sáng chế 2.500,00
(Để xoá sổ 1/10 giá trị bằng)
Bút toán ghi "Nợ" 2.500 USD là nguyên nhân của chi phí độc quyền sáng chế
xuất hiện trên báo cáo thu nhập như một khoản của chi phí sản phẩm độc quyền được
sản xuất ra, số ghi "Nợ" trực tiếp làm giảm số dư của tài khoản "Bằng sáng chế".
Một số tài sản vô hình có thời hạn hiệu lực giới hạn do pháp luật, hợp đồng hay
bản chất của tài sản quyết định, các tài sản vô hình khác có thời gian sử dụng vô hạn
nhưng các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận đòi hỏi thời gian khấu hao TSCĐ vô
hình không bao giờ vượt qúa 40 năm, sự giới hạn này áp dụng cho cả trường hợp thời
gian của tài sản (như sự tín nhiệm, nhãn hiêu) có thể kéo dài vô tận.
Tóm lại, với một nền kinh tế thị trường còn ở giai đoạn thấp như chúng ta thì vấn
đề nghiên cứu bản chất cũng như chế độ kế toán TSCĐ vô hình còn chưa được chú ý
tương xứng với tầm quan trọng của nó. Song với xu thế tất yếu của kinh tế thị trường,

hình đã khiến cho việc quản lý và kế toán TSCĐ vô hình còn nhiều vấn đề tồn tại cần
giải quyết sớm.
Vấn đề thứ nhất: Bản quyền là biện pháp bảo đảm đầu tư quan trọng kể cả đầu tư
trong nước và nước ngoài. Một trong các yếu tố mà doanh nghiệp tính toán là khả
năng kiểm soát thị trường phân phối và tiêu thụ sản phẩm, muốn vậy doanh nghiệp
không thể không quan tâm đến bản quyền, bằng sáng chế. Không giống như các TSCĐ
hữu hình khác như nhà xưởng, máy móc, bản quyền là một TSCĐ vô hình gắn liền với
uy tín của doanh nghiệp thông qua việc bảo hộ các đối tượng có chức năng nhận dạng
như nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại. Người tiêu dùng nhận biết hàng hoá của
doanh nghiệp chủ yếu căn cứ vào các dấu hiệu phân biệt như kiểu dáng sản phẩm,
nhãn hiệu tên gọi gắn trên sản phẩm hàng hoá. Thế nhưng trong nhận thức của nhiều
doanh nghiệp vẫn còn tồn tại quan niệm sở hữu Nhà nước, sử dụng khai thác tập thể,
miễn phí vì thế chưa có ý thức bảo vệ và khai thác hiệu quả các sản phẩm sáng tạo của
mình như một tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Hiện nay các doanh nghiệp vẫn
chưa nhận thấy một cách đầy đủ tầm quan trọng của bản quyền chính vì vậy vẫn còn
thờ ơ trong việc đăng ký ngay bản quyền để được luật pháp xác nhận và cấp chứng chỉ
bản quyền. Các doanh nghiệp Việt Nam do tiếp xúc với cơ chế thị trường chưa được
bao lâu lại thêm việc xem xét TSCĐ vô hình chưa được thấu đáo nên chưa thấy rõ bản
quyền là rào cản hữu hiệu khi xuất hiện cạnh tranh không lành mạnh, các hoạt động
nhập khẩu, làm hàng giả. Vậy mà trước sự tấn công đó doanh nghiệp Việt Nam vẫn
chưa biết cách quản lý và khai thác loại TSCĐ vô hình này.
Vấn đề thứ hai: Về nhãn hiệu, thương hiệu hàng hoá; vụ việc về cá tra, cá basa
xuất khẩu sang thị trường Mỹ chính là bài học lớn để các doanh nghiệp thấy rõ tầm
quan trọng của nhãn hiệu, thương hiệu. Khi một doanh nghiệp mua một nhãn hiệu nào
đó gắn vào sản phẩm của mình thì giá trị nhãn hiệu thương mại đó được vốn hoá thành
TSCĐ vô hình trong doanh nghiệp. Song vấn đề đặt ra ở đây là các doanh nghiệp Việt
Nam khi mua hoặc bán nhãn hiệu hàng hoá thì xác định giá trị nhãn hiệu đó ra sao, bị

vẫn còn nhiều. Hiện nay vẫn chưa có phương pháp chuẩn nào để xác định lợi ích kinh
tế trong tương lai của tài sản nên không có sự thống nhất giữa các doanh nghiệp trong
việc xác định lợi ích kinh tế trong tương lai và tạo nên một khoảng cách không nhỏ
giữa lợi ích ước tính với lợi ích thực của tài sản, chính điều này tác động không tốt lên
kế hoạch quản lý và kế toán TSCĐ vô hình trong doanh nghiệp.
Một số vấn đề nữa là: Trước kia các doanh nghiệp có quyền tự xác định thời gian
khấu hao TSCĐ vô hình của mình trong khoảng thời gian từ 5 đến 40 năm thì nay
trong chuẩn mực số 04, TSCĐ vô hình có thời gian tính khấu hao tối đa, là 20 năm.
Tuy nhiên xác định thời gian khấu hao cụ thể của từng loại TSCĐ vô hình trong một
khoảng tương đối rộng như vậy là một vấn đề khó khăn. Thực tế cho thấy các doanh
nghiệp tự xác định thời gian khấu hao TSCĐ vô hình của mình chịu ảnh hưởng nhiều
bởi quan niệm chủ quan của doanh nghiệp nên xác định thời gian khấu hao không hợp
lý. Chẳng hạn nhãn hiệu hàng hoá được Nhà nước bảo hộ trong 10 năm và được gia
hạn tiếp, như vậy nhãn hiệu hàng hoá có thể được khấu hao trong thời gian tối đa là 20
năm. Tuy nhiên thời gian hữu ích thực tế của một nhãn hiệu là không chắc chắn do đó
nó nên được khấu hao trong thời gian ngắn hơn. Song mỗi doanh nghiệp lại có cách
nhìn riêng của bản thân mình làm cho việc xác định thời gian khấu hao không thống
nhất và tạo ra thực tế là giá trị trên sổ sách của tài sản quá lớn hoặc quá nhỏ hơn so với
giá trị thực tế của tài sản đó.
Cùng với sự phát triển kinh tế, việc chuyển nhượng, nhượng bán TSCĐ vô hình
cũng xuất hiện nhiều và ngày càng có khả năng sẽ phổ biến hơn. Chuẩn mực số 04 cho
rằng: "Lãi hay lỗ phát sinh do nhượng bán TSCĐ vô hình được xác định bằng chênh
lệch giữa thu nhập với chi phí nhượng bán cộng giá trị còn lại của TSCĐ vô hình. Số
lãi, lỗ này được ghi nhận là một khoản thu nhập hoặc chi phí của doanh nghiệp". Hạch
toán khoản chênh lệch trên vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là đúng theo
nguyên tắc hoàn vốn của tài sản. Hiểu một cách đơn giản, nhượng bản tài sản là không
khấu hao dần giá trị vào giá thành qua các năm mà tính giá trị còn lại vào chi phí ngay
một lúc, thể hiện thời gian thu hồi vốn được rút ngắn. Nhưng thực tế phát sinh ở một
số doanh nghiệp cho thấy việc hạch toán trên còn nhiều khúc mắc. Đối với một số
doanh nghiệp, việc phản ánh nguyên giá, giá trị còn lại vẫn chưa phản ánh đúng giá trị.

ta đã thiếu vắng nhiều văn bản luật về bảo vệ nghiêm ngặt sở hữu trí tuệ. Đặc biệt đối
với TSCĐ vô hình là phần máy vi tính. Việt Nam hiện nay được xếp vào hàng các
quốc gia có tỷ lệ xâm phạm bản quyền đối với phần mềm máy tính cao nhất thế giới
với tỷ lệ trên 90% đồng thời trong hệ thống luật của chúng ta chưa có luật chống độc
quyền làm một số công ty độc quyền về phần mềm nâng giá quá cao. Chính vì "đụng
vào đâu cũng thấy sao chép lậu" mà các cơ quan thực thi bảo hộ bản quyền có ý nghĩ
không thể ngăn chặn được nạn sao chép lậu dẫn tới buông lỏng kiểm soát. Vì vậy, bản
thân các doanh nghiệp tự mình quản lý thì vẫn chưa đủ mà cần có cả sự quản lý của cả
Nhà nước biểu hiện trên các văn bản luật đầy đủ và phù hợp.
Trong việc mua bán, chuyển nhượng thương hiệu, nhãn hiệu nảy sinh một vấn đề
quan trọng là xác định giá trị nhãn hiệu đó như thế nào để vốn hoá thành TSCĐ vô
hình với mức giá nào thì mua không bị "hớ". Tôi xin đưa ra 8 phương pháp định giá trị
nhãn hiệu:
1. Phương pháp phần thưởng giá cả: Phương pháp này dựa trên sự so sánh về giá
của một hàng hoá có nhãn hiệu với giá của một hàng hoá không có nhãn hiệu, kết quả
của phương pháp này thường nghiêng về ước tính giá trị cổ phần của nhãn hiệu. Phần
thưởng giá có thể tồn tại do các khác nhau về chất lượng hoặc khác nhau về chi phí sản
xuất và nói chung không đáp ứng được việc dùng để phản ánh dự tính các lợi nhuận
tương lai từ việc sở hữu nhãn hiệu.
2. Phương pháp thẩm định giá của người tiêu dùng: nghiên cứu khách hàng và
hỏi ý kiến họ chú trọng tới các yếu tố có ảnh hưởng tới quyết định mua hàng. Đặc biệt,
người tiêu dùng có thể được yêu cầu xếp loại thứ tự các hàng hoá có tính chất giả định
mà khác nhau về chất lượng và khác nhau trong nhãn hiệu. Phản ứng của người tiêu
dùng đối với các vấn đề giả định như vậy có thể được sử dụng để thiết lập giá trị của
một nhãn hiệu.
3. Phương pháp chi phí thay thế: các chi phí lịch sử để phát triển được cộng vào
một số tính toán giá trị thời gian của tiền. Phương pháp này kém chính xác do trong

các nhãn hiệu của mình, triển khai chiến lược nhãn hiệu cho mình và thử nghiệm nhãn
hiệu trên thực tế thị trường, đánh giá kết quả truyền bá nhãn hiệu. Qua đánh giá, chúng
ta sẽ thấy được nhãn hiệu có thành công hay không và có được cách thức hoàn thiện
nhãn hiệu trên thị trường.
Muốn vậy, doanh nghiệp phải có ý thức cao về nhãn hiệu hàng hoá của mình, coi
đó là vấn đề sống còn thì mới có những đầu tư xứng đáng; thứ hai là sản phẩm của
doanh nghiệp cũng phải tốt nếu không thì mọi hoạt động marketing, quảng cáo chỉ là
lừa dối và không thể thuyết phục được khách hàng về lâu dài; thứ ba là cần có chuyên
gia giỏi về marketing, đặc biệt là về tổ chức giới thiệu sản phẩm ra ngoài công luận.
Một nhãn hiệu không thể phát triển sau một thời gian quá ngắn mà cần có sự quan tâm
xây dựng thường xuyên. Riêng các doanh nghiệp Việt Nam cần tránh mô phỏng hay
bắt chước những nhãn hiệu khác mà phải tạo được sự khác biệt với các sản phẩm khác.
Đó là một tiêu đề tạo ra sự thành công cao nhãn hiệu. Những doanh nghiệp có nhiều
nhãn hiệu hay có chiến lược phát triển kinh doanh theo chiều hướng hướng ngoại nên
có bộ phận quản lý nhãn hiệu. Chú trọng triển khai xây dựng một chiến lược nhãn hiệu
có hệ thống, nhất quán và trường kỳ sẽ giúp các doanh nghiệp theo đuổi thành công
chiến lược quản lý nhãn hiệu.
Còn riêng đối với vấn đề hạch toán nhượng bán TSCĐ vô hình trong các doanh
nghiệp, nếu đưa chênh lệch thu - chi nhượng bán TSCĐ vô hình vào kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp là loại trừ yếu tố giá cả thị trường trong việc nhượng bán
nhưng khi mua sắm xây dựng mới tài sản vẫn phải chịu yếu tố giá cả thị trường dẫn
đến không công bằng cho doanh nghiệp, lúc này doanh nghiệp không thể trích lợi
nhuận trước thuế để mua sắm hình thành TSCĐ vô hình được. Việc nhượng bán TSCĐ
không phải là mục đích kinh doanh của doanh nghiệp nên chênh lệch giữa số tiền thu
được do nhượng bán TSCĐ vô hình với giá trị còn lại của tài sản không nên hạch toán
vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà hạch toán vào TK 441 - Nguồn vốn đầu
tư xây dựng cơ bản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status