Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................ 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ ........................................ 2
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
CỔ PHẦN HOÁ DNNN ........................................................................ 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DNNN
TẠI CÔNG TY GIAO NHẬN KHO VẬN
NGOẠI THƯƠNG VIETRANS .......................................................... 39
.............................................................................................................. 69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THỨC ĐẨY QUÁ TRÍNH CPH DNNN
TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY GIAO NHẬN KHO
VẬN NGOẠI THƯƠNG VIETRANS Ở HÀ NỘI .............................. 70
.............................................................................................................. 88
KẾT LUẬN ........................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................. 90
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP Cổ phần
CPH Cổ phần hóa
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
TTCK Thị trường chứng khoán
VIETRANS Công ty Giao nhận kho vận ngoại thương
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Công ty Giao nhận kho vận ngoại thương là một DNNN trực thuộc Bộ
công thương cũng không nằm ngoài diện cổ phần hóa của Nhà nước. Cổ phần
hóa đã được tiến hành ở một số chi nhánh của công nhưng còn tồn tại nhiều
khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Trong thời gian tới sẽ tiếp tục
tiến hành cổ phần hóa các bộ phận còn lại của công ty, để tiến trình cổ phần
hóa diễn ra nhanh chóng và hiệu quả công ty cần có một kế hoạch thực hiện
đồng bộ, rõ ràng nhằm tránh những sai lầm, thiếu sót trước đây. Nhận thức
được tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề trên, qua quá trình thực tập tại văn
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 2 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
phòng công ty VIETRANS được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo – Ths.
Nguyễn Đức Hiển và các anh chị phòng Kế toán tổng hợp của công ty em đã
chọn đề tài “Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng
công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội” làm đề tài cho luận văn
tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về CPH DNNN.
Chương 2: Thực trạng quá trình CPH DNNN tại công ty giao nhận kho
vận ngoại thương VIETRANS
Chương 3: Giải pháp thức đẩy quá trình CPH DNNN tại văn phòng
công ty giao nhận kho vận ngoại thương VIETRANS ở Hà Nội
Do thời gian thực tập cũng như trình độ nghiên cứu còn nhiều hạn chế
nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong muốn nhận
được những ý kiến đóng góp của thầy cô để luận văn của em được hoàn thiện
hơn và có chất lượng tốt hơn.
Hà Nội, ngày 7 tháng 4 năm 2009
Sinh viên
Lê Thị Thu Ngọc
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 3 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
- DNNN có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng cho nền kinh
tế. do tác động của quy luật giá trị, việc đầu tư vào hạ tầng như hệ thống giao
thông, thông tin, liên lạc, các dịch vụ công ích như điện, xây dựng hạ tầng,
vận tải hành khách và hàng hoá thường ít được các doanh nghiệp quan tâm.
Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp thì các dự án đầu tư vào các lĩnh vực nêu
trên thường vượt ngoài khả năng tài chính, kỹ thuật và công nghệ. Chính vì
vậy DNNN được coi là giải pháp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở nhiều
quốc gia, nhất là ở các quốc gia đang phát triển, thiếu vắng những doanh
nghiệp tư nhân có tiềm lực kinh tế và kỹ thuật đủ mạnh. DNNN được giao
phó vai trò khá lớn trong việc đảm bảo các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu hoặc
nhạy cảm của nền kinh tế mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác không thể đảm nhiệm vì nhiều lý do khác nhau.
- DNNN phải tạo ra được nguồn thu cho ngân sách để phát triển kinh tế
xã hội
- DNNN có vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh tế. Nhờ vào sự tồn
tại của thành phần kinh tế công cùng với tiềm lực to lớn của nó, Nhà nước có
thể tác động tới sự phát triển của nền kinh tế theo những chiều hướng hoặc
theo những chính sách thích hợp với lợi ích quốc gia trong từng giai đoạn cụ
thể.
- Thúc đẩy và đảm bảo việc làm cũng là một trong những vai trò quan
trọng của DNNN.
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 5 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
- Giảm đói nghèo là vai trò được các quốc gia đang phát triển kỳ vọng
nhất từ các DNNN. Mang tính xã hội hoá cao, nắm giữ những lĩnh vực then
chốt của nền kinh tế, được Nhà nước bao cấp nhiều mặt nên DNNN cần phải
trở thành động lực của việc xoá đói giảm nghèo.
- Tăng cường sự phát triển kinh tế quốc dân và củng cố chủ quyền quốc
gia là vai trò khá phổ biến của DNNN.
- DNNN được giao sứ mệnh trở thành hình mẫu về hiệu quả sản xuất-
Việt Nam đã lạc hậu so với thế giới từ 10- 20 năm, có thiết bị được sản xuất
từ năm 1930, có 38% thiết bị thuộc diện thanh lý, 52% đã qua duy tu bảo
dưỡng.
Thứ ba, số lao động dôi dư quá lớn: tình trạng lao động dôi dư, lao động
không được đào tạo cơ bản nhiều làm tăng chi phí tiền lương, bảo hiểm, bảo
hộ lao động, chi trợ cấp mất việc làm... đồng thời ảnh hưởng đến việc đổi mới
thiết bị công nghệ.
Thứ tư, công tác quản lý của doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, cơ chế
quản ý còn nhiều bất cập và sơ hở, những tồn tại tài chính không được xử lý
dứt điểm luôn là gánh nặng cho doanh nghiệp.
Những biểu hiện này cho thấy hiệu quả và vai trò của DNNN với tư cách
là động lực phát triển kinh tế ngày càng trở nên mờ nhạt. Thêm vào đó là sự
thua lỗ triền miên của DNNN đã khiến ngân sách quốc gia không còn đủ sức
để bao cấp và duy trì hoạt động của chúng. DNNN từ chỗ là trụ cột trong nền
kinh tế quốc dân trở thành một gánh nặng đẩy lùi sự phát triển của nền kinh
tế.
Nguyên nhân của tình trạng này là do:
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 7 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
Thứ nhất, do sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của DNNN . thực tế này khiến các DNNN khó trở thành một chủ
thể kinh tế độc lập, có quyền tự chủ, điều mà bất cứ chủ thể nào tham gia các
quan hệ kinh tế, thương mại đều rất cần.
Thứ hai, sự xung đột giữa các mục tiêu đặt ra cho kinh tế Nhà nước.
phần lớn DNNN được giao thực hiện các mục tiêu kinh tế song cũng có
không ít những mục tiêu khác hoặc mang tính chất chính trị, quân sự, an ninh
quốc phòng hoặc mang tính chất xa hội. Việc thực hiện một lúc nhiều mục
tiêu khác nhau khiến DNNN dễ rơi vào tình trạng lúng túng.
Thứ ba, thiếu sự đầu tư cho việc tăng năng suất lao động. Năng suât lao
động là yếu tố sống còn của doanh nghiệp trong bất cứ nền kinh tế nào, bất cứ
CPH DNNN là việc chuyển doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước (đơn
sở hữu) thành công ty cổ phần (đa sở hữu), sự chuyển đổi này được thể hiện ở
hai mặt căn bản sau:
- Chuyển hoá quyền sở hữu từ đơn sở hữu sang đa sở hữu, điều này kéo
theo sự thay đổi quyền quản lý, quyền sử dụng và tạo nên sự gắn kế chặt chẽ
giữa ba tuyến liên quan đến tái sản của doanh nghiệp là Nhà nước, người lao
động và Nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp.
- Thay đổi quy chế hoạt động của doanh nghiệp từ chỗ hoàn toàn bị Nhà
nước chi phối sang tự chủ kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Việc CPH một bộ phận DNNN ở nước ta có những nét đặc thù, đó là
CPH những doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, mà thực chất là CPH một
bộ phận doanh nghiệp thuộc sở hữu xã hội, sở hữu toàn dân. mục tiêu cơ bản
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 9 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
của việc chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần là nhằm hoàn
thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất, nâng cao hiệu quả của các DNNN. Cụ thể, tìm ra một hình thức quản lý
phù hợp, vừa phát huy quyền làm chủ của người lao động vừa đảm bảo quản
lý một cách có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp. Đồng thời nâng cao hiệu
quả hoạt động của DNNN, giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước, xoá bỏ độc
quyền đối với một số DNNN, buộc các doanh nghiệp phải phát huy năng lực
cạnh tranh để nâng cao hiệu quả so với kinh tế tư nhân và thu hút các nhà đấu
tư nhân vào các ngành, các lĩnh vực mà sự độc quyền của Nhà nước không
còn cần thiết. Nhà nước hướng tới tập trung vào những ngành then chốt, mũi
nhọn, đòi hỏi hàm lượng vốn và khoa học - kỹ thuật cao để nâng cao sức cạnh
tranh các sản phẩm của đất nước trên thị trường quốc tế cũng như tập trung
vào ổn định nền kinh tế vĩ mô. CPH sẽ tạo ra khả năng huy động vốn của toàn
xã hội, tạo thêm việc làm, nâng cao sức cạnh tranh và làm thay đổi cơ cấu
DNNN. Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn đang trì trệ,CPH tạo ra sự ổn định
về mặt xã hội, thực hiện sự phân phối có lợi cho những người có thu nhập
- Đa dạng hoá tài sản của DNNN
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN phải được thực hiện theo
các nguyên tắc thị trường
- Hình thành cơ chế loại bỏ các DNNN yếu kém ra khỏi thị trường
Trong tất cả các giải pháp cải cách DNNN nêu trên thì tư nhân hoá và
CPH được áp dụng phổ biến nhất. giữa tư nhân hoá và CPH có những điểm
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 11 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
chung rất cơ bản, chính vì vậy nhiều người cho rằng CPH là một dạng tư nhân
hoá hay CPH là tư nhân hoá từng phần. Xét ở những góc độ hình thức nhất
định thì có vẻ như quan điểm này đúng. Tư nhân hoá là việc chuyển tài sản từ
thành phần kinh tế công sang thành phần kinh tế tư. CPH được thực hiện
thông qua việc chia vốn của một số DNNN nhất định ra thành các cổ phần và
những cổ phần này được bán cho nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp, người
lao động trong doanh nghiệp và một phần do Nhà nước sở hữu. Do đó, CPH
đã biến DNNN thành sở hữu chung của những người nắm giữ cổ phần của
doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói CPH chính là tư nhân hoá một phần
DNNN. Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau rất cơ bản sau
đây:
- Thứ nhất, tư nhân hoá được coi là một chính sách và mục tiêu của nó là
hạn chế đến mức tối đa thành phần kinh tế công trong khi đó CPH chỉ được
coi là một giải pháp thực hiện.
- Thứ hai, tư nhân hoá được thực hiện dưới nhiều phương thức khác
nhau, trong đó có cả phương thức phi quốc hữu hoá, tức trả lại cho chủ cũ
những tài sản đã bị quốc hữu hoá, kể cả toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt
động. CPH trong khi đó chỉ thực hiện thông qua việc DNNN tiến hành phát
hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu.
- Thứ ba, tác động của hai giải pháp này hoàn toàn khác nhau về cả mức
độ lẫn tính chất. Tư nhân hoá dẫn đến thay đổi hình thức sở hữu của các
DNNN, còn CPH có tác dụng làm giảm sở hữu của Nhà nước trong DNNN.
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 13 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
hội chủ nghĩa, CPH được coi là giải pháp tối ưu cho quá trình sắp xếp, đổi
mới, nâng cao hiệu quả của DNNN.
Sỡ dĩ CPH được coi là giải pháp cải cách triệt để đối với DNNN vì nó
giải quyết được căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạt
động của DNNN- đó là vấn đề sở hữu. Những giải pháp cải cách DNNN khác
chỉ động chạm đến cơ chế quản lý theo hướng tăng cường quyền tự chủ của
DNNN trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể. CPH chấp nhận sự dung hoà
của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể kinh tế vi
mô mà trước hết trong các doanh nghiệp.
1.2.3. Tác động của CPH DNNN:
CPH có vai trò to lớn trong việc đổi mới DNNN, nhất là ở nền kinh tế
chuyển đổi từ cơ chế kế hoach hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam. Tác dụng của CPH thể hiện ở một số
khía cạnh sau đây:
- CPH có tác dụng làm cho sở hữu trong doanh nghiệp trở nên đa dạng
hơn. Chính vì vậy nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong DNNN
vốn gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng động trong sản xuất
kinh doanh.
- CPH có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các doanh
nghiệp thuộc sở hữu một chủ. Như vậy, các thực thể kinh tế vi mô cũng trở
nên đa sở hữu như bản thân nền kinh tế vĩ mô. Điều này tạo nên sự tương
thích nhất định của các giải pháp quản lý vĩ mô và vi mô.
- CPH tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh
nghiệp nếu như họ mong muốn bằng việc sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp,
người lao động có thể tham gia vào viẹc quyết định các vấn đề quan trọng của
doanh nghiệp thông qua cái gọi là ”nền dân chủ cổ phần”. Điều này có ý
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 14 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
- CPH DNNN ở nước ta có tác dụng to lớn trong việc đẩy lùi tình trạng
lãng phí, tham nhũng đang khá phổ biến trong các DNNN và những cơ chế
quản lý chúng. Các DNNN sau CPH sẽ trở thành công ty cổ phần, được đăng
ký hoạt động theo luật doanh nghiệp. Khi đó sẽ không tồn tại cơ chế chủ quản
và cũng không còn cơ chế “xin- cho” đối với doanh nghiệp nữa. mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị chi phối bởi các quy luật thị
trường và pháp luật.
- CPH tác động tới các vần đề xã hội ở nhiều phương diện, ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, làm phát sinh những mối
quan hệ mới. ảnh hưởng của CPH có thể rất tích cực song cũng có thể chứa
đựng những yếu tố tiêu cực nếu không được xử lý đúng.
- CPH và thị trường chứng khoán có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Hoạt động CPH của các DNNN cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng
khoán, làm hàng hoá trên thị trường thêm phong phú, ngược lại sự phát triển
của thị trường chứng khoán có tác dụng thúc đẩy quá trình CPH, làm gia tăng
số cổ đông tiềm tàng cho các DNNN CPH, hỗ trợ DNNN trong các khía cạnh
như định giá doanh nghiệp, tư vấn phát hành, bão lãnh phát hành...Ngoài ra
với sự phát tiển của thị trường chứng khoán các DNNN sau khi CPH phải
thực hiện chế độ tài chính công khai, minh bạch từ đó hoạt động sẽ hiệu quả
hơn.
Những tác động nói trên của CPH đối với các DNNN đã khẳng định tính
đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình sắp xếp, đổi mới lại
DNNN. Đường đi đã được xác định rõ ràng để đạt được thành công chúng ta
cần có những bước đi đúng đắn trong quá trình thực hiện.
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 16 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
1.3. Các hình thức và quy trình CPH DNNN:
1.3.1. Các hình thức CPH DNNN:
Hình thức CPH công ty Nhà nước được đưa ra trong nghị định
109/2007/NĐ- CP của Chính phủ ngày 26/6/2007 về việc chuyển doanh
1.1. Cơ quan quyết định CPH ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo CPH
đồng thời với Quyết định CPH doanh nghiệp.
1.2. Trưởng Ban chỉ đạo lựa chọn và ra quyết định thành lập Tổ giúp
việc CPH trong thời gian 5 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định thành lập
Ban chỉ đạo CPH.
2. Chuẩn bị hồ sơ tài liệu:
Trong thời gian tối đa 10 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thành
lập Tổ giúp việc CPH, Ban chỉ đạo có trách nhiệm chỉ đạo Tổ giúp việc cùng
với doanh nghiệp tiến hành:
2.1. Lựa chọn phương pháp, hình thức xác định giá trị doanh nghiệp, lựa
chọn thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của doanh
nghiệp và các văn bản hướng dẫn có liên quan đến CPH.
2.2. Chuẩn bị đầy đủ các tài liệu sau:
- Các Hồ sơ pháp lý về thành lập doanh nghiệp.
- Các Hồ sơ pháp lý về tài sản của doanh nghiệp (bao gồm cả diện tích
đất được giao hoặc thuê).
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 18 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
- Hồ sơ về công nợ (đặc biệt là các khoản nợ tồn đọng, các khoản nợ đã
xử lý theo chế độ trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp).
- Hồ sơ về tài sản không cần dùng, vật tư, hàng hoá ứ đọng, kém, mất
phẩm chất (nếu có), tài sản hình thành từ nguồn quỹ khen thưởng phúc lợi.
- Hồ sơ về các công trình đầu tư xây dựng cơ bản dở dang (kể cả các
công trình đã có quyết định đình hoãn).
- Hồ sơ về các khoản vốn đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác như:
góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần, góp vốn thành lập công ty trách nhiệm
hữu hạn và các hình thức đầu tư dài hạn khác.
- Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế của công ty đến thời điểm
xác định giá trị doanh nghiệp.
- Lập dự toán chi phí cổ phần hóa theo chế độ quy định.
định số cổ phần dự kiến người lao động được mua ưu đãi.
- Lập danh sách lao động thường xuyên làm việc tại công ty tại thời điểm
quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, phân loại lao động theo các đối
tượng: hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng có thời hạn từ 1-3 năm,
danh sách lao động dôi dư…
5. Hoàn tất Phương án CPH:
5.1. Lập Phương án CPH:
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 20 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
Căn cứ quy định hiện hành và tình hình thực tế của doanh nghiệp, Ban
chỉ đạo xem xét quyết định thuê tổ chức tư vấn hoặc giao cho Tổ giúp việc và
doanh nghiệp lập Phương án CPH với các nội dung chính sau:
a) Giới thiệu về công ty, trong đó mô tả khái quát về quá trình thành lập
công ty và mô hình tổ chức của công ty; tình hình và kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty trong 3 - 5 năm liền kề trước khi CPH.
b) Đánh giá thực trạng của công ty ở thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp, bao gồm:
- Thực trạng về tài sản (bao gồm cả diện tích đất được giao hoặc thuê).
- Thực trạng về tài chính, công nợ.
- Thực trạng về lao động.
- Những vấn đề cần tiếp tục xử lý.
c) Phương án sắp xếp lại lao động:
- Số lao động có tên trong danh sách thường xuyên ở thời điểm có quyết
định công bố giá trị doanh nghiệp.
- Số lao động tiếp tục tuyển dụng.
- Số lao động dôi dư và phương án giải quyết theo từng đối tượng.
d) Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 - 5 năm tiếp theo,
trong đó nêu rõ:
- Phương án cơ cấu lại doanh nghiệp khi chuyển thành công ty cổ phần:
sắp xếp lại các bộ phận trong doanh nghiệp, đổi mới ngành nghề kinh doanh;
có thẩm quyền phê duyệt.
d) Ban chỉ đạo thẩm định phương án CPH báo cáo cơ quan quyết định
CPH phê duyệt.
Thời gian để hoàn tất các nội dung quy định tại điểm 5.2 bước này
không quá 20 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định công bố giá trị doanh
nghiệp CPH.
5.3. Phê duyệt phương án CPH.
Cơ quan quyết định CPH xem xét ra quyết định phê duyệt phương án
CPH trong thời gian không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo
cáo của Ban chỉ đạo.
Bước 2. Tổ chức bán cổ phần.
1. Ban chỉ đạo CPH lựa chọn phương thức bán cổ phần theo quy định.
2. Tổ chức bán cổ phần:
2.1. Tổ chức bán đấu giá cho các nhà đầu tư thông thường:
a) Đối với trường hợp bán đấu giá trực tiếp tại doanh nghiệp:
Ban chỉ đạo CPH và doanh nghiệp tổ chức bán đấu giá cổ phần cho nhà
đầu tư.
b) Đối với trường hợp bán cổ phần tại tổ chức tài chính trung gian:
- Ban chỉ đạo lựa chọn tổ chức tài chính trung gian giao cho doanh
nghiệp ký hợp đồng.
- Ban chỉ đạo và doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tài chính trung gian
thực hiện việc bán cổ phần theo quy định.
Lê Thị Thu Ngọc Tài chính doanh nghiệp 47A
Luận văn tốt nghiệp 23 GVHD: ThS Nguyễn Đức Hiển
c) Đối với trường hợp bán cổ phần tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung
tâm giao dịch chứng khoán.
Ban chỉ đạo cổ phần hóa được quyền đăng ký với cơ quan quyết định
CPH về thời gian dự kiến bán cổ phần, số lượng cổ phần dự kiến bán để cơ
quan quyết định CPH quyết định việc lựa chọn tổ chức bán cổ phần, đăng ký
kế hoạch đấu giá với Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng