TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ
PHÊ VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG
LIÊN MINH CHÂU ÂU
Họ và tên sinh viên: Trần Thị Mỹ Hằng
Mã sinh viên: 0851015561
Lớp: A12
Khóa: K47D
Người hướng dẫn khoa học: Lưu Thị Bích Hạnh
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012
MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục ký hiệu và từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Lời mở đầu 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ SỰ
CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT
HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG EU 4
1.1 Lý luận chung về năng lực cạnh tranh 4
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 4
1.1.2 Năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh 4
1.1.3 Năng lực cạnh tranh xuất khẩu 6
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê xuất
khẩu theo Mô hình kim cương của M.Porter 7
1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 11
1.2 Tổng quan về thị trường cà phê tại EU 14
1.2.1 Đặc điểm thị trường cà phê tại EU 14
khẩu sang thị trường EU 53
2.4.1 Điểm mạnh 53
2.4.2 Điểm yếu và nguyên nhân 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG
EU 60
3.1 Dự báo nhu cầu nhập khẩu cà phê của EU; những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
và thách thức trong xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU qua ma trận
SWOT 60
3.1.1 Dự báo nhu cầu nhập khẩu cà phê của EU 60
3.1.2 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong xuất khẩu cà phê
của Việt Nam sang thị trường EU qua ma trận SWOT 61
3.2 Mục tiêu và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt
Nam xuất khẩu sang thị trường EU giai đoạn đến năm 2020 62
3.2.1 Mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam
xuất khẩu sang thị trường EU giai đoạn đến năm 2020 62
3.2.2 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam
xuất khẩu sang thị trường EU giai đoạn đến năm 2020 63
3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt
Nam xuất khẩu sang thị trường EU 64
3.3.1 Nâng cao chất lượng cà phê và vệ sinh an toàn thực phẩm 64
3.3.2 Đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm và hướng đến mặt hàng cà phê có giá trị gia
tăng cao 68
3.3.3 Tổ chức điều phối hoạt động dọc chuỗi ngành hàng cà phê chặt chẽ hơn
70
3.3.4 Xúc tiến thương mại, đẩy mạnh kênh phân phối sang thị trường EU 73
3.3.5 Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cà phê Việt Nam xuất khẩu sang
EU 76
3.3.6 Tạo nguồn vốn cho đầu tư, thu mua, chế biến, xuất khẩu cà phê sang
EU 77
2 ABIC
Brazillian Coffee Industry
Association
Hiệp hội cà phê Braxin
3 ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
4 CBI
Centre for the Promotion of
Imports from developing
countries
Cơ quan Xúc tiến nhập
khẩu từ các nước đang
phát triển
5 C/O Certificate of origin Giấy chứng nhận xuất xứ
6 CQP
Coffee Quality Improvement
Program
Chương trình cải thiện
chất lượng cà phê
7 CTT Common Custom Tariff Biểu thuế quan chung
8 DRC Domestic Resource Cost Chi phí nguồn lực nội địa
9 EC European Commisson Uỷ ban Châu Âu
10 ECF European Coffee Federation
Liên đoàn cà phê Châu
Âu
11 EU European Union Liên minh Châu Âu
12 EUR Euro
Quản lý cây trồng tổng
hợp
22 ICO
International Coffee
Organization
Tổ chức cà phê thế giới
23 IFC
The International Finance
Corporation
Tổ chức Tài chính quốc
tế
24 IPM Intergrated pest management
Phòng trừ sâu bệnh tổng
hợp
25 ISO
International Organization for
Standard
Hệ thống tiêu chuẩn chất
lượng
26 LIFFE
London International
Financial Futures and Option
Exchange
Thị trường giao dịch kì
hạn quốc tế Luân Đôn
27 MFN Most favoured nation Nguyên tắc Tối huệ quốc
28 n.d. No date Khuyết ngày tháng năm
29 ODA
Official Development
Assistance
chứng nhận toàn cầu
39 VICOFA
Vietnam Coffee and Cocoa
Association
Hiệp hội Cà phê ca cao
Việt Nam
40 WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế
giới
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Tên Trang
Biểu đồ 1.1: Thị phần các quốc gia xuất khẩu cà phê rang xay và hoà
tan vào thị trường EU năm 2011
19
Biểu đồ 2.1: Khối lượng và kim ngạch cà phê xuất khẩu của Việt Nam
sang thị trường EU giai đoan 2005-2011
28
Biểu đồ 2.2: Giá cà phê xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang thị
trường EU, giai đoạn 2005-2011
29
Biểu đồ 2.3: Thị phần trung bình các quốc gia xuất khẩu cà phê hàng
đầu vào thị trường EU, giai đoạn 2005-2011
32
Biểu đồ 2.4: Thị phần trung bình các quốc gia xuất khẩu cà phê nhân
hàng đầu vào EU giai đoạn 2005-2011
34
Biểu đồ 2.5: Chỉ số DRC của cà phê Việt Nam, giai đoạn 1995-2004 37
Biểu đồ 2.6: Giá cà phê nhân xuất khẩu của một số quốc gia vào thị
trường EU
34
Bảng 2.6: Thị phần trung bình của một số quốc gia xuất khẩu cà phê
rang xay và hòa tan vào thị trường EU, giai đoạn 2005-2011
35
Bảng 2.7: Giá cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu của một số quốc gia
vào thị trường EU, giai đoạn 2005-2011
40
Bảng 2.8: Khối lượng cà phê xuất khẩu phân loại theo Nghị Quyết 420
của ICO, niên vụ 2009/2010
42
Bảng 2.9: Tỷ trọng cơ cấu cà phê xuất khẩu của một số quốc gia vào thị
trường EU, giai đoạn 2005-2011
43
Bảng 2.10: Các chỉ dẫn địa lý nổi tiếng trên thế giới của một số quốc gia
xuất khẩu cà phê hàng đầu vào EU.
45
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành cà phê là một ngành mới ở Việt Nam, cà phê du nhập vào nước ta
trong giai đoạn thị trường cà phê thương mại thế giới phát triển mạnh mẽ và được
biết đến ở Việt Nam vào những năm 1857. Qua hơn 150 năm tồn tại và phát triển,
cà phê hiện nay đã trở thành một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam, đứng vị trí thứ 2 sau gạo - cây lương thực truyền thống. Với vị trí đó,
Việt Nam là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới sau Braxin, riêng về cà
phê Robusta thì xuất khẩu đứng đầu thế giới. Niên vụ 2010/2011, cả nước xuất khẩu
được trên 1,2 triệu tấn cà phê tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ; kim ngạch xuất
khẩu cà phê đạt 2,7 tỷ USD năm 2011, đóng góp vào khoảng 2% GDP của cả nước.
Điều này đã góp phần không nhỏ cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam, giảm thâm
hụt thương mại và một phần giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo cho người dân,
đặc biệt ở nông thôn.
cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU, chỉ ra
được điểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ cạnh tranh, từ đó vạch ra những giải pháp
nhằm khắc phục và phát triển ngành cà phê một cách bền vững là điều rất cần thiết
để khẳng định vị thế của nước ta trong nền kinh tế thế giới. Vì vậy, tác giả đã quyết
định chọn đề tài “Năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam xuất khẩu
sang thị trường Liên minh Châu Âu” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Vận dụng những kiến thức đã học nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận về năng
lực cạnh tranh; phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt
Nam xuất khẩu sang thị trường EU; chỉ đã những điểm mạnh, điểm yếu so với đối
thủ cạnh tranh và nguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
− Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam
xuất khẩu sang EU.
− Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của
mặt hàng cà phê Việt Nam ở phạm vi thị trường EU, chủ yếu trong giai đoạn
2005-2011; dự báo, định hướng và đưa ra một số giải pháp cho giai đoạn đến
2
năm 2020. Cà phê được nói đến trong đề tài là cà phê nhân, cà phê rang xay
và cà phê hoà tan; không bao gồm các loại vỏ quả và vỏ lụa cà phê.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp tổng hợp,
phương pháp thống kê và phân tích, phương pháp so sánh. Phương pháp tổng hợp
để thu thập các số liệu, thông tin truyền thống; phương pháp thống kê, phân tích để
làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng NLCT của mặt hàng cà phê Việt Nam xuất
khẩu sang EU; phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến để làm sáng tỏ hơn vị
thế của Việt Nam, các kết luận trong từng hoàn cảnh cụ thể.
5. Kết cấu của luận văn
Nội dung khoá luận được kết cấu làm 3 chương:
Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn Từ điển kinh doanh của Anh
xuất bản năm 1992, cạnh tranh là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh
doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng
về phía mình”(Lê Danh Vĩnh & Hoàng Xuân Bắc & Nguyễn Ngọc Sơn, 2010,
tr.11).
Trong kinh tế chính trị học, theo quan điểm của K.Marx thì “cạnh tranh là sự
ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh với
nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ
hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình” (Bộ Giáo dục và Đào
tạo, 2004, tr.48).
Nhà kinh tế học M.Porter của Mĩ thì cho rằng cạnh tranh là giành lấy thị
phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn
mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh
tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn
đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Văn Diệp, 2009).
Tóm lại, cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa
những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó
nhằm giành giật khách hàng, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu
được lợi nhuận cao. Sự cạnh tranh diễn ra là tất yếu, nó là động lực thúc đẩy sản
xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế.
1.1.2 Năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh
4
Thuật ngữ “năng lực canh tranh” được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực,
nhưng đến nay các nhà chuyên môn và học giả vẫn chưa có một khái niệm chuẩn về
thuật ngữ này. Tuy nhiên ta có thể hiểu: NLCT là khả năng tồn tại trong kinh doanh
và đạt được một số kết quả mong muốn, biểu hiện dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi
tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như khả năng khai thác các cơ hội trong thị
trường hiện tại và làm nảy sinh cơ hội trong thị trường mới, giành được lợi thế cho
mình và thu được lợi nhuận. NLCT thường được chia thành 4 cấp độ:
1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh
trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có
hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển
kinh tế bền vững (Nguyễn Minh Tuấn, 2010, tr.9). NLCT của doanh nghiệp gắn liền
với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp tung ra thị trường, với thị phần sản phẩm
và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
NLCT của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao
gồm cả những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như thị trường, thể chế chính sách,
kết cấu hạ tầng lẫn các yếu tố nội hàm bên trong bản thân doanh nghiệp như trình
độ công nghệ, khả năng tổ chức quản lý, tài chính, nhân lực, uy tín
1.1.2.4 Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm
Ông Lê Văn Được, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Công nghiệp cho rằng
“NLCT của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi thế so sánh đối với sản
phẩm cùng loại. Lợi thế so sánh của một sản phẩm do các yếu tố bên trong và bên
ngoài tạo nên, như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, dung
lượng thị trường của sản phẩm ”(Tạp chí Công nghiệp, 2004). NLCT của sản
phẩm có thể được đo bằng thị phần của sản phẩm đó trên thị trường.
Một sản phẩm có NLCT cao phải đảm bảo các yếu tố về chất lượng, giá cả,
vệ sinh, dịch vụ đi kèm, kiểu dáng mẫu mã, tốc độ phục vụ… sản phẩm cần có tính
mới lạ nhưng phù hợp với nhu cầu, mang lại giá trị sử dụng cao hơn so với các sản
phẩm cùng loại trên thị trường của đối thủ cạnh tranh.
Các cấp độ của NLCT có mối quan hệ phụ thuộc, gắn kết, tác động qua lại,
hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển.
1.1.3 Năng lực cạnh tranh xuất khẩu
6
Marilyn Whan-Kan cho rằng “NLCT xuất khẩu là khả năng của một quốc
gia sản xuất ra những sản phẩm, dịch vụ và buôn bán trên thị trường nước ngoài với
giá cả và chất lượng đảm bảo được khả năng tồn tại lâu dài, bền vững” (Marilyn
Whan-Kan, n.d.).
Theo Báo cáo của Tổ chức Ngân hàng thế giới thì khả năng của một quốc gia
cầu sự đầu tư dài hạn, tốn nhiều công sức, cần tập trung cả về vật lực lẫn nhân lực,
giúp tạo ra những sản phẩm độc đáo, mang tính ưu thế, khó cạnh tranh trên thị
trường. Tuy nhiên các yếu tố đầu vào cơ bản cũng rất quan trọng, là cơ sở để xây
dựng và phát triển các yếu tố đầu vào cao cấp.
+ Điều kiện tự nhiên: bao gồm các yếu tố như nhiệt độ, khí hậu, độ ẩm, độ màu
mỡ của đất đai… Những yếu tố trên sẽ tác động đến chất lượng và hương vị tự
nhiên của cây trồng nói chung và cà phê nói riêng. Ở mỗi vùng có điều kiện khí hậu
và thổ nhưỡng khác nhau nên cây cà phê cũng có hương vị đặc trưng riêng biệt. Cà
phê thích hợp phát triển ở những vùng có đất bazan màu mỡ, diện tích rộng, khí hậu
có tính chất cận xích đạo, độ cao địa hình thích hợp. Bên cạnh đó, còn phải xét đến
hệ thống sông ngòi kênh rạch, độ chua của nước, nguồn nước ngầm…
+ Nguồn nhân lực: phải bảo đảm cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Số lượng là
nói đến lượng lao động hoạt động trong ngành như người trồng trọt, số lượng công
ty sản xuất, chế biến, kinh doanh, xuất nhập khẩu… Còn chất lượng là khả năng
hiểu biết, trình độ, tay nghề… của lực lượng lao động. Ngoài ra còn tính đến chi phí
nhân sự, quản lý, giờ làm việc, mức độ đầu tư vào nghiên cứu…
+ Nguồn vốn: được hình thành từ nhiều hình thức khác nhau thông qua các kênh
huy động vốn trong nước hay nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, ngoài ra còn có quy
mô vốn đầu tư cho sản xuất và kinh doanh xuất khẩu cà phê, mức độ huy động…
+ Cơ sở hạ tầng: thể hiện thông qua hệ thống đường xá, giao thông vận tải, công
nghệ sinh học, cải thiện nhà máy sản xuất, chế biến, các công trình thủy lợi, hệ
thống tưới tiêu… Áp dụng được nhiều công nghệ và khoa học kĩ thuật sẽ góp phần
làm tăng năng suất sản xuất, chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm cà phê.
1.1.4.2 Điều kiện nhu cầu trong nước đối với mặt hàng cà phê
Nhu cầu về cà phê trong nước sẽ quyết định các doanh nghiệp sản xuất cái gì
và như thế nào, ngoài ra còn tác động đến NLCT xuất khẩu. Bởi lẽ nhu cầu nội địa
phát triển sẽ đưa ra chuẩn mực đặt áp lực lên các doanh nghiệp phải liên tục cải tiến
8
sản phẩm, nâng cao chất lượng, hạ giá thành để đáp ứng. Từ nhu cầu trong nước đó
còn giúp dự báo được xu hướng nhu cầu của người mua ở các thị trường nước ngoài
tạo ra sức ép cho sự cải tiến, sáng tạo, nâng cao chất lượng, giảm chi phí và đầu tư
vào việc nâng cấp các yếu tố tiên tiến, giúp các doanh nghiệp ngày càng có sức
mạnh cạnh tranh hơn trên cả thị trường trong nước lẫn quốc tế.
Thế nhưng, môi trường cạnh tranh ngành cũng cần phải lành mạnh và cơ cấu
ngành cần chặt chẽ, các chủ thể trong ngành cà phê cần có sự phối hợp chặt chẽ với
nhau, cụ thể là giữa nông dân, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu và Nhà nước.
Các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đối đầu với nhau, tranh mua tranh bán
dẫn đến các bên đều thua thiệt, mà có thể hợp tác, các bên cùng có lợi, phân chia lợi
nhuận. Như vậy, vừa có thể cùng phát triển, vừa có thể tạo ra sức mạnh, đối mặt với
các đe doạ từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Còn cơ cấu ngành chặt chẽ sẽ giúp
hoạt động trong ngành trở nên thông suốt, chẳng hạn, doanh nghiệp hỗ trợ vốn, kĩ
thuật, có sự phối hợp với nông dân sẽ giúp nông dân cải thiện cây trồng, nâng cao
năng suất và chất lượng, còn doanh nghiệp cũng an tâm hơn trong việc thu mua
gom hàng, chất lượng cà phê đảm bảo giúp xây dựng uy tín cho doanh nghiệp.
1.1.4.5 Vai trò của Nhà nước và cơ hội
Nhà nước có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến NLCT của một mặt
hàng xuất khẩu, trên thực tế, đa phần là tác động tích cực. Trợ cấp từ chính phủ, các
chính sách giáo dục, kinh tế, các qui định trong thị trường vốn… đều ảnh hưởng
đến điều kiện yếu tố sản xuất. Nhà nước tác động đến điều kiện nhu cầu trong nước
thông qua việc thành lập các tiêu chuẩn và qui định về mặt hàng cà phê, ảnh hưởng
đến cầu của ngừơi mua. Tác động đến các ngành hỗ trợ và có liên quan thông qua
việc ban hành các quyết định về dịch vụ hỗ trợ. Nhà nước phát triển và hoàn thiện
môi trường luật pháp sẽ tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các doanh
nghiệp, giúp sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế. Nhà nước ban
hành các luật thuế, các chương trình xúc tiến thương mại tạo điều kiện thúc đẩy
xuất khẩu cà phê ra thị trường nước ngoài.
Một yếu tố khác cũng có tác động đến NLCT của mặt hàng xuất khẩu, đó là
yếu tố cơ hội. Cơ hội đóng vai trò quan trọng, chúng có thể dẫn đến những thay đổi
lớn trong vị thế cạnh tranh, vô hiệu hóa lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp
hiện tại và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thích ứng được với tình hình mới. Cơ
j
: kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j của thế giới
+ W: tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới
Kết quả tính toán:
+ RCA<1: sản phẩm xem xét không có khả năng cạnh tranh
+ 1<RCA<2,5: sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thấp
+ RCA>2,5: sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao
Khi so sánh hệ số RCA của cùng mặt hàng của hai nước thì nước nào có hệ
số RCA lớn hơn sẽ có lợi thế xuất khẩu cao hơn.
− Thị phần
Chỉ tiêu thị phần phản ánh vị trí của một quốc gia về một mặt hàng nào đó
trên thị trường. Khi thị phần một mặt hàng của một quốc gia càng lớn thì mặt hàng
đó càng có NLCT mạnh, khả năng cạnh tranh của mặt hàng này đối với thị trường
càng cao. Thị phần càng vượt xa đối thủ của nước khác thì sản phẩm của chủ thể
càng có lợi thế trong cuộc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường. Thị phần được tính theo
công thức sau:
MS = (MA / M) x 100%
11
Trong đó:
+ MS: thị phần mặt hàng M của quốc gia A xuất khẩu vào thị trường X
+ MA: sản lượng xuất khẩu (hoặc kim ngạch xuất khẩu) mặt hàng M
của quốc gia A vào thị trường X
+ M: tổng sản lượng xuất khẩu (hoặc tổng kim ngạch xuất khẩu) mặt
hàng M của toàn thế giới vào thị trường X
− Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất cao hay thấp cũng là một chỉ tiêu phản ánh NLCT xuất
khẩu. Khi chi phí sản xuất của một quốc gia cao hơn so với các quốc gia khác thì lợi
thế cạnh tranh sẽ bị giảm thiểu. Nó phụ thuộc vào các yếu tố: thuế nhập khẩu, thuế
doanh thu, thuế giá trị gia tăng, các phụ phí, tiền lương, công nghệ được sử dụng,
chi phí marketing, giá các dịch vụ như liên lạc, viễn thông, vận tải Một trong
Trong đó:
+ P
i
và P
f
: giá cánh kéo của sản phẩm đầu ra i và của đầu vào trung gian f
12
+ P*
i
: giá cánh kéo quốc tế của sản phẩm đầu ra i
+ P*
f
: giá cánh kéo quốc tế của đầu vào trung gian f
+ W: tỉ lệ chi phí của đầu vào trung gian trong tổng giá trị sản phẩm đầu ra
+ E: tỉ giá hối đoái thực
+ T và M: hệ số bảo hộ danh nghĩa và hệ số chi phí thương mại
1.1.5.2 Các chỉ tiêu định tính
− Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Chất lượng sản phẩm là mức độ các đặc tính của sản phẩm đáp ứng yêu cầu
trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Đây là tiêu chí
quan trọng nhất quyết định đến NLCT của mặt hàng cà phê xuất khẩu. Với một mặt
hàng cùng loại có chất lượng tốt hơn, nước nhập khẩu sẽ sẵn sàng đưa ra mức giá
cao hơn cho mặt hàng này, có được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn.
Chất lượng cà phê là tổng hợp của các yếu tố: chủng loại thực vật, điều kiện
địa hình, khí hậu, thời tiết, cách chăm sóc, thu hái, bảo quản, chuẩn bị xuất khẩu và
vận chuyển. Chất lượng của cà phê được đánh giá thông qua tiêu chuẩn quốc tế ISO
10470:2004 và đã được Việt Nam soạn thảo ban hành sử dụng trong nước là TCVN
4193:2005. Bên cạnh đó, còn có các chỉ số tiêu chuẩn về độ ẩm, tỉ lệ vỡ, tạp chất
Đề cập đến an toàn thực phẩm là đề cập đến lượng hóa chất tồn dư trong cà
phê, các độc tố và nấm mốc, ngoài ra còn có các điều kiện tiêu chuẩn vệ sinh ở các
thường xuyên đổi mới tạo sự khác biệt về chất lượng và phong cách cung cấp sản
phẩm. Thương hiệu thể hiện uy tín và biểu hiện niềm tin của người tiêu dùng đối
với sản phẩm, khách hàng sẽ yên tâm hơn về chất lượng, giảm thiểu được rủi ro
mua sắm đối với những mặt hàng có thương hiệu. Vì vậy, xây dựng thương hiệu là
yếu tố quan trọng để giành được lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế.
1.2 Tổng quan về thị trường cà phê tại EU
1.2.1 Đặc điểm thị trường cà phê tại EU
1.2.1.1 Nhu cầu và nguồn cung cà phê tại thị trường EU
− Nhu cầu cà phê tại thị trường EU
EU là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới. Với dân số trên 501 triệu
người vào năm 2010, mức tiêu thụ trên thị trường EU chiếm khoảng 31% tổng sản
lượng tiêu thụ cà phê của thế giới. Trung bình mỗi người dân EU tiêu thụ khoảng 4-
5 kg cà phê mỗi năm (năm 2010 là 4,92 kg/người). Trong giai đoạn 2005-2010,
mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tại EU tuy tăng giảm qua các năm nhưng
14
chênh lệch không nhiều và vẫn cao hơn mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tại
Hoa Kỳ (4,11 kg/người năm 2010), thuộc mức cao trên thế giới. Luxembourg là
nước có mức tiêu thụ cà phê bình quân lớn nhất trong khối Liên minh Châu Âu
(28,44 kg/ người năm 2010).
Bảng 1.1: Mức tiêu thụ cà phê bình quân tại EU, giai đoạn 2005-2010
Đơn vị: kg/người
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Mức tiêu thụ 4,81 5,01 4,95 4,88 4,79 4,92
Nguồn: ICO, 2009 A, tr.7 + ICO, 2012, tr.8
Giai đoạn 2005-2009, sản lượng cà phê sản xuất của EU giữ mức ổn định
trên 2,3 triệu tấn mỗi năm, bao gồm cả cà phê nhân, cà phê rang xay và cà phê hoà
tan, trong đó cà phê rang xay chiếm tỉ lệ lớn nhất khoảng 76,5% tổng sản lượng sản
xuất năm 2009, nguồn nguyên liệu cho cà phê rang xay và hoà tan chủ yếu lấy từ
nhập khẩu. Cà phê sản xuất ra phục vụ cho cả nhu cầu tiêu thụ trong nước lẫn xuất
khẩu, nước có sản lượng sản xuất nhiều nhất là Đức với 862.707 tấn năm 2009,
2007 2.733.429 18.756 51.989
2008 2.742.121 23.519 49.103
2009 2.688.905 27.078 46.274
2010 2.751.790 34.917 46.672
2011 2.727.382 38.839 44.900
Nguồn: tính toán của tác giả từ nguồn Europa
Lưu ý: Mã số HS sử dụng trong bảng trên được phân theo ICO (ICO, 2008).
Thị trường EU là một thị trường có sự đòi hỏi cao về chất lượng , ngoài các
mặt hàng cà phê truyền thống thì EU còn có nhu cầu đối với các sản phẩm cà phê
đặc biệt như cà phê sạch, cà phê hảo hạn, cà phê đạt chứng nhận và tiêu chuẩn quốc
tế. CBI (2009) ước tính rằng cà phê sạch chiếm khoảng 2% lượng cà phê được tiêu
thụ tại EU. Cũng theo tổ chức này, cà phê sạch và đạt chứng nhận Fair-trade chiếm
khoảng 2,6% thị trường cà phê của EU. Mặt hàng cà phê đạt chứng nhận Fair-trade
tại EU có doanh số tăng lên đáng kể trong các năm qua, 80% các sản phẩm cà phê
này của thế giới được bán ở EU. Cà phê đạt chứng nhận Fair-trade là phân khúc thị
trường phát triển nhanh nhất tại thị trường này. Tuy nhiên, mặc dù tăng trưởng
nhanh chóng trong các năm gần đây, cà phê đạt chứng nhận Fair-trade vẫn chiếm ít
hơn 1% tổng sản lượng cà phê tại thị trường EU (FAO, 2009).
+ Sản lượng và kim ngạch nhập khẩu
Bảng 1.4: Khối lượng cà phê nhập khẩu của EU giai đoạn 2005-2011
Năm Khối lượng (tấn) % tăng giảm so với năm trước đó
2005 2.574.371 _
16