TIỂU LUẬN:
Thực trạng tín dụng trung dài
hạn tại Ngân hàng Công
Thương Hoàn Kiếm Chương I: những vấn đề lý luận về hoạt động tín dụng trung dài hạn
của ngân hàng thương mại
1.1/Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân
hàng thương mại
1.1.1/ KHái quát chung về hệ thống Ngân hàng thương mại
1.1.1.1/Khái niệm ngân hàng thương mại.
Kinh tế thị trường có những đặc điểm cơ bản sau:
-Trong nền kinh tế thị trường,mỗi cá nhân,mỗi đơn vị kinh tế được tự do tổ
chức các hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật
-Cạnh tranh là quy luật của thị trường.
-Khách hàng giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế.
-Tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế đều được tiền tệ hoá.
Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường,từ đặc điểm kinh doanh tiền
tệ cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà các ngân hàng hiện nay hoạt
động theo hướng đa năng tập trung vào ba hoạt động chính sau đây:
-Hoạt động huy động vốn.
-Hoạt động cho vay đầu tư.
-Hoạt động trung gian và các loại hình dịch vụ khác
.Hoạt động huy động vốn.
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động quan trọng của các doanh nghiệp
nói chung và đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ
như ngân hàng.Hoạt động này bao gồm huy động các nguồn tiền gửi (tiền gủi tiết
kiệm ,tiền gửi giao dịch và phi giao dịch),các khoản đi vay(vay từ dân cư,từ các tổ
chức kinh tế,từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác),tiền nhận uỷ thác đầu
tư,tiền góp vốn liên doanh.
Ngoài ra các NHTM còn huy động vốn từ việc vay của ngân hàng nhà
nước,vay trên thị trường liên ngân hàng hoặc vay từ các thị trường vốn lớn trên thế
giới.
Hoạt động huy động vốn có vai trò cung cấp đầy đủ và kịp thời các nguồn
vốn phục vụ cho các hoạt động khác của ngân hàng.
.Hoạt động cho vay và đầu tư.
Đây là hoạt động cấp vốn cho nền kinh tế trên cơ sở an toàn số vốn đã cấp ra có mối quan hệ với ngân hàng cùng những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn
trả(gốc và lãi),lãi suất,cách thức vay mượn và thu hồi…
Thông thường tín dụng được chia làm hai loại là tín dụng ngắn hạn là tín
dụng trung và dài hạn.Các khoản tín dụng ngắn hạn hay còn gọi là tín dụng thương
mại thường được dùng để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.Còn các
khoản tín dụng trung và dài hạn lại chủ yếu được dùng để đáp ứng nhu cầu đầu tư
vào các tài sản cố định của doanh nghiệp.Tín dụng trung và dài hạn có đặc điểm là
số lượng vốn vay lớn,thời gian vay dài(trên 1 năm),tiền vay lại được dùng để đầu tư
mua sắm,xây lắp tài sản cố định,do vậy các chủ đầu tư thường phải lập một dự án
gửi đến ngân hàng.Dự án đầu tư được hiểu là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc
thù với các mục đích,phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt được những kết quả
và mục đích nhất định sau một khoảng thời gian xác định.
Tín dụng trung dài hạn có thể được phân loại như sau:
-Căn cứ vào đồng tiền cho vay có tín dụng trung và dài hạn bằng ngoại tệ,tín
dụng trung và dài hạn bằng bản tệ.
-Căn cứ vào tính chất có bảo đảm có thể chia thành tín dụng trung và dài hạn
có bảo đảm và tín dụng trung và dài hạn không có bảo đảm.
-Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đối tượng xin vay có thể chia thành tín
dụng trung dài hạn đầu tư trong nước và tín dụng trung dài hạn xuất nhập khẩu.
-Tín dụng tuần hoàn:là phương thức cho vay vào chu kỳ sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp,nó được coi là tín dụng trung và dài hạn khi thời hạn của hợp
đồng được kéo dài từ 1 đến vài năm và người vay rút tiền ra khi cần và được trả nợ
khi có nguồn trong thời gian hợp đồng có hiệu lực.
-Thuê mua:Đây là hình thức cho vay trung và dài hạn nhưng bằng thiết bị
thay bằng tiền,người đi thuê có quyền mua lại tài sản đó theo giá thoả thuận trong
hợp đồng.
vay trung dài hạn,người vay phải soạn thảo dự án,chương trình sản xuất kinh
doanh.Các dự án này phải được thể hiện một cách đầy đủ,rõ ràng việc sử dụng vốn
theo các mục đích cụ thể.Mục tiêu này phải nằm trong mục tiêu chiến lược phát
triển kinh tế chung của vùng và cúa đất nước.Để cho dự án được thực hiện,cần có
sự thông qua,cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
-Phải hoàn trả tiền vay và lãi theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng.
-Phải đảm bảo tiền vay theo đúng quy định của Chính phủ,của Ngân Hàng
Nhà Nước.
Trên cơ sở các nguyên tắc trên,mỗi Ngân hàng sẽ đề ra các điều kiện ràng
buộc,các quy định mang tính chất bắt buộc có thể thực hiện vốn vay của Ngân
hàng.Các quy định này về cơ bản là giống nhau nhưng các điều khoản cụ thể thì
khác nhau phụ thuộc vào mỗi ngân hàng và thời điểm lịch sử.
Do các đặc trưng của tín dụng trung dài hạn nên thời gian thu hồi vốn là rất
lâu,có khả năng gặp nhiều rủi ro trong quá trình sử dụng nên việc cho vay trung dài
hạn phải tuân theo quyết định 367/QĐNH1 của thống đốc NHNN Việt Nam về thể
lệ tín dụng trung dài hạn như sau:
-Doanh nghiệp vay vốn phải là đơn vị sản xuất kinh doanh có lãi,có vốn
tham gia tối thiểu bằng 20% tổng dự toán công trình đầu tư.
-Doanh nghiệp vay vốn phải chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước về
quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và thể lệ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng.
-Doanh nghiệp vay vốn phải mua bảo hiểm cho tài sản hình thành bằng vốn
vay tại một công ty bảo hiểm được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam,nếu tài
sản đó quy định phải mua bảo hiểm và cam kết sử dụng số tiền bồi thường khi gặp
rủi ro để trả nợ.Trường hợp không mua bảo hiểm do tổng giám đốc ngân hàng quy
định.
cao hơn.Trong điều kiện nước ta hiện nay,việc đầu tư trung dài hạn nhằm tạo nền
tảng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự tăng cường thực sự vững bền,đó là đảm bảo phát
triển treo chiều sâu.
1.1.2.2/Thúc đẩy mở rộng sản xuất phát triển.
Cho vay trung dài hạn đối với các thành phần kinh tế thực sự là loại hình đầu
tư chiều sâu nhằm mở rộng sản xuất,tăng quy mô ,nâng cao năng lực sản xuất,vì thế
tín dụng trung và dài hạn thực sự là một cứu cánh khi doanh nghiệp có tiềm năng
mở rộng phát triển mà không có vốn đầu tư.Khi đã có vốn nghĩa là một dự án đầu tư
đã đi vào hoạt động,là một cơ hội mở rộng sản xuất,cơ sở trang thiết bị đầy đủ làm
cho năng lực sản xuất kinh doanh tăng lên,theo đó mà sản phẩm hàng hoá được sản
xuất ra không những nhiều về số lượng,đa dạng về mẫu mã chủng loại,phong phú
về chất lượng,kích thích nhu cầu xã hội.
1.1.2.3/Tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn.
Tín dụng trung và dài hạn đầu tư vào máy móc thiết bi và xây dựng cơ bản
do đó kích thích sản xuất phát triển.Khi đó,các doanh nghiệp cần nhiều vốn lưu
động hơn để đáp ứng sự phát triển sản xuất,điều này tạo ra thị trường sử dụng vốn
ngắn hạn.Tốc độ phát triển sản xuất càng cao thì nhu cầu vốn lưu động càng lớn và
tín dụng trung dài hạn đã tạo điều kiện cho tín dụng ngắn hạn phát triển.
1.1.2.4/Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại
hoá.
Thông qua nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn,Ngân hàng có thể cho vay
đáp ứng nhu cầu của ngành này chứ không phải ngành khác.Công nghiệp hoá không
chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế
mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới cơ bản về công
nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh,hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.Nội dung giai đoạn đầu của tiến trình Công nghiệp hoá-hiện đại
NHTM,khách hàng,nền kinh tế và NHTM.
Thứ nhất:Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ NHTM
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi,mức độ,giới hạn tín dụng phải phù
hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và phải đảm
bảo được sự cạnh tranh trên thị trường,đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có
lãi.Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia
tăng,dư nợ ngày càng tăng trưởng,tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và hợp
lý,đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn,trung và dài hạn trong nền kinh tế.
Thứ hai:Chất lượng hoạt động xét từ giác độ khách hàng.
Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng,sự am hiểu khách hàng sẽ làm cho
ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của ngân hàng,đảm bảo thoả mãn nhu cầu hợp
lý về vốn cho họ.Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay,chất lượng là yêu cầu hàng
đầu,vì vậy chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng,lãi suất
hợp lý,thủ tục đơn giản không phiền hà,thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm
bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù hợp với tốc độ phát triển của xã
hội,đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng,góp phần làm lành mạnh tài
chính doanh nghiệp.
Thứ ba:Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế.
Hoạt động tín dung trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng động
của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới.Nhiều khái niệm mới với những nội
dung mới để đạt được sự thống nhất,về nhận thức và tạo điều kiện nâng cao chất
lượng hoạt động tín dụng.
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh,tạo việc làm cho người lao động,tăng
thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả năng tiềm
ẩn trong nền kinh tế,thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,tranh thủ vay vốn
nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát triển.
khái niệm tương đối và không có một chỉ tiêu tổng hợp nào để phản ánh nó một
cách chính xác.Thông thường để đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của một
ngân hàng thương mại,người ta dùng một tập hợp các chỉ tiêu khác nhau,nhưng về
cơ bản chất lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại được đánh giá qua các
chỉ tiêu sau:
Thứ nhất:Chỉ tiêu tổng dư nợ.
Thú hai: Chỉ tiêu về nợ quá hạn.
Thứ ba: Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng.
Thứ tư: Đóng góp của hoạt động tín dụng đến sự phát triển kinh tế xã hội
1.2.2.1/Chỉ tiêu tổng dư nợ.
Tổng dư nợ khi được đề cập để đánh giá chất lượng tín dụng bao gồm cho
vay ngắn hạn,trung và dài hạn,cho vay uỷ thác.Chỉ tiêu này được đo bằng số tuuệt
đối,nó phản ánh doanh số cho vay của ngân hàng trong một kỳ(một năm) là bao
nhiêu.Tổng dư nợ thấp phản ánh chất lượng tín dụng thấp vì chỉ ra rằng ngân hàng
không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay,khả năng tiếp thị khách hàng
kém,trình độ của đội ngũ nhân viên không cao…Tuy nhiên không phải bất kỳ thời
điểm nào chỉ tiêu này cao cũng là tốt và ngược lại,do vậy khi xét chỉ tiêu này chúng
ta cũng không nên xem xét chúng theo từng thời kỳ riêng rẽ mà phải xem xét chúng
trong cả một quá trình trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động bên ngoài để chỉ số
này phản ánh một cách tốt nhất có thể thực tế hoạt động tín dụng cuả ngân hàng
trong nền kinh tế.
1.2.2.2/Chỉ tiêu về nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này có thể nói là một chỉ tiêu quan trọng nhất khi xem xét chất
lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại.Đến kỳ trả nợ,nếu người vay không
trả và không được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ nợ đến hạn sang nợ
quá hạn và đương nhiên người đi vay phải chịu lãi suất quá hạn thường là cao gấp
Ngoài ra,người ta còn tính đến một chỉ tiêu gián tiếp là tỷ lệ mất vốn:
Tỷ lệ mất vốn =
Tổng số tiền cho vay được xoá nợ)*100%
Dư nợ bình quân Các tổ chức tín dụng đều có những khoản cho vay không có khả năng thu
hồi,nhưng một tổ chức tín dụng quản lý tốt là một tổ chức có tỷ lệ này ở mức thấp
nhất.Rất nhiều tổ chức tín dụng vẫn phản đối việc xoá nợ bởi họ tin rằng những
khoản cho vay này vẫn có thể thu hồi được.Một khi món nợ đã được xoá,các nỗ lực
thu hồi vốn vẫn tiếp tục nếu điều đó có ý nghĩa kinh tế
1 2.2.3/Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng.
Ngân hàng hoạt động với mục đích quan trọng nhất là lợi nhuận.Chỉ tiêu này
sẽ chỉ ra trong tổng thu nhập của ngân hàng thì phần đóng góp là bao nhiêu.Lợi
nhuận thu từ hoạt động tín dụng lớn sẽ khẳng định chất lượng của các khoản vay là
tốt.
Tất nhiên khi xem xét chất lượng của một hoặc một số hoạt động tín dụng
đặc thù thì chúng ta sẽ dựa trên những chỉ tiêu chung này để vận dụng cho phù
hợp,đồng thời những chỉ số cũng được xem xét trong cả một thời kỳ dài để thấy
khuynh hướng biến động của nó phù hợp với thực tiễn không,nhằm giúp cho các
đánh giá được chính xác hơn.
1.2.3/Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn
của NHTM.
1.2.3.1/Các nhân tố về phía khách hàng.
Các doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất,đầu tư cho máy móc thiết bị,dây
chuyền công nghệ…phải cần một lượng vốn lớn và trong thời gian dài.Chính vì vậy
doanh nghiệp,tính lỏng của tài sản.Năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tín
dụng trung dài hạn còn đòi hỏi doanh nghiệp phải có số vốn lưu động tối thiểu cho
việc duy trì hoạt động thường xuyên của tài sản cố định.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao,khả năng đáp ứng các điều
kiện tín dụng càng lớn thì càng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và
chất lượng tín dung trung dài hạn nói riêng.
-Năng lực quản lý của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp vay vốn phải có bộ máy có năng lực quản lý phù hợp.Năng
lực quản lý thể hiện ở tổ chức hệ thống hạch toán kế toán và quản lý tài chính phù
hợp với các quy định của pháp luật.Hệ thống tài chính kế toán thống kê giúp cho
các doanh nghiệp và ngân hàng thông qua việc cung cấp các thông tin về hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp ( tất nhiên để đảm bảo tính trung thực khách quan
phải có các cơ quan kiểm toán xác nhận)
-Quyền sở hữu tài sản và khả năng đáp ứng các biện pháp bảo đảm.
Quan hệ tín dụng thường đưa ra đòi hỏi có tài sản bảo đảm bằng các hình
thức thế chấp,cầm cố hoặc được bảo lãnh của người thứ ba.Điều kiện tối thiểu là
khối lượng tín dụng chỉ bằng 70% giá trị tài sản bảo đảm.
-Sự đáp ứng của dự án đối với tiêu chuẩn tín dụng.
Dự án thuyết minh được tính chất cần thiết,mục đích,kết quả của dự án.
Sự phù hợp của quá trình đầu tư với quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội.
Có vốn tự có tham gia của doanh nghiệp vào tổng giá trị vốn đầu tư có khả
năng hoàn trả từ bản thân dự án và từ các hoạt động kinh doanh khác của doanh
nghiệp.
Mặt khác doanh nghiệp phải xác định được nguồn vốn lưu động tối thiểu cho
việc phát huy công suất tài sản cố định
đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện.Thẩm định dự án giúp ngân
hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của dự án để xác định tính khả thi của dự
án,trên cơ sở đó sẽ quyết định khách hàng này có đủ điều kiện để được cấp tín dụng
hay không.Cũng thông qua công tác thẩm định,ngân hàng với những kinh nghiệm
vốn có của mình có thể tư vấn,giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không
hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thi hơn và cũng giúp cho ngân hàng có thể
mở rộng hoạt động tín dụng của mình.
Thẩm định là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán phức
tạp.Do công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay không nên chất
lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động tín dụng.Nếu
chất lượng của công tác thẩm định không cao,tức là nhân viên tín dụng không xác
định được thực chất dự án có hiệu quả hay không thì những khoản tín dụng mà ngân
hàng đã cấp sẽ gặp những rắc rối trong việc thu hồi các món nợ của mình.Chính vì
vậy,công tác thẩm định đòi hỏi những nhân viên thẩm định có trình độ cao và sự kết
hợp một cách có hiệu quả giữa các phòng ban trong ngân hàng.
-Chính sách tín dụng của ngân hàng.
Mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ sẽ có những chính sách tín dụng riêng của
mình để nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.Chính sách tín dụng này sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến quy mô,tính chất của các khoản tín dụng cũng như phương thức hoạt động tín
dụng của ngân hàng.Chính sách tín dụng không những phụ thuộc vào mục tiêu của
bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như chính sách của chính
phủ và của các cơ quan quản lý.Như vậy việc đưa ra một chính sách tín dụng hợp lý
sẽ giúp cho ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn,nó giúp nâng cao chất lượng hoạt
động tín dụng của ngân hàng.
-Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu
thường xuyên của mỗi ngân hàng thương mại.Ta có thể xem xét ảnh hưởng của môi
trường kinh tế-xã hội đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
từ các yếu tố sau:
-Môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế phát triển có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín
dụng.Một môi trường kinh tế lành mạnh,các chủ thể tham gia nền kinh tế đang hoạt
động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng,chất lượng hoạt động tín
dụng cũng sẽ được nâng lên.Bên cạnh đó môi trường kinh tế cũng có thể có những
thay đổi bất ngờ,ví dụ như những thay đổi về lãi suất,những biến động về tỷ
giá,biến động về thị trường….Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân
hàng thương mại sẽ chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế mà nó hoạt động,vấn đề
đối với các ngân hàng là phải làm tốt công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh
khi có sự biến động nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động tín dụng
-Môi trường pháp lý.
Ngân hàng thương mại khi hoạt động phải tuân thủ đầy đủ các quy định về
luật pháp của Nhà nước,như vậy môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng hoạt động tín dụng của các ngân hàng.Một hệ thống pháp lý đầy đủ,đồng bộ
và ổn định sẽ giúp các ngân hàng thương mại dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế
hoặch kinh doanh của mình,góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín
dụng của các ngân hàng thương mại.
-Môi trường chính trị - xã hội.
Môi trường chính trị-xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy
hoạt động đầu tư và ngân hàng cũng có thể mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng
của mình.Điều này giúp cho ngân hàng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn từ hoạt
động tín dụng.Tác động của môi trường chính trị-xã hội tới chất lượng hoạt động tín
dụng không thường xuyên,nhưng khi có những biến động về chính trị thì tác động
của nó tới các ngân hàng là vô cùng lớn.
Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm ngoài ban giám đốc còn có 9 phòng ban
với tổng số 215 cán bộ.
Phòng kinh doanh: thực hiện các nghiệp vụ cho vay.
Phòng kinh doanh đối ngoại: thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc
tế, thu đổi ngoại tệ, mua bán ngoại tệ.
Phòng giao dịch Đồng Xuân: thực hiện gần như đầy đủ các nghiệp vụ
của ngân hàng nhưng chủ yếu với đối tượng khách hàng là các tư thương ở khu
vực chợ Đồng Xuân.
Phòng nguồn vốn: thực hiện chức năng huy động vốn. Phòng nguồn
vốn bao gồm cả 10 quỹ tiết kiệm có chức năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân cư.
Phòng kế toán: thực hiện các nghiệp vụ kế toán ngân hàng.
Phòng kiểm soát: kiểm soát toàn bộ các hoạt động trong ngân hàng,
đảm bảo hoạt động ngân hàng vừa nhanh chóng, kịp thời nhưng phải hoàn toàn
chính xác.
Phòng kho quỹ: thực hiện các nghiệp vụ dự trữ tiền mặt, thu chi tiền
mặt, chuyển tiền
Phòng vi tính: quản lý toàn bộ mảng tin học của hệ thống ngân hàng.
Phòng tổ chức hành chính: bao gồm hai mảng hoạt động:
Hoạt động tổ chức: quản lý cán bộ trong ngân hàng, thực hiện các công
tác tuyển dụng, đào tạo, điều chuyển cán bộ
Hoạt động hành chính: chịu trách nhiệm về các hoạt động mua sắm, xây
dựng, phục vụ
2.1.2/Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong những năm
gần đây.
A. Năm 1999
quan tâm và thu được kết quả khích lệ: thu kiều hối 315 món trị giá 423.657 USD,
chi kiều hối là 314 món trị giá 422.446 USD, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế là 70
món với số tiền là 10.000 USD. Đặc biệt năm 1999, Chi nhánh đã bắt đầu thực hiện
dịch vụ L/C xuất như sau: thông báo 4 L/C trị giá 299.276 USD, thanh toán 5 L/C
trị giá 392.164 USD. Mặc dù nghiệp vụ thanh toán L/C xuất chưa nhiều nhưng là sự
khởi đầu, là cuộc tập dượt cho sự phát triển sau này.
Về công tác thu nợ:
Từ cuối năm 1998, ban thu nợ được tách riêng với nhiệm vụ chủ yếu là theo
dõi, đôn đốc khách hàng có nợ quá hạn và nghiên cứu đề ra các biện pháp nhằm
khai thác xử lí tài sản thế chấp để thu hồi nợ quá hạn. Với sự cố gắng này, năm
1999 tổng nợ quá hạn thu được gần 8,5 tỉ đồng nợ gốc và 650 triệu đồng tiền lãi.
Về lợi nhuận.
Với sự cố gắng vượt bậc, năm 1999, NHCT Hoàn Kiếm đã đạt được hơn 21
tỷ đồng lợi nhuận hạch toán, vượt 22% kế hoạch NHCT Việt Nam giao, vượt gần 2
lần so với năm 1998.
b. Năm 2000.
Về hoạt động kinh doanh tín dụng.
Trong năm 2000, mục tiêu cơ bản được đặt ra là nâng cao chất lượng tín
dụng, hoạt động tín dụng chủ yếu đi vào chiều sâu. Chính vì vậy Chi nhánh đã liên
tục rà soát, đánh giá chất lượng tín dụng, sàng lọc và nâng cao chất lượng dư nợ đối
với những khách hàng truyền thống, đồng thời không ngừng nghiên cứu, tìm kiếm
và tiếp thị các khách hàng mới là các tổng công ty 90, 91 và các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài có uy tín và khả năng tài chính lành mạnh, tiếp cận các dự án
có tính khả thi cao, đặt nền móng cho việc mở rộng công tác tín dụng một cách
vững chắc, an toàn và hiệu quả. Các doanh nghiệp dân doanh cũng được chú ý
nhiều hơn.
doanh số nhờ thu đạt 12 triệu 741 ngàn USD; doanh số TTR đạt 52 triệu USD, đưa
doanh số thanh toán hàng nhập khẩu lên 104 triệu USD.
Năm 2000 là một năm đầy khó khăn đối với nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.
Thế nhưng chi nhánh đã có được doanh số mua bán ngoại tệ với 95 triệu USD, thu
phí về hoạt động thanh toán quốc tế là 2,4 tỷ đồng.
Về công tác huy động vốn.
Số dư tiền mặt của dân cư năm 2000 đạt 510.686 triệu đồng, tăng 12% so với
năm 1999, đưa tổng nguồn vốn của chi nhánh năm 2000 lên đến hơn 2.082.533 triệu
đồng, tăng 14% so với năm 1999.
Về lợi nhuận.
Năm 2000, ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm đã có được 21.730 triệu
đồng lợi nhuận, vượt 10% so với kế hoạch được giao. Lợi nhuận năm 2000 của chi
nhánh lẽ ra đạt trên 25 tỷ đồng, nhưng do cuối năm 2000 chi nhánh phải thực hiện
trích quỹ dự phòng rủi ro và quỹ lương điều hoà bổ sung theo cơ chế tiền lương mới
làm đột biến tăng chi phí là 3 tỷ.
c. Năm 2001
Năm 2001, nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục ổn định và phát triển. Với tốc độ
tăng trưởng GDP 6,8%, sự ổn định về chính trị và những thành công trong đối
ngoại, nước ta đã trở thành môi trường tin cậy cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các
công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước đã có những thay đổi lớn theo
thông lệ quốc tế, đặc biệt là lãi suất và tỉ giá đã tạo môi trường thuận lợi, khiến hoạt
động ngân hàng ngày càng sôi động và hiệu quả hơn.
Tuy nhiên hệ thống ngân hàng nói chung vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Hoạt động của nền
kinh tế còn kém hiệu quả và một số yếu tố khách quan không thuận lợi cho hoạt
động ngân hàng, đó là sản phẩm cạnh tranh thấp, giá cả các mặt hàng xuất khẩu