TIỂU LUẬN: Nâng cao chất lượng hoạt động bão lãnh tại Ngân hàng No&PTNT Hà Nội- phòng giao dịch chợ Hôm pot - Pdf 12



TIỂU LUẬN:
Nâng cao chất lượng hoạt động bão
lãnh tại Ngân hàng No&PTNT Hà
Nội- phòng giao dịch chợ Hôm

ỜI MỞ ĐẦU

Sau khi Việt Nam ra nhập WTO, việc mở rộng thị trường tài chính ngân hàng
ngày càng được mở rộng, các ngân hàng trong nước, các ngân hàng trên thế giới và các
tổ chức phi ngân hàng được tạo điều kiện để thành lập tại Việt Nam. Xu hướng này
đặt các ngân hàng trước một áp lực cạnh tranh gay gắt hơn. Một trong các biện pháp
cần thiết để các ngân hàng thương mại nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường sức
cạnh tranh là đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ.
Trong thời gian thực tập tại NHNo&PTNT Hà Nội- phòng giao dịch chợ Hôm, tôi

HÀNG
1.1 Khái quát chung về bảo lãnh
1.1.1 Sự hình thành và phát triển chung của bảo lãnh
Bảo lãnh là một khái niệm xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người. Mặc dù
không thể xác định chính xác thời gian ra đời của bảo lãnh cũng như xuất xứ của bão
lãnh nhưng có thể khẳng định rằng bảo lãnh đã có từ thời trung cổ Hy Lạp với hình thức
rất sơ khai bằng những giao dịch giữa cá nhân trong quan hệ thường.
Vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước, công nghiệp dầu mỏ lớn mạnh làm gia
tăng quan hệ giao dịch giữa các nước Trung Đông và Tây Âu. Những hợp đồng khai thác,
mua bán dầu khí, khí đốt, xây dựng cơ sở hạ tầng có giá trị lớn đòi hỏi sự đảm bảo của
ngân hàng trong tài trợ và thực hiện nghĩa vụ các bên. Đồng thời, nền mậu dịch phát triển
trong những năm 70 giữa thế giới thứ 3 với khối các nước giàu như Tây Âu, Bắc Mỹ,
Trung Đông… làm tăng thêm nhu cầu đa dạng hóa và hợp pháp hóa các công cụ tài trợ
và đảm bảo quốc tế ngoài phương thức tín dụng chứng từ truyền thống. Các phải thể hiện
tính linh hoạt, tiện lợi, phù hợp với tập quán quốc tế nhưng không trái với hệ thống pháp
luật quốc gia.
Bão lãnh phát triển trong bối cảnh như vậy và đáp ứng được những yêu cầu đó.
Đến nay, bảo lãnh ngày càng phát triển và trở thành một công cụ hữu hiệu đảm bảo thực
thi nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính trong các giao dịch quốc tế cũng như các giao
dịch ở thị trường nội địa của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
1.1.2 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Theo luật Việt nam, điều 366 định nghĩa: “Bảo lãnh là người thứ 3 (gọi là người
bảo lãnh) cam kết với người có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ
thay cho bên có nghĩa vụ (thường là người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà
người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Như vậy có thể thấy rằng bản chất của bảo lãnh là sự cam kết của người bảo lãnh
thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh trong trường hợp người này không thực hiện

hàng sẽ xem xét các yếu tố đảm bảo thanh toán của doanh nghiệp, các yếu tố về nghiệp
vụ kỹ thuật và nội dung yêu cầu trước khi phát hành cam kết bảo lãnh cho người nhận
bảo lãnh hưởng.
Khi cam kết bảo lãnh có hiệu lực có nghĩa là cả ba bên liên quan đã thỏa mãn với
bảo lãnh ấy. Ngược lại, nếu có bất đồng về cam kết bảo lãnh thì ngân hàng không chấp
nhận yêu cầu phát hành bảo lãnh của người được bảo lãnh hoặc người hưởng sẽ không
yêu cầu sửa đổi cam kết bảo lãnh. Để tránh những trở ngại trong việc phát hành cam kết
bảo lãnh, người nhận bảo lãnh cũng như người hưởng bảo lãnh cần quan tâm đến vai trò
ngân hàng khi ký kết hợp đồng cơ sở.
b) Tính độc lập về quan hệ, tính quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
Sở dĩ bảo lãnh được coi là công cụ vạn năng sử dụng trong tất cả các giao dịch vì
nó có đặc điểm nổi bật là tính độc lập về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia.
Các hợp đồng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau. Hợp đồng thứ nhất
là gốc để hợp đồng thứ hai và thứ ba hình thành, và các hợp đồng sau ra đời cũng
nhằm phục vụ cho hợp đồng thứ nhất. Một hợp đồng sẽ không được thực hiện đầy đủ
nếu các hợp đồng còn lại không có hiệu lực. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ các bên
trong hợp đồng này lại không ràng buộc hay phụ thuộc lẫn nhau.
Ngân hàng, người cung cấp dịch vụ và cam kết thanh toán có hai mối quan hệ
với hai đối tượng khác nhau và phải hành động mang tính độc lập trên cơ sở quyền và
nghĩa vụ của từng hợp đồng: ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện cam kết của mình khi bị
người hưởng đòi tiền nếu người hưởng đã thỏa thuận đầy đủ những quy định của cam
kết bảo lãnh cho dù ngưởi ủy nhiệm phá sản, mất khả năng thanh toán hay đang có
tranh chấp giữa người được bảo lãnh và người hưởng. Sau đó ngân hàng có quyền đòi
thanh toán từ người được bảo lãnh.
Người được bảo lãnh thực hiện nguyên tắc: “thanh toán trước, khiếu kiện sau” tức
là họ có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng bảo lãnh (trong trường hợp bị người bảo lãnh
đòi tiền) và sau đó có quyền khiếu nại người hưởng bếu bị người hưởng lạm dụng.

chấp nhận bảo lãnh được phát hành bởi các cá nhân hay các doanh nghiệp là vô cùng rủi
ro do khó xác định được năng lực tài chính, năng lực pháp lý của người phát hành bảo
lãnh, đặc biệt là trong giao dịch quốc tế. Trên thực tế, hầu hết các bảo lãnh là do các ngân
hàng thương mại phát hành.
Chức năng của ngân hàng trong giao dịch bảo lãnh trước hết là tài trợ. Phát hành
bảo lãnh là một hình thức tài trợ của ngân hàng nhằm đảm bảo sự chi trả phát sinh giữa
các đối tác theo hợp đồng cơ sở. Ngân hàng coi việc phát hành bảo lãnh như một hình
thức cấp tín dụng cho người được bảo lãnh và người được bảo lãnh phải có tài sản thế
chấp cho khoản tín dụng này. Điều này tạo ra sự tin tưởng cao cho người thụ hưởng vào
khả năng thanh toán của ngân hàng.
Ngân hàng còn là nơi cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Do vậy, ngân hàng phải
có một bộ máy tổ chức tốt, phù hợp đảm bảo chất lượng dịch vụ về nhân sự, về kỹ thuật
chuyên môn. Quan trọng hơn, các NHTM luôn phải đề cao uy tín của mình nên khả năng
ngân hàng từ chối nghĩa vụ trả nợ theo bảo lãnh là rất thấp. Đây là ưu thế vượt trội của
NHTM so với các doanh nghiệp.
Ngân hàng không phải là người trung gian hòa giải hoặc là người xem xét giao
dịch thực tế của hợp đồng cơ sở. Ngân hàng chỉ làm dịch vụ theo yêu cầu của hai phía và
thể hiện bằng những cam kết độc lập trong bảo lãnh.
e) Tính tương đối của cam kết vô điều kiện trong bảo lãnh độc lập
Bảo lãnh ngân hàng thường là bảo lãnh vô điều kiện. Trong thư bảo lãnh, ngân
hàng phát hành cam kết thanh toán vô điều kiện khi nhận được thư đòi tiền và tuyên bố vi
phạm của người hưởng và không thể viện dẫn bất kỳ lý do nào ngoài nội dung thư bảo
lãnh để từ chối thanh toán trừ khi ngân hàng phát hiện được người hưởng lạm dụng, gian
lận hay lừa đảo. Tuy nhiên, cam kết thanh toán vô điều kiện của ngân hàng chỉ là tương
đối.
Trước hết, người hưởng chỉ được thanh toán vô điều kiện với điều kiện nếu họ
thực hiện đúng các điều khiển trong bảo lãnh: xuất trình từ hoàn hảo, trong thời kỳ hiệu
lực của bảo lãnh, số tiền không vượt giá trị bảo lãnh… Nếu không đáp ứng đúng các yêu
Bảo lãnh ngân hàng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cấp. Nhờ thế
ngân hàng có khả năng mở rộng thêm khách hàng, một mặt là đáp ứng nhu cầu, gắn bó
hơn với khách hàng truyền thống và một mặt là thu hút được các khách hàng mới.
Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh
đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản tiền không nhỏ, chiếm một tỷ trọng lớn
trong lợi nhuận từ các loại hình dịch vụ, nhất là trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, các
chủ thể kinh tế ngày càng sử dụng nhiều hơn các hình thức của bảo lãnh ngân hàng.
Phí bảo lãnh được tính như sau:
Phí bảo lãnh = tỷ lệ phí(%) * số tiền bảo lãnh * Thời gian bảo lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng còn góp phần hỗ trợ các hình thức thanh toán của ngân hàng
như thanh toán quốc tế (Bảo lãnh hối phiếu, Bảo lãnh L/C trả chậm).
1.1.4.3 Đối với doanh nghiệp
Trong các quan hệ kinh tế không phải khi nào cũng có thể tin tưởng nhau do rất
nhiều nguyên nhân, đặc biệt là đối với 2 khách hàng mới làm ăn với nhau hay do làm ăn
chưa lâu dài. Vì thế, để đảm bảo quan hệ làm ăn và để giảm thiểu rủi ro, bên cung cấp
thường yêu cầu bên đối tác phải có bảo lãnh ngân hàng thì mới thực hiện giao dịch. Do
đó, bảo lãnh ngân hàng đôi khi là yêu cầu bắt buộc, là chìa khóa để doanh nghiệp có cơ
hội tiếp cận với hợp đồng kinh doanh. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng còn giúp doanh
nghiệp tiết kiệm được khoản vay vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu
động và doanh nghiệp chỉ phải trả một khoản phí tương đối thấp.
- Với bên hưởng bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp yên tâm hơn
khi ký hợp đồng và thực hiện hợp đồng mà không tốn nhiều thời gian và chi phí. Giúp
cho doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội làm ăn ngay cả khi còn chưa tin tưởng vào đối tác
lắm, nhờ đó mà tăng cường năng lực cạnh tranh. Giúp doanh nghiệp chọn được bạn hàng
tốt nhất, giảm thiểu được rủi ro và khi có rủi ro xảy ra thì vẫn được bảo đảm bù đắp mọi
thiệt hại, do đó sẽ không bị ảnh hưởng nhiều đến công việc kinh doanh.
- Với bên được bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp có thể ký kết

bảo được quyền lợi cho người được bảo lãnh những phức tạp và chậm trong việc đòi tiền
nên người thụ hưởng ít chấp nhận.
1.1.5.2 Phân loại bảo lãnh theo mối quan hệ giao dịch
Bão lãnh trực tiếp
Sơ đồ 1.1 Bảo lãnh trực tiếp:

Ngân hàng
phát hành (2) (3)

(1) (1) Hợp đồng chính được ký kết giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng
bảo lãnh
(2) Khách hàng yêu cầu phát hành bảo lãnh
(3) Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và chuyển trực tiếp cho người thụ hưởng
(sau khi xét duyệt và chấp nhận)
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh mà ngân hàng phục vụ người được bảo lãnh
cam kết trực tiếp trả tiền cho người hưởng. Nếu phát sinh thanh toán, người hưởng lập
chứng từ đòi tiền theo quy định và xuất trình cho ngân hàng bảo lãnh. (Việc thông báo
thư bảo lãnh va xuất trình chứng từ đòi tiền có thể thông qua ngân hàng thông báo hoặc

hàng chính phát hành bảo lãnh.
(3) Ngân hàng thứ nhất chỉ thị cho ngân hàng thứ 2 phát hành bảo lãnh, đồng thời
cam kết bồi hoàn bảo lãnh đối ứng.
(4) Ngân hàng thứ 2 phát hành bảo lãnh: có thể chuyển trực tiếp cho người thụ h-
ưởng
Bảo lãnh gián tiếp là loại bảo lãnh mà theo yêu cầu của người được bảo lãnh, ngân
hàng trong nước ủy nhiệm cho một ngân hàng đại lý ở nước ngoài hưởng phát hành bảo
lãnh với cam kết sẽ hoàn trả số tiền ngân hàng phát hành thanh toán cho người hưởng.
Trong loại hình này, ngân hàng phục vụ người được bảo lãnh gửi chỉ thị gồm yêu
cầu phát hành, cam kết thanh toán cùng nguyên văn thư bảo lãnh cho ngân hàng đại lý tại
nước ngoài. Chỉ thị này gọi là bảo lãnh đối ứng (counter guarantee) hay bảo lãnh thứ yếu
(secondary guarantee).
Ngân hàng phát hành bảo lãnh trực tiếp (bảo lãnh chính yếu- primary guarantee)
cho người hưởng được gọi là ngân hàng phát hành. Người hưởng sẽ đòi tiền tại ngân
hàng phát hành nếu người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Sau đó ngân hàng phát hành
sẽ đòi thanh toán từ ngân hàng yêu cầu bảo lãnh theo cam kết trong bảo lãnh đối ứng.
Bảo lãnh gián tiếp đảm bảo cho quyền lợi của người thụ hưởng do ngân hàng phát
hành ở cùng nước người hưởng, giao dịch giữa các ngân hàng sẽ thuận tiện và nhanh
chóng hơn. Người hưởng thường chọn bảo lãnh gián tiếp khi không tin tưởng khả năng
tài chính của ngân hàng phục vụ người được bảo lãnh, khi giao dịch với khách hàng mới
hoặc đối tượng được bảo lãnh có giá trị lớn, có nhiều rủi ro.
1.1.5.3 Phân loại bảo lãnh theo đối tượng bảo lãnh
Người được
hưởng bảo lãnh
Người thụ hưởng
bảo lãnh
Bảo lãnh hoàn trả


Ngoài yêu cầu đòi tiền và tuyên bố vi phạm như các bảo lãnh vô điều kiện khác,
bảo lãnh thanh toán thường yêu cầu người hưởng phải xuất trình chứng từ chứng minh
người bán đã giao hàng như hóa đơn thương mại (có hoặc không có xác thực của hải
quan) hoặc biên bản nghiệm thu công trình nếu đối tượng bảo lãnh là hợp đồng xây dựng.
Bảo lãnh dự thầu
Là cam kết của ngân hàng phát hành sẽ thanh toán một số tiền nhất định cho
chủ thầu khi người dự thầu có những vi phạm quy chế đấu thầu hoặc không ký hợp đồng
hay không cung cấp bảo lãnh thực hiện hợp đồng khi trúng thầu. Giá trị bảo lãnh dự thầu
thường bằng 1-5% giá trị gói thầu.
Mục đích của bảo lãnh đấu thầu nhằm đảm bảo người dự thầu tham gia dự thầu
một cách nghiêm túc, không bỏ dở dự thầu, không sửa đổi hồ sơ trong thời gian dự thầu.
Bảo lãnh dự thầu còn là hình thức đảm bảo với chủ thầu người bán sẽ thực hiện hợp đồng
nếu trúng thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng sẽ được phát hành. Nhờ việc ràng buộc
trách nhiệm người dự thầu khi dự thầu và trúng thầu, hình thức này giúp chủ thầu hạn chế
những người dự thầu không nghiêm túc, không có khả năng thực hiện hợp đồng.
Nếu người dự thầu trúng thầu, thời hạn bảo lãnh dự thầu thường kết thúc khi hợp
đồng được ký kết và bảo lãnh thực hiện hợp đồng có hiệu lực. Trường hợp người dự thầu
không trúng thầu, cam kết bảo lãnh tự động hết hiệu lực và thường được quy định trả lại
bản gốc cho ngân hàng phát hành.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Là bảo lãnh của ngân hàng đối với người thụ hưởng về việc thực hiện hợp đồng
của người nhận bảo lãnh. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là đảm bảo cho người nhập khẩu
trong trường hợp người bán không giao hàng hoặc giao hàng không đúng hợp đồng về số
lượng, chất lượng hay thời hạn… Là đảm bảo cho người xuất khẩu trường hợp người
mua không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như bảo
lãnh nghĩa vụ giao hàng trong thương mại quốc tế, bảo lãnh hoàn thành công trình trong
xây dựng, lặp đặt thiết bị, bảo hành máy. Thông thường giá trị thư bảo lãnh thường bằng
5% đến 10% giá trị hợp đồng và số tiền có thể giảm thiểu theo tiến độ thực hiện hợp

hoặc đơn vị hải quan… do việc nhận hàng không có vận đơn gây ra đồng thời cam kết trả
lại vận đơn gốc khi nhận được.
Trường hợp lô hàng nhận được thanh toán bằng L/C thì ngân hàng khi phát hành
bảo lãnh nhận hàng sẽ không còn quyền từ chối bộ chứng từ sai sót được xuất trình theo
L/C. Vì vậy, trong yêu cầu bảo lãnh nhận hàng, người nhập khẩu cần có cam kết sẽ thanh
toán L/C ngay cả khi bộ chứng từ có sai sót.
Bảo lãnh thuế quan
Là cam kết của ngân hàng phát hành với cơ quan thuế vụ sẽ thực hiện trách nhiệm
của người nộp thuế đến hạn mà người nộp thuế không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế. Loại bảo lãnh này được sử dụng khi doanh nghiệp chưa có tiền
nộp hoặc chưa muốn tạm nộp vì khoản thuế đang có khiếu nại; doanh nghiệp tạm nhập
tái xuất không muốn tạm nộp khoản thuế nhập khẩu.
1.2 Chất lượng bảo lãnh ngân hàng
1.2.1 Khái niệm chất lượng bảo lãnh
Trong bất kỳ một nghiệp vụ nào của ng ân hàng nói chung hay của hoạt động
bảo lãnh nói riêng đều phát sinh từ yêu cầu của chủ thể tham gia, tùy vào từng nghiệp vụ
thì các chủ thể tham gia nhiều hay ít. Trong nghiệp vụ bảo lãnh có sự tham gia của ít
nhất ba chủ thể,đó là người yêu cầu bảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh và người thụ hưởng
bảo lãnh
Để nâng cao chất lượng của hoạt động bảo lãnh thì cần đảm bảo lợi ích tốt
nhất của các chủ thể tham gia. Vậy chất lượng của bảo lãnh là việc ngân hàng bảo lãnh
đáp ứng được yêu cầu bảo lãn h, làm thỏa mãn được lợi ích của khách hàng ( bao gồm
bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ), đồng thời vẫn đảm bảo được sự h oạt động
hiệu quả của Ngân hàng và phù hợp với sự phát triển kinh tế.
1.2.1 Các tiêu chí phản ánh chất lượng bảo lãnh
Như trên ta thấy chất lượng bảo lãnh là một chỉ tiêu tổn g hợp được nhìn nhận
dưới nhiều góc độ khác nhau. Ta sẽ xem xét chất lượng của hoạt động bảo lãnh dưới giác

1.2.1.2 Xét trên giác độ của nền kinh tế:
Nghiệp vụ bảo lãnh ra đời xuất p hát từ những đòi hỏi khách quan của nền kinh
tế. Xét trên giác độ của nền kinh tế, thì chất lượng bảo lãnh được đánh giá cao khi:
- Thông qua bảo lãnh theo ngành nghề kinh tế phù hợp với cơ cấu khinh tế của
đất nước, phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn, thay đổi chuyển dịch cơ
cấu theo hướng dịch vụ- công- nông nghiệp.
- Đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn và công nghệ của nền kinh tế,tạo thêm công
ăn việc làm, thúc đẩy ph át triển và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh,
nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân…
- Thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hình ảnh, vị thế và uy tín của quốc gia
trên thương trường quốc tế.
1.2.1.2 Xét trên giác độ của Ngân hàng:
Doanh số bảo lãnh và dư nợ bảo lãnh:
Doanh số bảo lãnh là tổng giá trị các khoản bảo lãnh phát sinh trong năm.
Dư nợ bảo lãnh là tổng giá trị các khoản bảo lãnh của ngân hàng tại một thời
điểm nhất định.
Doanh số bảo lãnh (dư nợ bảo lãnh) tăng lên qua các năm cho thấy hoạt động
bảo lãnh của N gân hàng được mở rộng, phát triển, chứng tỏ sự ổn định trong hoạt động
của Ngân hàng, điều này cũng có nghĩa là chất lượng hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng
ngày càng được nâng cao . Đây cũng là nhân tố quan trọng để tạo dựng được niềm tin
của khách hàng và thu hút khách hàng đến với dịch vụ bảo lãnh của Ngân hàng cũng như
các dịch vụ khác của Ngân hàng.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, nếu dư nợ bảo lãnh cao không phù hợp với cơ
cấu tài sản của Ngân hàng cũng có thể đặt Ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro nhất là
khi danh mục bảo lãnh của Ngân hàng tập trung quá lớn vào một loại hình bảo lãnh, cũng
có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán nếu như các biện pháp phòng ngừa rủi
ro được thực hiện không tốt. Như vậy, chất lượng bảo lãnh được đánh giá cao khi doanh

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời và vị trí của hoạt động bảo lãnh trong
toàn bộ các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn, càng chứng tỏ tầm
quan trọng của bảo lãnh trong hoạt động dịch vụ của Ngân hàng.

Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động bảo
lãnh trong tổng doanh thu
=

Doanh thu từ hoạt động bảo lãnh
x100%
Tổng doanh thu
Chỉ tiêu này thể hiện vị trí của hoạt động bảo lãnh trong hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ vị trí của hoạt động bảo lãnh ngày
càng quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và điều đó cũng chứng tỏ
hoạt động của Ngân hàng ngày càng được đa dạng hóa hơn.
Dư nợ bảo lãnh quá hạn:
Đây là khoản vốn Ngân hàng trả thay bảo lãnh đã đến hạn thanh toán, không
được gia hạn nợ mà khách hàng vẫn chưa bồi hoàn lại cho Ngân hàng. Dư nợ bảo lãnh
lớn thể hiện Ngân hàng đang đứng trước nguy cơ mất vốn, chất lượng bảo lãnh không tốt,
đặc biệt là chất lượng công tác thẩm định của Ngân hàng là không tốt. Ngược lại, nếu dư
nợ bảo lãnh quá hạn nhỏ chứng tỏ Ngân hàng đã quản lý rất tốt nguồn vốn của mình.
Khi xem xét đến dư nợ bảo lãnh, ta cũng cần xem xét trong mối quan hệ với
doanh số bảo lãnh trong năm, thông qua chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ bảo lãnh quá hạn = Dư nợ bảo lãnh quá hạn x100%
Dư nợ bảo lãnh

Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng doanh số bảo lãnh quá hạn trong tổng doanh số


Việc phân loại nợ như thế sẽ giúp cho Ngân hàng trong việc trích lập quỹ dự phòng rủi
ro.
Các chỉ tiêu khác:
- Đa dạng hóa các loại hình bảo lãnh: Ngân hàng càng đa dạng hóa các loại
hình bảo lãnh thì càng thu hút được khách hàng và làm giảm rủi ro cho Ngân hàng, điều
đó thể hiện chất lượng bảo lãnh tốt.
- Tài sản đảm bảo: phải phù hợp, vừa cân đối được lợi ích của khách hàng, vừa
cân đối được sự an toàn cho Ngân hàng.
- Biểu phí: để thu hút được khách hàng thì biểu phí phải mang tính cạnh tranh.
- Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh: phải đơn giản, thuận tiện cho khách hàng và
vẫn đảm bảo tuân theo đúng các quy định của pháp luật cũng như của NHNN.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo lãnh ngân hàng
1.3.1 Trình độ quản lý của NHTM
Trình độ quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến các nhân tố chủ quan khác trong hoạt
động bảo lãnh ngân hàng. Trình độ quản lý tốt sẽ giúp ngân hàng có chiến lược khách
hàng đúng đắn, có chiến lược phát triển phù hợp, hình thành bộ máy tổ chức có cơ chế
vận hành nhịp nhàng; giúp cho việc phân công chức năng nhiệm vụ giữa các phòng một
cách hợp lý, đảm bảo sự phối hợp ăn khớp và hiệu quả giữa các bộ phận nghiệp vụ; giúp
tuyển dụng và lựa chọn được đội ngũ nhân sự có năng lực, trình độ phù hợp. Trình độ
quản lý tốt sẽ giúp cho việc hình thành một hệ thống các văn bản, chế độ phù hợp với quy
định pháp luật, với thực tiễn hoạt động của ngân hàng, thuận tiện và dễ dàng cho các cán
bộ tác nghiệp cho việc vận dụng… Tất cả những vấn đề này sẽ có tác động thúc đẩy sự
phát triển của các hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động bảo lãnh nói riêng. Ngược
lại, nếu trình độ quản lý yếu kém sẽ dẫn đến sự tác động tiêu cực đến toàn bộ các hoạt
động của ngân hàng trong đó có hoạt động bảo lãnh.
1.3.2 Trình độ, năng lực và ý thức của cán bộ nghiệp vụ:

thống nhất với nhau với thực tiễn sẽ có tác động thúc đẩy sự phát triển của hoạt động bảo
lãnh. Ngược lại, nếu các quy định này không rõ ràng, không hợp lý, không nhất quán mà
mâu thuẫn với nhau sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động bảo lãnh, làm phát sinh các
tranh chấp trong hoạt động bảo lãnh mà không có cơ sở giải quyết thỏa đáng.
1.3.6 Ý thức kinh doanh và trình độ nghiệp vụ của các doanh nghiệp
Các giao dịch bảo lãnh đều phát sinh từ các hợp đồng thương mại. Nếu doanh
nghiệp có trình độ sẽ đàm phán và ký kết hợp đồng chặt chẽ, đảm bảo an toàn và hiệu
quả cho hoạt động bảo lãnh. Bên cạnh đó, ý thức của doanh nghiệp trong việc lựa chọn
đối tác tốt, đáng tin cậy cùng sự phối hợp chặt chẽ với ngân hàng có ý nghĩa quyết định.
Nếu ý thức kinh doanh của doanh nghiệp kém, không phân biệt được đối tác gian lận, lừa
đảo, thiếu sự phối hợp chặt chẽ với ngân hàng thì cho dù ngân hàng có cố gắng đến mức
nào khi phát hành bảo lãnh thì cũng rất khó để hạn chế các nguy cơ gian lận, lừa đảo.
1.3.7 Môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng
Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng
như chất lượng khách hàng, ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng dịch vụ của các NHTM.
Môi trường cạnh tranh càng ngày càng gay gắt thì khả năng lôi kéo cũng như giữ chân
các khách hàng có chất lượng, có nhu cầu lớn về dịch vụ ngân hàng càng khó khăn hơn.
Do vậy, nó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển các dịch vụ mà NHTM cung cấp trong đó có
hoạt động bảo lãnh. Ngược lại, môi trường cạnh tranh gay gắt sẽ là sức ép, là động lực để
các NHTM nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường sự tác động tích cực từ các nhân tố
khác.
Ngoài cá các nhân tố kể trên, hoạt động bảo lãnh ngân hàng còn chịu ảnh hưởng từ
nhiều yếu tố khác. Các nhân tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt
động bảo lãnh ngân hàng như tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, các chính sách tiền tệ,
chính sách kinh tế…
Các vấn đề đã trình bày ở trên cho thấy sự cần thiết phải phát triển hoạt động bảo
lãnh ngân hàng. Căn cứ lý luận về bản chất bảo lãnh, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt

170 ngày 12/10/2003 do NHNN cấp. Sau 7 năm đi vào hoạt động, phòng giao dịch đã đi
những bước vững chắc với sự phát triển toàn diện các mặt: Huy động vốn, tăng trưởng
đầu tư và phát nâng cao chất lượng tín dụng, các loại hình dịch vụ, mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại và các loại hình khác. Các chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng là:
Thứ nhất: thực hiện khai thác và nhận các loại tiền gửi của mọi thành phần kinh tế
trong và ngoài nước. Thực hiện các hình thức huy động vốn theo quy định.
Thứ hai: Tiến hành cho vay đối với các cá nhân, tổ chức kinh tế đối với mọi thành
phần kinh tế.
Thứ ba : Thực hiện các nhiệm vụ khác như: Thanh toán trong nước và ngoài nước,
tài trợ ngoại thương, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và tái bảo lãnh, chuyển tiền nhanh
qua mạng vi tính trong phạm vi cả nước và quan hệ mạng swift trên toàn thế giới…
2.1.2 Bộ máy tổ chức
Bộ máy tổ chức của ngân hàng được sắp xếp theo mô hình sau:
Sơ đồ 2.1: Mô hình bộ máy tổ chức Ngân hàng No&PTNT Hà Nội- phòng giao dịch
chợ Hôm 2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng No&PTNT Hà Nội- phòng
giao dịch chợ Hôm
Gần 6 năm đi vào hoạt động, NHNo&PTNT Hà Nội- phòng giao dịch chợ Hôm đã
đóng góp đáng kể vào việc mở rộng mạng lưới hoạt động của ngân hàng, đồng thời đóng
vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của quận Hai Bà Trưng. Được sự quan tâm
chỉ đạo sát sao của ban giám đốc, các khối phòng ban của NHNo&PTNT Hà Nội cùng
với sự đồng lòng quyết tâm, tinh thần trách nhiệm làm việc của CBCNV chi nhánh, trong
Ban giám đốc
Bộ phận ngân
qu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status