TIỂU LUẬN:
Thực trạng hoạt động của công ty
Bảo Hiểm Việt Nam- Bảo Việt
trong thời gian qua Phần I: Lịch sử hình thành và phát triển
I. lịch sử hình thành
Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam- Bảo Việt (tiền thân là Bảo Hiểm Việt
Nam) được thành lập theo quyết định số 179/ CP Ngày 17/12/1964 của Chính
Phủ và chính thức đI vào hoạt động ngày 15/1/1965. Ngày đầu, Bảo Việt có trụ
sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh ở Hải Phòng. Công ty hoạt động chủ yếu
trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, làm đại lý
giám định và xét bồi thườngcho các công ty bảo hiểm nước ngoài khácvề hàng
hệ thống bảo hiểm riêng biệt gồm BHNT và Bảo hiểm phi nhân thọ.
Đầu năm 2001, tiếp tục tách lập 27 công ty BHNT và 5 chi nhánh BHNT ở các
tỉnh khác, nâng tổng số các đơn vị thành viên lên 124 đơn vị. Cũng trong năm
này công ty đã nhận chứng chỉ ISO 9001-2000.
Bảo hiểm nhân thọ Hà Nội là công ty thành viên của Tổng công ty BHNT
Việt Nam phụ trách khối nhân thọ ở khu vực Hà Nội và các quận nội thành và
các huyện lân cận Hà Nội. BHNT Hà Nội tên đầu tiên là công ty BHNT thành
lập 22/6/1996. Hợp đồng BHNT đầu tiên vào 08/1996, đây là công ty dẫn đầu
trong trong lĩnh vực kinh doanh BHNT so các công ty BHNT khác và so ngay
với 61 công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt.
BHNT Hà Nội có hệ thống mạng lưới gồm 22 phòng khai thác khu vực, 90 nhóm
tư vấn thuộc các phòng,1500 đại lý chuyên nghiệp và trên 1000 cộng tác viên.
Ngày 01/01/2004 BHNT thực hiện hạch toán độc lập và trực thuộc Bảo
Việt theo quyết định số 3368/QĐ BTC- 04/02/2003 của Bộ trưởng bộ Tài chính.
Vốn điều lệ của BHNT Hà Nội là 1500 tỷ đồng.
Sự ra đời của Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội được coi như mũi tiên phong của
Bảo Việt “đột phá “ thị trường BHNT Việt Nam với hai sản phẩm BHNT lần
đầu tiên xuất hiện trên thị trường:
+ Bảo hiểm và tiết kiệm thời hạn 5 năm, 10 năm.
+ Bảo hiểm trẻ em.
Từ khi ra đời đến nay đã được 7 năm thì 3 năm đầu, Bảo Việt Nhân thọ Hà
Nội là công ty kinh doanh độc quyền BHNT trên thị trường Hà Nội (trong giai
đoạn từ 1/8/1996 đến 31/12/1998 là độc quyền kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
trên toàn quốc) điều này mang lại cho Công ty những thuận lợi của vị thế độc
quyền trên một thị trường đông dân cư, trình độ dân trí cao, thu nhập cao, nhưng
công ty cũng vướng phải không ít khó khăn mà có lẽ khó khăn lớn nhất là hầu
như dân chúng chưa từng được nghe,chưa từng được nói tới và cũng không biết
một chút gì về BHNT. Nhưng hơn 3 năm sau, tức là từ cuối năm 1999 trở lại đây,
khi những khó khăn ban đầu đã qua, thì công ty lại phải đối mặt với sự cạnh
người lãnh đạo phảI có một kiến thức toàn diện và tổng hợp. Tuy nhiên cơ cấu tổ
chức này có một nhược điểm là không phát huy được tính năng động của nhân
viên nếu gặp phảI sự chuyên quyền, áp đặt của người lãnh đạo trong điều hành
công việc.
Ban giám
đ
ốc
Phòn
g
tổng
hợp
Phòn
g
phát
hành
hợp
đồng
Phòn
g
quản
lý
đại
lý
Phòn
g
quản
lý
hợp
đồng
Đại lý
III. Chức năng và nhiệm vụ của các phòng được quy định như sau:
Giám đốc:
Một giám đốc công ty do hội đồng quản trị Tổng công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm
khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Tổng giám đốc. Giám đốc là người đại
diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Tổng
giám đốc Tổng công ty và trước pháp luật về điều hành hoạt động của Công ty.
Giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất công ty.
Phó giám đốc:
Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội có 2 Phó giám đốc là người giúp Giám đốc điều
hành một số lĩnh vực hoạt động của công ty theo sự phân công của Giám đốc
phân công thực hiện.
Các phòng ban:
Các phòng ban quản lý nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc cho
giám đốc trong quản lý điều hành công việc theo quyết định số
174/BVNT/1998.
Hiện tại công ty có các phòng chức năng sau:
(1) Phòng Tổng hợp: Đây là phòng thực hiện công tác tổng hợp và bao gồm
các chức năng chính :
+ Đảm nhiệm công tác tổ chức cán bộ và lao động tiền lương.
+ Đảm nhiệm công tác hành chính, văn thư.
+ Đảm nhiệm vấn đề pháp chế của doanh nghiệp.
+ Thực hiện việc thi đua khen thưởng.
+ Thực hiện các nhiệm vụ tổng hợp.
(2) Phòng phát hành hợp đồng bảo hiểm:
+ Đánh giá rủi ro để chấp nhận hoặc từ chối bảo hiểm là chức năng quan
trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
+ Phát hành hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng.
+ Giám định Bảo hiểm.
(8) Tổ tin học: Có 2 chức năng chính sau:
+ Quản lý số liệu.
+ Lập trình các phần mềm ứng dụng.
Phần ii: thực trạng hoạt động của công ty BHNT Hà Nội trong thời gian
qua.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của cả nước trong những năm gần
đây, nghành Bảo hiểm Việt Nam nói chung và công ty BHNT Hà Nội nói riêng
tiếp tục có những bước phát triển ổn định và vững chắc. Chúng ta sẽ phân tích sơ
lược về tình hình kinh doanh của công ty BHNT Hà Nội dựa vào một số chỉ tiêu
qua các năm 2000,2001,2002.
Công ty bảo hiểm nhân thọ Hà Nội thành lập được 7 năm, mà chu kỳ của một
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ít nhất là 5 năm (ngoại trừ các hợp đồng có sự cố
bảo hiểm xảy ra khi chưa hết hạn hợp đồng) và có những hợp đông có thời hạn
dài, nên tạm thời ta chưa xét đến chỉ tiêu lợi nhuận mà chỉ chú trọng phân tích
các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí,tình hình phát triển đại lý, tình hình khai thác.
Sau đây là một số chỉ tiêu kết quả kinh doanh của công ty từ 1/1/2000 đến
31/12/2002.
I. Doanh thu phí theo sản phẩm
1. Kết quả hoạt động doanh thu phí theo sản phẩmcủa công ty trong giai đoạn
2000-2002
Loại hình Đơn vị Số liệu theo các năm
2000 2001 2002
Bảo hiểm và tiết
kiệm
NA1,NA2,NA4,NA5 65994150105 84676224769 9593470927
Tổng 114916822082
142956170201
2288099655
51
Nguồn: Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà
Nội Mặc dù sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tuy không phải là mới mẻ đối nhưng cũng không
quá quen thuộc với người dân Hà nội nói riêng và Việt nam nói chung, song ta thấy kết quả
hoạt động kinh doanh trong những năm qua là rất đáng kể, doanh thu năm 2001 cao hơn năm
2000 là 1,24 lần; năm 2002/2001 là 1,6 lần. Điều đó chứng tỏ thị trường bảo hiểm nhân thọ
tại Hà nội còn rất tiềm năng và vẫn đang phát triển . Doanh thu phí theo sản phẩm của Công
ty không ngừng tăng lên qua các năm càng khẳng định tính đúng đắn của việc triển khai các
loại hình bảo hiểm nhân thọ trong toàn dân, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế- xã hội hiện
nay.
Năm 2000 Công ty triển khai 7 loại hình bảo hiểm nhưng trong đó loại hình Bảo hiểm
và tiết kiệm và An sinh giáo dục là thực sự thu hút khách hàng, doanh thu của hai loại hình
này lần lượt chiếm 57,4% và 39,67% tỷ trọng của tổng doanh thu phí theo sản phẩm. Hai loại
hình này phù hợp với tâm lý của người Việt nam hơn vì thời gian tham gia ngắn, phù hợp thị
hiếu khách hàng.
Năm 2001 nhìn chung doanh thu của hai loại hình Bảo hiểm và tiết kiệm và An sinh
giáo dục vẫn chiếm tỷ trọng lớn (59,23%và36,7%). Cũng trong năm này xuất hiện thêm loại
hình Bảo hiểm An khang thịnh vượng, mặc dù các sản phẩm này có nhiều ưu điểm, song do
mới triển khai nên doanh thu chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn(1,59%). Như vậy về cơ bản người
dân Việt nam vẫn ưa dùng các sản phảm bảo hiểm nhân thọ ngắn hạn hơn .
các phương diện như kết quả thu-chi cho ta thấy công ty đã có sự phát tiển rất nhanh qua từng
năm. Sự phát triển này được thể hiện thông qua hoạt động thu của công ty có tốc độ tăng cao.
Cụ thể tổng thu năm 2000 là 15322 triệu đồng đến 2001 là 143454 triệu đồng tức là tăng lên
1,24 lần nhưng đến năm 2002 thì tổng thu đã đạt 229725 triệu đồng tức là đã tăng lên 1,99 lần
so với năm 2000. Sở dĩ đạt được kết quả đó là do sự phấn đấu nỗ lực của toàn bộ công nhân
viên trong công ty, sự hỗ trợ của tổng công ty và đặc biệt là sự tin tưởng của nhân dân thủ đô
đối với BHNT mà cụ thể là công ty BHNT Hà Nội. Đây là dấu hiệu cho thấy tiềm năng phát
triển thị trường BHNT Việt Nam mà công ty cần tiếp tục cố gắng nhằm phát triển hơn nữa
đảm bảo dẫn đầu trong hệ thống các thành viên công ty Bảo Việt Nhân thọ cũng như trên thị
trường BHNT Việt Nam.
Trong hoạt động chi của công ty thì chủ yếu là chi cho hoạt động đáo hạn và chi hoa
hồng. Việc chi hoa hồng chiếm 1 tỷ lệ lớn điều này phù hợp với thực tế khi mà ở tất cả các
quận huyện đều có các phòng khai thác với lực lượng đại lý hùng hậu. Ngoài ra công ty có chính sách chi trả hoa hồng theo quyết định của bộ Tài chính phù hợp với điều kiện cạnh
tranh đảm bảo quyền lợi cho lực lượng đại lý. Việc chi cho quản lý ngày càng giảm nhưng
vẫn đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ của công ty là dấu hiệu cho thấy sự hieẹu quả trong
công tác quản lý mà công ty đã đạt được. Đây là điều rất cần thiết trong điều kiện thị trường
Bảo Hiểm Việt Nam hiện nay.
Nhìn lại sự chênh lệch thu-chi trong các năm qua ngày càng rõ rệt đó là dấu hiệu đáng
mừng của công ty. Mặc dù đó không phải là toàn bộ lợi nhuận mà nó chỉ là một phần nhỏ
trong đó. Điều này xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, đó là
ngoài yếu tố rủi ro nó còn bao gồm cả yếu tố tiết kiệm. Tuy nhiên chênh lệch thu chi tăng lên
cho thấy hoạt động của công ty dần đi vào ổn định và có hiệu quả.
II. tình hình phát triển đại lý
Đại lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong kinh doanh BHNT. Lực lượng đại lý quyết
định trực tiếp tới số lượng hợp đồng mà công ty có được. Do mỗi công ty muốn phát triển thì
việc phát triển và hoàn thiện hệ thống đại lý là điều kiện không thể thiếu. BHNT Hà Nội cũng
luôn mở các lớp đào tạo đại lý ở trung tâm đào tạo Bảo Việt, vì vầy số lượng các đại lý không
những tăng mà trình độ dại lý cũng nâng cao. Cùng với sự phát triển của hệ thống đại lý
chuyên nghiệp thì công ty cũng có được một đội ngũ công tác viên đông đảo, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc khai thác và tìm kiếm khách hàng.
Hiện nay công ty có 22 phòng khai thác khu vực, mở rộng phạm vi hoạt động đến tất cả
các quân huyện nội và ngoại thành. Tạo điều kiện thuận lợi cho đại lý khai thác và người dân
tham gia bảo hiểm.
Việc phát triển lực lượng đai lý mạnh mẽ như vậy tạo điều kiện cho công ty có khả
năng nâng cao trong việc khai thác cạnh tranh. Đội ngũ khai thác chyên nghiệp tăng, tổng phí
bảo hiểm hàng năm đều tăng lên nhanh chóng cho thấy hướng đi đúng của doanh nghiệp.
Bảng 4: Tình hình khai thác của công ty BHNT Hà Nội
Năm Đơn vị 2000 2001 2002
Số hợp đồng đang có
hiệu lực
HĐ 65169 81378 95931
Doanh thu phí khai
thác mới
Đồng 54427543936 52280451000 80040002234
Hợp đồng khai thác
mới
HĐ 26397 23978 21330
Số hợp đồng huỷ HĐ 3545 4363 5083
tàng vì đây là nơi tập trung hàng nghìn các cơ quan, bộ, ngành, đơn vị, trường học, bệnh viện
của trung ương và nhiều doanh nghiệp lớn đóng trên địa bàn. Số người có thu nhập dư dật
chiếm tỷ lệ cao và ngày càng tăng nhanh, họ có nhu cầu tích luỹ và đảm bảo cho tương
lai.Đồng thời đây còn nơi tập trung có dịp sống, công tác, lao động và học tập ở nước ngoài,
hơn nữa, lực lượng người nước ngoài sống và làm việc tại Hà Nội cũng rất lớn. Những người
này đã được tiếp xúc với bảo hiểm nhân thọ và họ có sự hiểu biết về loại hình sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ này.
Phần iii: Phương hướng Nhiệm vụ năm 2004
I. Đặc điểm tình hình:
1. Thuận lợi:
Năm 2004, là năm đầu tiên trong lộ trình phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến
năm 2010.
Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế thủ đô vẫn được duy trì ở mức cao.
Với Quyết định số 3668/QĐ/BTC của Bộ Tài chính về việc thành lập Bảo Việt Nhân
Thọ Việt Nam. Hoạt động BHNT của Bảo Việt sẽ có bước phát triển mới.
2. Khó khăn:
Các Ngân hàng vẫn sẽ tiếp tục có nhiều hình thức huy động vốn. Lãi suất tiền gửi và giá
ngoại tệ được dự báo sẽ tăng lên trong thời gian tới.
Các Công ty BHNT khác cũng sẽ có những bước củng cố chất lượng dịch vụ và tăng
cường sức cạnh tranh.
Cùng với nhận thức về BHNT được nâng cao, khách hàng có yêu cầu cao hơn cả về sản
phẩm và chất lượng phục vụ.
Để duy trì được tốc độ tăng cường cao, giữ vững thị phần, Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội
quyết tâm thực hiện phương châm của Tổng Công ty "Đổi mới, Tăng trưởng, Hiệu quả" bằng
các mục tiêu và biện pháp sau đây:
II. Mục tiêu của Công ty năm 2004:
1. Phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch 205 tỷ đồng phí bảo hiểm, tỷ lệ thu phí đạt
hàng đánh giá hiệu quả Ngân hàng của đội ngũ bán chuyên nghiệp, cộng tác viên; Xây dựng
cơ chế hỗ trợ các phòng bám sát địa bàn, quan hệ với chính quyền địa phương; Có chế độ
thưởng khuyến khích khai thác, tuyển dụng trên địa bàn được phân công.
- Củng cố mạng lưới đại lý tại 5 huyện ngoại thành; tăng cường quan hệ với chính
quyền cấp huyện, thúc đẩy phát triển hoạt động của nhóm kinh doanh tại các xã, tuyển người
tại xã nhằm thực hiện mục tiêu bám sát địa bàn và thuận tiện cho việc sinh hoạt của đại lý. 2. Nhóm các biện pháp dịch vụ khách hàng:
2.1. Công tác đánh giá rủi ro và phát hành hợp đồng:
Tiếp tục thực hiện tốt các quy định về đánh giá rủi ro, phấn đấu kiểm tra sức khoẻ đạt
tỷ lệ tối thiểu là 20% trên tổng số khách hàng tham gia BHNT. Thường xuyên kiểm tra, giám
sát việc thực hiện hợp đồng khám bệnh của các TTYTế nhằm đảm bảo chất lượng khám và
phục vụ tốt khách hàng của Công ty. Liên hệ ký thêm hợp đồng khám bệnh với các TTYTế ở
khu vực Thanh Trì. Sóc Sơn. Đào tạo bồi dưỡng nâng cao kiến thức đánh giá rủi ro ban đầu
cho tư vấn viên; Thưởng kịp thời với những tư vấn viên tốt cũng như kiên quyết phê bình
đối với tư vấn viên thiếu trách nhiệm, cố tình làm sai quy định.
2.2.Công tác chăm sóc khách hàng:
- Lập kế hoạch các chương trình chăm sóc khách hàng và có sự phân công trách nhiệm
giữa Công ty, các Phòng khai thác và cá nhân tư vấn viên. Định kỳ tổng hợp kết quả rút kinh
nghiệm và điều chỉnh, xử lý kịp thời. Phân loại khách hàng để chăm sóc. Tạo nên một bước
phát triển mới của Công ty trong công tác dịch vụ khách hàng.
- Giải quyết tốt các yêu cầu của khách hàng liên quan đến hợp đồng bảo hiểm. Phối
hợp tốt với bộ phận xác minh để giải quyết nhanh chóng các yêu cầu bồi thường. Tổ chức
thanh toán đầy đủ, kịp thời và thuận tiện cho khách hàng có hợp đồng đáo hạn, tăng tỷ lệ tái
tục hợp đồng.
- Duy trì việc tổ chức gặp mặt khách hàng kết hợp khai thác theo khu vực. Đề xuất tổ
chức gặp mặt khách hàng ở địa bàn trọng điểm với mục đích trao đổi, lắng nghe ý kiến đóng
góp của khách hàng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ BHNT. Định kỳ hàng tháng tổ chức
thăm dò 100 khách hàng , 6 tháng tổ chức thăm dò khách hàng theo chỉ định của Tổng công
lý hoàn thành tốt công việc.
Mục lục
Phần i: lịch sử hình thành và phát triển của công ty BHNT Hà Nội
I. Lịch sử hình thành của công ty BHNT Hà Nội
II. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
III. Chức năng hoạt động của các phòng ban
Phần ii. Thực trạng hoạt động của công ty trong thời gian qua
I. Doanh thu phí theo sản phẩm
II. Tình hình thu- chi
III. Tình hình phát triển đại lý
Phần iii. Phương hướng nhiệm vụ năm 2004
i. Đặc điểm tình hình
1. Thuận lợi
2. Khó khăn
II. Mục tiêu của công ty năm 2004
III. Những biên phát cơ bản thực hiện kế hoạt kinh doanh năm 2004
1. Nhóm các biện pháp tăng cương khai thác và hỗ trợ khai thác
2. Nhóm các biên pháp dịch vụ khách hàng
3. Nhóm các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý