TIỂU LUẬN: Ứng dụng Marketing – Mix nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả của công ty vật tư Bưu điện I - Pdf 12

TIỂU LUẬN:

Ứng dụng Marketing – Mix nhằm thúc
đẩy tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao
hiệu quả của công ty vật tư Bưu điện I Mở đầu

Tại sao chữ Marketing được sử dụng như một ngôn ngữ bản địa vậy?
Phải chăng ngày nay Marketing đang len lỏi vào từng ngóc ngách cuộc sống của
mỗi người chúng ta? Đúng vậy bạn luôn phải tiếp xúc với với một dạng Marketing.
Khi bạn ăn, bạn vui chơi giải trí, bạn đi đường. Dù trực tiếp hay gián tiếp các nhân
viên tiếp thị, các biển quảng cáo, các thông tin quảng cáo trên tivi, tạp chí luôn
không để bạn không thể không để ý tới.
Với nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay, với xu hướng mở cửa hội
nhập nền kinh tế thế giới, thì Marketing thực sự cần thiết đối với mọi doanh nghiệp.
Vì chính marketing là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của
chính doanh nghiệp.
Như các doanh nghiệp khác, công ty vật tư Bưu điện I cũng coi Marketing là
nhân tố quan trọng trong tiến trình hoạt động và phát triển của mình.
Do vậy sau một thời gian thực tập tại công ty vật tư Bưu điện I, qua nghiên

Sản phẩm, theo Philip Kotle thì sản phẩm (hàng hoá) là tổng hợp mọi sự thoả
mãn nhu cầu hay mong muốn của người tiêu dùng và được bán trên thị trường với
mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng của họ. Đó có thể là những
vật thể hữu hình, dịch vụ, mặt bằng, tổ chức và ý tưởng.
Giá cả: là tổng số tiền mà người tiêu dùng phải trả để có được quyền sở hữu
hay quyền sử dụng sản phẩm.
Phân phối: là hoạt động để sản phẩm dẽ dàng đến tay người tiêu dùng.
Xúc tiến: là những hoạt động của công ty nhằm truyền bá những thông tin về
ưu điểm của sản phẩm do mình sản xuất và thuyết phục khách hàng mua chúng.
1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm
Bất kỳ sản phẩm nào được tung ra thị trường đều không thể tồn tại mãi mãi ở
thị trường đó, theo thời gian sản phẩm đó giảm dần doanh số bán và rút khỏi thị
trường. Quá trình từ khi sản phẩm xuất hiện trên thị trường đến khi nó rút ra khỏi
thị trường đó được gọi là chu kỳ sống của sản phẩm và được biểu diễn qua đồ thị
phản ánh doanh số bán như sau :

Sơ đồ 1


TR

Sơ đ
ồ chu kỳ sống của Các kênh phân phối có các chức năng sau:
- Nghiên cứu thu thập thông tin để lập kế hoạch và tạo thuận lợi cho tiêu thụ
sản phẩm.
- Kích thích tiêu thụ : soạn thảo truyền bá những thông tin về sản phẩm.
- Thiết kế mối liên hệ: tạo dựng và duy trì mối quan hệ với người mua tiềm
ẩn.
- Hoàn thiện sản phẩm: làm sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
-Thương lượng : thoả thuận với nhau về giá cả và những điều kiện khác để
thực hiện bước tiếp theo là chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng.
- Tổ chức lưu thông hàng hoá : vận chuyển bảo quản và dự trữ.
- Đảm bảo kinh phí : tìm kiếm và sử dụng các nguồn vốn để bù đắp các chi
phí hoạt động của kênh.
- Chấp nhận rủi ro : gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của kênh tiêu thụ.

2) Vai trò của Marketing đối với tiêu thụ sản phẩm.

ấp 0

1 c
ấp

2 cấp
3 c
ấp
yếu và phản ứng của họ. Từ những dữ liệu thu được nhà quản trị sẽ xây dựng các
chính sách Marketing-mix : chính sách sản phẩm, chính sách phân phối, chính sách
giá cả, chính sách xúc tiến khuyếch trương nhằm định hướng cho công tác tiêu thụ
sản phẩm.
Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thông qua việc lôi kéo khách hàng tham gia vào
các kênh phân phối bằng các hoạt động xúc tiến khuyếch trương.
Chính sách sản phẩm là định hướng cho hoạt động sản xuất tạo nguồn hàng
cho tiêu thụ.
Chính sách giá sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ nhân viên bán hàng và
phát huy tính linh hoạt của họ trong quá trình hoạt động. Nếu chính sách giá linh
động sẽ thu hút các trung gian tham gia vào các kênh phân phối.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung vai trò của Marketing rất mờ nhạt
vì mọi hoạt động tiêu thụ sản phẩm đều do Nhà nước điều khiển từ việc bán cái gì,
bán cho ai và ở đâu đến việc bán như thế nào. doanh nghiệp chỉ việc sản xuất và
cung cấp sản phẩm theo sự chủ đạo ssó mà không cần phải lo lắng về số phận của
sản phẩm đó sẽ ra sao. Trong nền kinh tế thị trường mọi quyết định về sản xuất kinh
doanh đều thuộc về phía doanh nghiệp, trên thị trường các doanh nghiệp này tự tìm
con đường sống cho mình, cạnh tranh là tất yếu. Lúc đó Marketing có vai trò không
thể thiếu được trong các quyết định quản trị.

chất lượng sản phẩm. Còn khách hàng là các cơ quan đơn vị thì yếu tố quyết định
lại là chất lượng sản phẩm, người phân phối lại quan tâm đến những khoản lợi mà
họ thu được khi tham gia các kênh tiêu thụ.
3.3 Các đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh tạo ra sự sôi động của thị trường, làm cho mức độ
cạnh tranh tăng thêm tính gay gắt. Các hãng cùng tham gia vào một thị trường có
ảnh hưởng rất lớn đến các mục tiêu chiến lược, cách thức kinh doanh của nhau.
Khi có nhiều sự gia nhập mới doanh nghiệp phải xem xét lại các mục tiêu
của mình, mỗi hoạt động của đối thủ phải được xem xét một các kỹ lưỡng từ đó
vạch ra đường đi cho mình. Doanh nghiệp sẽ phản ứng ra sao nếu đối thủ hạ giá bán
hay tăng chi phí quảng cáo. Cả hai hành động đó đều có nguy cơ làm giảm thị phần
của doanh nghiệp. Với mỗi hành động như thế doanh nghiệp có thể phòng thủ đến
cùng có thể phản công dữ dội hay yên lặng nghe ngóng.
3.4 Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng của nhân tố này là tạo ra sự thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động tiêu
thụ. Nó kìm hãm khi tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp, khi nó không phù
hợp với các qui luật tự nhiên chẳng hạn nhân tố luật pháp nếu có không đồng bộ,
không chặt chẽ sẽ gây sự bất ổn của thị trường. Nó thúc đẩy khi tạo ra những thuận
lợi cho doanh nghiệp .
ii) Nội dung của tiêu thụ sản phẩm
Nội dung quan trọng nhất của Marketting là định hướng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh, trong tiêu thụ sản phẩm nó tìm cách làm thế nào để bán được
hàng. Vì vậy trong phần này khi đề cập đến nội dung của tiêu thụ sản phẩm ta xem
xét các vấn đề : Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra kiểm soát và điều
chỉnh. Trong đó công tác xây dựng kế hoạch có vai trò quyết định đến hiệu quả của
tiêu thụ sản phẩm.
Các cô cậu học trò thích trưng diện những chiếc quần bò mác "Kavin Klein"
nhưng không phải tất cả họ đều được thoả mãn mong ước của mình bởi các sản
phẩm này giá thường rất cao trong khi khả năng tải chính của họ lại có hạn.
b) Phân tích cung (các đối thủ cạnh tranh)
Binh pháp Tôn Tử viết “biết mình biết người đánh trăm trận trăm thắng”,
việc phân tích các đối thủ cạnh tranh chính là tìm cách để biết người, những người
đang và sẽ cung cấp các sản phẩm giống như của doanh nghiệp trên thị trường,
những người cũng đang tìm mọi cách để hiểu người khác, hiểu thị trường như mình.
Tất cả những việc cần làm là tìm hiểu xem đối thủ của mình là ai ? chiến
lược của họ như thế nào ? đâu là điểm mạnh, điểm yếu của họ ? và cách thức họ
phản ứng ra sao ?
Có nhiều người cho rằng việc phát hiện các đối thủ cạnh tranh là một nhiệm
vụ đơn giản, dễ dàng thấy được rằng trên thị trường nước giải khát không chỉ có
Coca cola mà còn pepsi và nhiều hàng khác, không khí có song mà rất nhiều hãng
như Toshiba, Samsung, Daewoo cung cấp các sản phẩm điện tử.
Những đối thủ dẫ thấy chỉ là những đối thủ hiện tại còn các đối thủ tiềm ẩn
thì việc phát hiện ra họ không dễ dàng chút nào, chẳng khác gì người ta đứng ở chỗ
sáng tìm một vật trong bóng tối. Nhiệm vụ của người Marketing là phải vén bức
màn tối đó, đây là công việc rất quan trọng và tốn kém.
1.2 Đánh giá năng lực của sản suất doanh nghiệp. Phần trước chúng ta đã đề cập đến công việc của doanh nghiệp làm để biết
người, bây giờ là phần doanh nghiệp tìm cách để biết mình thông qua đánh giá năng
lực sản xuất.
a) Đánh giá năng lực sản xuất hiện có.
Đánh giá năng lực sản xuất hiện có là tiền đề để các nhà quản trị gia các
quyết đinh quản trị tác nghiệp và kế hoạch sản phẩm, trước hết ta phải xác định
được các nguồn lực hiện có và các nguồn khai thác các nguồn lực đó.
Khi đề cập đến năng lực sản xuất của doanh nghiệp nhiều người cho rằng đó

nghiệp thấy rõ ưu nhược điểm của từng kênh tiêu thụ thông qua đánh giá việc thực
hiện các chỉ tiêu kế hoạch và khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thi trường của từng
kênh đó. Để từ đó trong công tác xây dựng kế hoạch doanh nghiệp sẽ quyết định
thay đổi, điều chỉnh các kênh đó hay không ? có nên thiết lập các kênh mới hay
không ? và thiếp lập như thế nào ? có một số khó khăn gặp phải khi đánh giá hiệu
quả của từng kênh là các kết quả đạt được chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố đòi
hỏi người phân tính phải lượng hoá chúng mà việc này không dễ dàng chút nào.
Trong thực tế nhiều khi các kênh tiêu thụ lại có vai trò thúc đẩy lẫn nhau, việc duy
trì một kênh này chỉ nhằm để hỗ trợ cho các kênh khác.
Sau khi có đầy đủ các thông tin cần thiết về thị trường và doanh nghiệp, các
nhà quản trị sẽ đề ra các mục tiêu cần đạt được trong việc tiêu thụ sản phẩm và xây
dựng hệ thống chính sách Marketing – Mix : chính sách sản phẩm, chính sách phân
phối, chính sách giá cả và chính sách xúc tiến khuyếch trương.
Chính sách sản phẩm đòi hỏi phải thông qua những quyết định phù hợp với
nhau về từng đơn vị sản phẩm, chủng loại sản phẩm và danh mục sản phẩm .
Sản phẩm chào bán cho người tiêu dùng được xem xét dưới mức độ ba mức :
Sản phẩm theo ý tưởng dự án - đó là dịch vụ cơ bản mà thực tế người mua có
được. Sản phẩm thực là sản phẩm được đem ra bán với tính chất, cấu hình bên
ngoài, chất lượng nhất định, tên và bao gói. Sản phẩm hoàn chỉnh là sản phẩm hiện
thực kèm theo các dịch vụ bán hàng. Ngày nay người ta quan tâm nhiều đến khái
niệm sản phẩm hoàn chỉnh vì vậy trong chính sách sản phẩm cần phải quyết định
các hình thức dịch vụ, cách thực hiện và mức độ thực hiện các dịch vụ đó.
Ngoài ra, trong chính sách sản phẩm quyết định việc thiết kế sản phẩm mới
cũng là một quyết định quan trọng vì nó liên quan đến việc đổi mới trong doanh
nghiệp. Khi đưa ra quyết định này cần phải cân nhắc kỹ lưỡng dựa trện các kết quả
nghiên cứu thị trường vì nó mang tính rủi ro cao. Chính sách phân phối : Những quyết định về lựa chọn các kênh phân phối là
những quyết định trong số các quyết định quan trọng và phức tạp nhất mà doanh

Nếu đối tượng là trẻ nhỏ thì các chương trình phải sử dụng các hình ảnh, nhân
vật ngộ nghĩnh sống động phù hợp với lứa tuổi của các em, phương tiện ở đây chủ
yếu là truyền hình trên các kênh dành cho thiếu nhi. Còn đối tượng là các doanh
nghiệp thì các chương trình chủ yếu là các báo tạp chí, chuyên ngành
b) Chuẩn bị các phương tiện trợ giúp.
Các phương tiện trợ giúp bao gồm các phương tiện vận tải, các phương tiện dự
trữ, bảo quản. Nó đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ được liên tục không
gián đoạn. chu kỳ của quá trình sản xuất tiêu thụ không hoàn toàn trùng nhau,
không phải sản phảm nào sản xuất ra cũng bán được ngay, không phải sản xuất lúc
nào cũng đáp ứng ngay được nhu cầu tiêu thụ. Để cho hai quá trình diễn ra liên tục
và nhịp nhàng thì dữ trữ đóng vai trò rất quan trọng, nhất là đối với các sản phẩm
tiêu thụ có tính chất mùa vụ.
Vận chuyển được chia làm hai loại đó là vân chuyển nội bộ và vận chuyển
bên ngoài :
Vận chuyển nội bộ là sự vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến kho thành phẩm
. Các phương tiện vận tải nội bộ bao gồm các phương tiện thông thường như ô tô
và các phương tiện chuyên dụng : như xe đẩy, băng truyền , ray…
Vận chuyển bên ngoài là hoạt động vận chuyển liên quan đến khách hàng , là
một khâu trong công tác tiêu thụ sản phẩm ( dịch vụ bán hàng ) . Phương tiện vận
tải chủ yếu là các phương tiện thông thường : Như ôtô , đường sắt , đường thuỷ …
2.2 Tổ chức tiêu thụ
a) Xây dựng hệ thống kênh phân phối :
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và đặc điểm của sản phẩm mà ta xây dựng
hệ thống kênh tiêu thụ khác nhau . Không thể áp dụng kênh của doanh nghiệp sản
xuất cho kêng của doanh nghiệp thương mại. Các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo
không thể sử dụng một loại kênh giống doanh nghiệp sản xuất ô tô; Toyota chủ yếu
là bán hàng trực tiếp còn Hải hà bán các sản phẩm bánh kẹo thông qua các trung
gian. Các doanh nghiệp có xu hướng rút ngắn các kênh tiêu thụ nhằm giảm các chi
phí bán hàng . Nhưng do đặc điểm địa lý họ vẫn duy trì các cấp trung gian trong
kênh quản lý của mình . Khi xây dựng hệ thống kênh tiêu thụ , doanh nghiệp cần

Vai trò của những người này rất quan trọng tromg việc giao tiếp , ký kết các hợp
đồng mua bán . Một doanh nghiệp dù có kế hoạch tiêu thụ hoàn hảo , hệ thống kênh
tiêu thụ tối ưu cùng với trang htiết bị bán hàng hiện đại nhưng lại có đội ngũ nhân
viên bán hàng kém cỏi thì kết quả tiêu thụ sẽ không cao .Tất cả các hoạt động xúc tiến chỉ nhằm kéo khách hàng đến với các cửa hàng còn việc thuyết phục họ mua
hàng lại là công việc của các nhân viên bán hàng .
Để có đội ngũ nhân viên bán hàng tốt thì công tác tuyển dụng đóng vai trò
hết sức quan trọng . Việc lựa chọn một nhân viên bán hàng không hoàn toàn giống
việc lựa chọn một nhân viên văn phòng hay kỹ thuật , nhân viên bán hàng đòi hỏi
kỹ năng giao tiếp, thuyết phục cao.
Sự bố trí, sắp xếp hợp lý những người được tuyển dụng cùng với chính sách
khen thưởng kịp thời là nhân tố phát huy hết khả năng của họ, Người Nhật đã rất
thành công trong lĩnh vực này, đôi ngũ nhân viên bán hàng của các Công ty Nhật
bản luôn được đánh giá rất cao.
Các quyết định quản trị bán hàng mang những đặc trưng riêng . Trong quản
trị tác nghiệp người ta cần những quyết định có tính chính xác cao thì trong bán
hàng lại cần các quyết định mang tính định hướng , vì nhân viên bán hàng là người
hiểu rõ khách hàng và những yêu cầu của họ , kinh nghiệm và những linh cảm nghề
nghiệp của các nhân viên bán hàng này có tác động rất lớn đến việc thuyết phục
khách hàng .
2.3 Tổ chức các hoạt động sau bán hàng
Đây là các hoạt động nhằm hoàn thiện sản phẩm , tăng uy tín của doanh
nghiệp . Nhiều sản phẩm chiếm được lòng tin của khách hàng nhờ thái độ nhiệt tình
, dịu dàng của đội ngũ nhân viên bán hàng , có sản phẩm tạo được uy tín nhờ các
dịch vụ sau bán hàng. Cùng hoạt động trong thị trường hoá chất ở Mỹ nhưng
Monsanto đã vượt lên Dupon và Union Cabip nhờ đội ngũ bán hàng và các chuyên
viên kỹ thuật nhiệt tình, lịch sự. Ngược lại có những doanh nghiệp gây nên sự giận
dữ của khách hàng khi họ không thực hiện đúng những lời hứa của mình, nhiều bậc

những quyết định điều chỉnh thích hợp. Nếu nguyên nhân của những khuyết tật nằm
ở khâu lập kế hoạch thì cần xem xét lại các mục tiêu đã đề ra, còn nguyên nhân nằm
ở khâu thực hiện thì cần tìm hiểu cách thức triển khai các biện pháp kế hoạch đã
hợp lý chưa, môi trường kinh doanh có gì biến động không?
Mục đích của điều chỉnh không phải để giải quyết những hậu quả đã xẩy ra
mà để tránh những hậu qủa tương tự trong tương lai.
Tiếp cận với tiêu thụ sản phẩm theo quan điểm Marketing không phải là tìm
hiểu xem nên tiêu thụ sản phẩm như thế nào mà là làm thế nào để tiêu thụ được sản
phẩm. Do vậy chuyên đề này đề cập đến trong công tác lập kế hoạch tiêu thụ chính là việc xây dựng các chính sách Marketing-mix : chính sách sản phẩm, phân phối,
giá cả và xúc tiến.
Chương II
phân tích tình hình Marketng – Mix
và tiêu thụ sản phẩm của công ty vật tư Bưu điện I.

I) tổng quát về công ty vật tư Bưu điện I :
1) Quá trình hình thành và phát triển:
Cùng với hình thành và phát triển của nghành Bưu điện tổ chức kinh doanh
cung ứng vật tư Bưu điện cũng được hình thành, tồn tại và phát triển.
- Ngày 14/11/1978 Tổng cục Bưu điện có quyết định số 564/QĐ thành lập
cục vật tư Bưu điện (Trước đó là cục cung ứng vật tư Bưu điện).
- Ngày 21/06/1980 Tổng cục vật tư có quyết định số1074/QĐ giải thể cục vật
tư Bưu điện thành lập công ty vật tư Bưu điện có trức năng cung ứng vật tư, thiết bị
thông tin cho toàn ngành Bưu điện (Riêng phân bố chỉ tiêu trước đây do cục vật tư
đảm nhiệm nay giao sang vụ kế hoạch tổng cục Bưu điện).

- Thiết bị toàn bộ, thiết bị chuyển mạch (các loại tổng đài) thiết bị truyền dẫn
(hữu tuyến vô tuyến, vệ tinh). Thiết bị đầu cuối (điện thoại, điện toán, telex, truyền
số liệu, video tex, tìm gọi hệ thống kiểm soát, rada) công trình thiết bị toàn bộ.
- Các dây chuyền và nhận chuyển giao công nghệ lắp ráp SKD, CKD, IKD,
viba số, các loại tổng đài, máy điện thoại, các loai máy dùng trong Bưu chính viễn
thông và phát thanh truyền hình, các loại dây dẫn thông tin, phụ tùng linh kiện thay
thế cho ngành Bưu điện và các ngành khác.
- Phương tiện dùng trong thông tin: xe vận tải chuyển thư báo, các loại xe đo,
xe xếp dỡ hàng.
- Kinh doanh mua bán thiết bị vật tư Bưu chính viễn thông và phát thanh
truyền hình nội địa. c) Mục đích và phạm vi kinh doanh của công ty.
Mục đích của công ty là thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh và
dịch vụ nhằm đem lại lơi nhuận cho công ty, phục vụ cho sự phát triển ngành bưu
điện viễn thông trong cả nước, mở rộng và đưa tiến bộ khoa học công nghệ mới vào
mạng lưới thông tin Bưu điện,cung cấp kịp thời có hiệu quả các lợi vật tư thiết bị, nguyên vật liệu trong ngành Bưu điện : phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, tăng thu
ngoại tệ cho Nhà nước góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Về kinh doanh và dịch vụ trong nước:
* Nhận cung ứng vật tư, linh kiện, phụ tùng thiết bị thông tin liên lạc theo
yêu cầu của khách hàng.
* Dịch vụ tư vấn kỹ thuật bao gồm :
- Tham gia ý kiến, kiểm tra kỹ thuật các đồ án thiết kế, các phương án thi
công các công trình thông tin.
- Dịch vụ thầu một phần hoặc toàn bộ các công việc.
+ Xây dựng đồ án, thiết kế kỹ thuật, thi công xây lắp, đào tạo vận hành, duy

tâm kinh
doanh I

Trung
tâm kinh
doanh II
Trung
tâm kinh
doanh IV

Trung
tâm kinh
doanh V

p.nghiệp
vụ pháp
ch
ế

p.kế
hoạch KD
XNK

p.kế
toán tài
chính
p.tổ
chức
hành
p.giám

Lim)
Chức năng các bộ phận :
3.1 Giám đốc :
Là người đứng đầu Công ty điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ
chức hành chính và mọi hoạt động khác theo chế độ thủ trưởng, chịu trách nhiệm
trước luật pháp trước Tổng Công ty về điều hành và tập thể cán bộ công nhân viên
trong công ty.
3.2 Phó giám đốc :
Phó giám đốc nội chính giúp việc cho Giám đốc , phụ trách mảng hành
chính, phó giám đốc kinh doanh: chịu trách nhiệm về công tác kinh doanh nội địa
3.3 Phòng tổ chức hành chính :
Tổ chức hoạt động nhân sự của Công ty : Tuyển dụng lao động , giải quyết
các chế độ chính sách người lao động nghỉ việc , nghỉ hưu. Chịu sự quản lý của
Giám đốc và phó giám đốc.
3.4 Phòng Tài chính Kế toán :
Giúp Giám đốc quản lý tài chính của Công ty , ghi chép , cân đối nguồn vốn ,
phân tích lỗ lãi , chịu sự quản lý của giám đốc.
3.5 Phòng kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩu :
Do Giám đốc quản lý , thực hiện các nhiệm vụ về kế hoạch và lập kế hoạch,
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu , khi có nhu cầu hàng hoá trong hoạt động
kinh doanh thì phòng là đơn vị trực tiếp chọn đối tác nước ngoài , tổ chức đàm phán
, ký kết hợp đồng , theo dõi , đôn đốc việc thực hiện hợp đồng , tổng hợp , báo cáo
các kết quả hoạt động kinh doanh và xuất nhập khẩu của Công ty .
3.6 Phòng nghiệp vụ pháp chế ngoại thương :
Với chức năng giúp lãnh đạo trong đàm phán ký kết hợp đồng với nước
ngoài , theo dõi đôn đốc thực hiện hợp đồng , làm thủ tục tiếp nhận hàng hoá tại sân
bay , bến cảng và giao cho bên nhận hàng. Nhiệm vụ chính là thực hiên các hợp

điện. * Đặc điểm ảnh hưởng của ngành
Ngành Bưu điện là ngành được Nhà nước ưu tiên phát triển với các chiến
lược phát triển tăng tốc, đặt ra nhiều mục tiêu phấn đấu trong tương lai ngắn hạn, để
tìm cách phát triển thông tin rộng khắp đến tất cả các huyện, xã, vùng sâu, vùng xa
(100% số xã trên toàn quốc có máy điện thoại). Để thực hiện mục tiêu trên trong những năm qua Nhà nước đầu tư rất nhiều cho các doanh nghiệp trong ngành. Đây
là thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp. Các sản phẩm trong lĩnh vực bưu chính viễn
thông được cung cấp bởi các doanh nghiệp trong ngành thông qua sản xuất hoặc
nhập khẩu. Với chiến lược phát triển tăng tốc của ngành Bưu điện thì thị trường
cho các doanh nghiệp như công ty vật tư Bưu điện I sẽ được mở rộng. Cầu sẽ tăng,
đặc biệt là cầu cho máy điện thoại, cầu về các loại cáp, cầu về các tổng đài dung
lượng lớn, nhỏ .v.v… Đây là cơ hội tốt cho công ty vì Công ty vật tư Bưu điện I
thực hiện chức năng xuất nhập khẩu các thiết bị Bưu điện.
Trong những năm tới Việt Nam sẽ chính thức gia nhập AFTA, thì mức độ
cạnh tranh trong ngành sẽ trở lên khốc liệt hơn, do có chính sách thuận lợi trong
nhập khẩu cho một số công ty nước ngoài đang có ý định tham gia vào thị trường
Việt Nam. Để trụ vững được công ty cần có sự thay đổi về cách nhìn và cách nghĩ,
trong vấn đề kinh doanh ngay từ bây giờ để có thể thích ứng với hoàn cảnh đó.
Từ nhận thức trên công ty luôn có sự thay đổi về cơ cấu quản lý, đào tạo cán
bộ, hoàn thành và nâng cao hiệu quả hoạt động của các phòng ban trong doanh
nghiệp.
* Đặc điểm của công nghệ
Sản phẩm của công ty chủ yếu là những sản phẩm chuyên dụng trong lĩnh
vực bưu chính viễn thông, có hàm lượng công nghệ cao nên đòi hỏi các cán bộ kỹ
thuật, bộ phận làm công tác xuất nhập khẩu cũng như phòng kế hoạch phải luôn

* Đặc điểm của nhà cung cấp
Do mật độ các nhà cung cấp các thiết bị bưu chính viễn thông trong khu vực
và thế giới nhiều, do vậy việc lựa chọn một nhà cung cấp thích hợp và cố định là
tương đối khó. Do đó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ và nhu cầu của thị trường mà công
ty lựa chọn các nhà cung cấp cho phù hợp và có lợi.
Sau đây là danh sách một số nhà cung cấp đã có quan hệ kinh doanh với
công ty:
+ Pháp : ALCATELTELECOM, ALCATELTELESPACE, JS TELECOM,
SAT…
+ Nhật : NTT, FUITSU, NISSHO IWAI, NEC, MITSUI, PANASONIC,
SANYO, TOMEN MEIWA…
+ Hàn quốc : LG, SAMSUNG, HYOSUNG, DEASUNG.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status