TIỂU LUẬN: Thực trạng và giải pháp nhằm sử dụng lao động hiệu quả ở Xí nghiệp xây dựng công trình – Tổng công ty xây dựng đường thuỷ doc - Pdf 12

TIỂU LUẬN:

Thực trạng và giải pháp nhằm sử dụng
lao động hiệu quả ở Xí nghiệp xây dựng
công trình – Tổng công ty xây dựng
đường thuỷ
Phần thứ nhất
Đặt vấn đề
1.1. tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau 16 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta có sự phát triển đáng kể và đạt được những
thành quả to lớn cả về kinh tế và xã hội. Những thành quả hiện nay đạt được phải kể đến vai
trò rất lớn của nguồn lao động. Lao động trước hết là yếu tốt con người cho nên nó là yếu tố
trung tâm của mọi xã hội. Lao động là yếu tố không thể thiếu được trong mọi quá trình sản
xuất ra của cải vật chất cũng như tinh thần phục vụ cho mọi nhu cầu của xã hội. Lao động
có năng suất và hiệu quả là nhân tố quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra,
trong quá trình sản xuất con người luôn tìm tòi học hỏi để nâng cao năng suất lao động, cải
tiến các công cụ lao động, sáng tạo ra công cụ mới, tư liệu thay thế tốt hơn. Như vậy, các
sản phẩm sản xuất ra ngày càng đa dạng hơn, tiến bộ hơn cả về số lượng và chất lượng, các
công cụ lao động, thiết bị máy móc ngày càng hiện đại hơn, tinh vi hơn, các nguồn tài

người lao động. Việc làm đó không chỉ là vấn đề giải quyết sự phát triển của nền kinh tế xã
hội trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà còn góp phần bình ổn xã
hội, giải quyết các mâu thuẫn, các tệ nạn trong xã hội do nạn thất nghiệp gây ra.
Thực tế Xí nghiệp xây dựng công trình – Tổng công ty xây dựng đường thuỷ là Xí
nghiệp mới thành lập, chế độ quản lý lao động còn gặp nhiều khó khăn, nằm trong tình
trạng chung của các doanh nghiệp thời kỳ đầu phát triển, không tránh được những lúng túng
trong sản xuất kinh doanh nói chung và công tác tổ chức quản trị lao động nói riêng. Nhìn
chung, sau khi thành lập đến nay thu nhập của người lao động thấp, đời sống vật chất cũng
như tinh thần của cán bộ công nhân viên chưa được quan tâm đúng mức. Sau những nỗ lực
to lớn của lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp, tình hình chung của
xí nghiệp có nhiều chiều hướng phát triển. Để tồn tại và phát triển ổn định thì ban lãnh đạo
Xí nghiệp cần tiến hành nhiều đổi mới, đổi mới cách tổ chức và quản lý lao động, đổi mới
cách tiếp cận thông tin hiện đại trong công tác quản lý lao động và công tác marketing. Xuất
phát từ vấn đề trên, sự đồng ý của Bộ môn Kinh tế lượng – Khoa Kinh tế & PTNT –
Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội, sự đồng ý của Xí nghiệp xây dựng công trình –
Tổng công ty xây dựng đường thuỷ cùng sự giúp đỡ nhiết tình của thầy giáo hướng dẫn,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nhằm sử dụng lao động
hiệu quả ở Xí nghiệp xây dựng công trình – Tổng công ty xây dựng đường thuỷ”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung Từ việc khảo sát thực trạng sử dụng lao động ở xí nghiệp,qua phân tích các yêu tố ảnh
hưởng đến kết quả và hiệu quả lao động, đưa ra những nhận xét khoa học, đề tài đề xuất
một số giải pháp nhằm sử dụng lao động, hiệu quả lao động, năng suất lao động cho Xí
nghiệp xây dựng công trình- Tổng công ty xây dựng đường thuỷ
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
+ Trình bầy hệ thống cơ sở khoa học về các vấn đề lao động
+ Khảo sát thực trạng sử dụng lao động ở Xí nghiệp xây dựng công trình
+ Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả lao động ở Xí nghiệp

Quá trình lao động riễn ra chính là sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất
trong đó sức lao động là yếu tố chủ thể quyết định, tư liệu sản xuất là yếu tố khách thể
không thể thiếu được.
2.1.1.2 Lao động
Lao động là hành động của con người diễn ra giữa người với tự nhiên. Như
C.Mác đã nói: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên,
một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết
và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.
Ngày nay, khái niệm lao động đã được mở rộng. Lao động là hoạt động có mục
đích, có ích của con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật
chất cho bản thân và xã hội. Bất kỳ một xã hội nào muốn tồn tại và phát triển đều phải
không ngừng phát triển sản xuất, điều đó có nghĩa là không thể thiếu lao động. Lao động
là nguồn gốc và động lực phát triển của xã hội. Bởi vậy, xã hội càng văn minh thì tính
chất, hình thức và phương pháp tổ chức lao động càng tiến bộ.
Đối với Việt Nam, khi đất nước đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
thì lý luận lao động phải được đánh giá ở nhiều khía cạnh mới, cụ thể là:
Thứ nhất, lao động vẫn được coi là phương thức tồn tại của con người, nhưng vấn đề
đặt ra là lợi ích của con người phải được coi trọng. Bởi vì lao động là biểu hiện bản chất
của con người còn lợi ích của người lao động là vấn đề nhạy cảm nhất, là nhân tố thấm
sâu, phức tạp trong quan hệ con người với con người, quan hệ cá nhân với xã hội. Thứ hai, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với phương thức sản xuất kinh
doanh xã hội chủ nghĩa thì lao động được xem xét trên các khía cạnh năng suất, chất
lượng và hiệu quả.
Thứ ba là, bất kỳ một hình thức lao động nào của cá nhân, không phân biệt thuộc
thành phần kinh tế nào, nếu đáp ứng được nhu cầu xã hội, tạo ra sản phẩm hoặc công
dụng nào đó, thực hiện được lợi ích đảm bảo nuôi sống mình, không ăn bám vào người
khác và xã hội, lại có thể đóng góp cho xã hội một phần lợi ích thì lao động đó được coi là

* Cường độ lao động
Cường độ lao động là mức khẩn trương về lao động. Trong cùng một thời gian, mức
chi phí năng lượng bắp thịt, trí não, thần kinh của con người càng nhiều thì cường độ lao
động càng cao, C.Mác gọi cường độ lao động là “Khối lượng (lao động) bị ép vào trong
một thừi gian nhất định” hoặc còn gọi là “ những số lượng lao động kkác nhau bị tiêu phí
trong cùng một thời gian”. Tăng cường độ lao động có nghĩa là tăng thêm chi phí lao động
trong một đơn vị thời gian, nâng cao độ khẩn trương của lao động làm cho của cải vật chất
sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng thêm, nhưng không làm thay đổi giá trị của
một đơn vị sản phẩm vì chi lao động cũng đồng thời tăng lên tương ứng.
* Năng suất lao động
Năng suất lao động (NSLĐ) là “Sức sản xuất của lao động cụ thể có ích”
(1)
. Nó nói
lên hoạt động sản xuất có mực đích của con người trong một đơn vị htời gian nhất định
Năng suất lao động được đo băng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị
thời gian; bằng lượng thời gian hao phí dể sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
- Năng suất lao động cá thể là sức sản xuất của một lao động cụ thể. Nó được đo bằng
số lượng sản phẩm làm ra của một lao động trong một đơn vị thời gian hoặc bằng lượng
thời gian hao phí của một lao động cụ thể sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm
- Năng suất lao động bình quân là sức sản xuất bình quân một lao động trong một đơn
vị thời gian nhất định
- Vấn đề tăng năng suất lao động : Tăng năng suất lao động là “ Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao động,
nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút
ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao cho số lượng lao
động ít hơn mà lại có sức sản xuất ra nhiều giá thị sử dụng hơn”
(2)


vị thời gian tăng thêm, nhưng không làm thay đỏi giá trị của một đơn vị sản phẩm vì chi
phí lao động cũng đồng thời tăng thêm tương ứng. Chính vì vậy C. Mác đã phân biệt kết
quả khác nhau do tăng năng suất lao động và do tăng cường độ lao động như sau: “ nếu
năng suất lao động tăng thì trong cùng một thời gian, sẽ tạo ra tạo ra được nhiều sản phẩm
hơn , nhưng không tạo ra đượng nhiều giá trị hơn, mà cũng tạo ra nhièu giá trị hơn,vì lúc
đó, số sản phẩm trội ra mà có”. Như vậy, ta thấy trong cả hai trường hợp mức sản xuất
đều tăng lên ; nhưng trường hợp thứ nhất không cần tăng thêm chi phí lao động, còn
trường hợp thứ hai chính là do tăng thêm các chi phí này.
Tuy nhiên hai khái niệm năng suất lao động và cường độ lao động không hoàn toàn
tách rời nhau (mặc dù không giống nhau ). Vì rằng, cường độ lao động cũng là một nhân
tố làm tăng năng suất lao động .
1.1.1.4. Thời gian lao động
Thời gian lao động là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
(hoặc hoàn thành một công việc), để biểu hiện năng suất lao động, giảm chi phí thời gian
lao động trong sản xuất một đơn vị sản phẩm dẫn tới tăng năng suất lao động
Thời gian lao động là bộ phận quan trọng của thời gian nói chung. Sử dụng thời gian
lao động là vấn đề cốt lõi sử dụng lao động. Sử dụng tốt thời gian lao động là nội dung cơ
bản của vấn đề tổ chức lao động khoa học. Suy cho cùng tổ chức lao động chính là tổ
chức sử dụng thời gian lao động.
- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian làm việc cần thiết của xã hội để sản
xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường với trình độ kỹ thuật trung bình.
- ý nghĩa của nó trong sản xuất hàng hoá:
Căn cứ vào thời gian lao động xã hội để tính giá trị của hàng hoá và từ đó đem trao
đổi trên thị trường.
2.1.1.5. Một số vấn đề có liên quan đến lao động
* Khái niệm việc làm Việc làm là phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế xã hội và lao động , nó

Tỷ lệ này tính bằng phần trăm của số người thiếu việc làm so với dân số hoạt động kinh tế
(lực lượng lao động), theo công thức sau:
100x
éng®laoînglLùc
nghiÖpthÊtêingsè
=(%)nghiÖpthÊtlÖTû

Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao sẽ ảnh hưởng xấu đến cả tình hình kinh tế lẫn xã hội.
Chính vì thế, các quốc gia phải thường xuyên đưa ra những chính sách, biện pháp để giải
quyết vấn đề này.
- Phân loại thất nghiệp
Thất nghiệp là hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó. Thất
nghiệp được chia thành các loại sau:
+ Phân theo loại hình thất nghiệp
Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào,
ngành nghề nào vv…Cần biết những điều đó để hiểu rõ ràng về đặc điểm, tính chất, mức
độ tác hại … của thất nghiệp trong thực tế. Theo tiêu thức này, ta có:
Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ), thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi, nghề)
thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn…), thất nghiệp chia theo ngành
nghề, thất nghiệp chia theo thành phần kinh tế (quốc doanh, ngoài quốc doanh)
thất nghiệp chia theo dân tộc , chủng tộc v.v…
+ Phân loại theo lý do thất nghiệp
Theo lý do thất nghiệp, ta chia thành các loại sau dây :
Bỏ việc: Tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng lương thấp, không
hợp nghề, hợp vùng…
Mất việc: Các công ty cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh.
Mới vào: Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động nhưng chưa tìm được việc làm
(thanh niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công tác…)
và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ. Việc làm hợp lý
có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã hội cao. Việc làm hợp lý còn là việc làm phù
hợp với khả năng và nguyện vọng của người lao động.
Việc làm hiệu quả là việc làm đem lại mức thu nhập cao cho người lao động. Việc
làm không hiệu quả là việc làm đem lại thu nhập thấp, không đủ cho các chi tiêu cơ bản
trong đời sống của người lao động hoặc mức thu nhập từ việc làm thấp hơn so với mức
thu nhập tối thiểu trong xã hội .
- Thiếu việc làm
Thiếu việc làm là tình trạng việc làm trong đó người lao động không sử dụng hết thời
gian quy định và nhận được thu nhập thấp từ công việc khiến họ có nhu cầu làm thêm.
Theo khái niệm dùng trong thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam, người thiếu việc làm
gồm những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới
40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định hiện hành của Nhà nước, có nhu
cầu làm thêm và đã sẵn sàng làm việc nhưng chưa có việc làm (trừ những người có số giờ
làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được
việc).
Tình trạng thiếu việc làm còn gọi là bán thất nghiệp. Người lao động ở trong tình
trạng này thường là lao động nông thôn, theo mùa vụ, lao động khu vực thành thị không
chính thức (khu vực phi kết cấu), lao động ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh đang gặp khó
khăn, lao động khu vực Nhà nước dôi dư.
Tỷ lệ người thiếu việc làm là phần trăm số người thiếu việc làm so với dân số hoạt
động kinh tế (lực lượng lao động). Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động là phần trăm của tổng
số ngày công làm việc thực tế so với tổng số ngày công có nhu cầu làm việc (bao gồm số
ngày công thực tế đã làm việc và số ngày có nhu cầu làm thêm) của dân số hoạt động kinh
tế.

* Khái niệm tiền lương Người lao động sau quá trình lao động nhận được một khoản tiền đó là tiền lương.

quá trình lao động
+Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại
dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh
nghĩa của họ.
Như vậy, tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lương danh nghĩa mà
còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoávà các loại dịch vụ cần thiết mà họ muốn
mua. Mối quan hệ giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa được hiểu thông qua
công thức sau:

gc
tldn
tltt
I
I
I 

Trong đó:
I
tltt
: Tiền lương thực tế
I
tldn
: Tiền lương danh nghĩa
I
gc
: Chỉ số giá cả
Trong xã hội, tiền lương thực tế là mục đích trực tiếp của người lao động hưởng
lương. Đó cũng là đối tượng quản lý trực tiếp trong các chính sách về thu nhập, tiền lương
và đời sống.
* Khái niệm lạm phát













Trong đó: g
p
: tỷ lệ lạm phát (%)
I
p
: Chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu
I
p-1
: chỉ số giá cả của thời kỳ trước đó
Quy mô lạm phát: Người ta thường chia lạm phát thành ba loại tuỳ theo mức độ của

+Lạm phát vừa (lạm phát dưới 10%): Lạm phát ở mức độ này không gây ra tác hại đối
với nền kinh tế.
+ Lạm phát phi mã khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số trong một
năm. Loại lạm phát này khi đã đủ vững chắc sẽ gây ra biến dạng cho nền kinh tế.
+ Siêu lạm phát xẩy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát
phi mã Siêu lạm phát thường gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc, tuy nhiên
chúng cũng ít xẩy ra.

nhất định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn lao động
được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng. Về số lượng, đó là tổng số người
trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ. Việc quy định cụ thể độ tuổi lao động của mỗi nước (kể cả cận trên và cận dưới) rất khác nhau tuỳ theo
yêu cầu của trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. ở Việt Nam,
theo quy định của Bộ luật Lao động, dân số trong độ tuổi lao động là những người từ đủ
15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 15 đến 55 tuổi đối với nữ. Về chất lượng nguồn lao
động, đó là trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khoẻ và phẩm chất của
người lao động.
Nguồn lao động ( hay lực lượng lao động ) là một bộ phận dân số trong độ tuổi
quy định thực tế có tham gia lao động (đang có việc làm) và những người không có việc
làm nhưng đang tích cực tìm việc làm. Cũng như nguồn nhân lực, nguồn lao động được
biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng. Như vậy theo khái niệm nguồn lao động thì
trẻ em đang đi học, các thế hệ trong tương lai phản ánh nguồn nhân lực nhưng không tính
vào nguồn lao động. Những người lao động không có việc làm nhưng không tích cực tìm
việc làm ; những người đang đi học, những người đang làm nội trợ trong gia đình mình và
những người thuộc tình trạng khác (người nghỉ hưu trước tuổi theo quy định v.v ) vẫn
được tính vào nguồn lao động.
Theo khái niệm mở rộng dùng trong thống kê lao động- việc làm ở Việt Nam thì
lực lượng lao động còn bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động (lao động cao tuổi)
thực tế đang làm việc trong các ngành kinh tế.
2.12.2.Vai trò của lao động đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.2.1.Lập luận của các trường phái kinh tế về lao động với tăng trưởng và
phát triển kinh tế
Lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất. Nhờ có lao động mà các yếu tố đầu vào
khác được kết hợp tạo ra sản phẩm cung ứng trên thị trường, hình thành nên tổng cung.
Khi các yếu tố đầu vào (trong đó có yếu tố lao động) tăng lên thì sản phẩm tạo ra nhiều
hơn, tổng cung tăng lên. Mặt khác, lao động còn là mục tiêu của sản xuất. Khi lao động

trưởng và phát triển kinh tế.
Đối với nước ta, lao động đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tăng
trưởng và phát triển. Bởi vì trong các yếu tố đầu vào, mặc dù tài nguyên của chúng ta là
phong phú, đa dạng nhưng nó không phải là vô tận mà đang cạn kiệt dần. Vốn của chúng
ta còn ít, khả năng huy động vốn thấp. Bên cạnh đó thì nguồn lao động nước ta lại dồi
dào. Do vậy, lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng
trưởng và phát triển.
2.1.2.2.2.Vai trò của nguồn lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
- Nguồn lao động là yếu tố hàng đầu, năng động và quyết định sự phát triển của
lực lượng sản xuất Trong quá trình lao động, con người luôn tìm tòi, suy nghĩ , năng động, sáng tạo,
không chỉ sáng chế ra những tư liệu lao động có năng suất cao mà còn kết hợp tư liệu lao
động với đối tượng lao động nhằm tạo ra những sản phẩm theo mục đích đã định. Nhờ
con người mà các tư liệu sản xuất được hoàn thiện từng bước và chỉ thông qua hoạt động
của con người, các tư liệu sản xuất mới phát huy được tác dụng, thúc đẩy lực lượng sản
xuất và nền kinh tế phát triển .
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, con
người được đặt vào một quá trình lao động hết sức phức tạp, đòi hỏi năng lực sáng tạo,
trình độ chuyên môn cao, ý thức trách nhiệm lớn cả trong lao động cơ bắp, lao động kỹ
thuật và lao động quản lý. Có như vậy, lực lượng vật chất to lớn mới được sử dụng một
cách hợp lý, có hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội ngày càng phát triển .
- Lợi ích của nguồn lao động là động lực to lớn trong qúa trình phát triển kinh tế xã
hội.
Nhu cầu cuộc sống là động lực cơ bản nhất của con người. Bất kỳ hoạt động nào
của con người cũng bắt nguồn từ những nhu cầu cuộc sống. Thoả mãn các nhu cầu chính
là bảo đảm lợi ích cuả con người. Vì lợi ích mà con người hoạt động. Lơi ích của con
người bao gồm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, trong đó lợi ích vật chất đóng vai trò
quan trọng. Người lao động dù làm việc ở đâu, dưới hình thức nào cũng đều nhằm đạt

dụng lao động, thì chúng ta phải bố chí sử dụng lao động một cách khoa học thì mới phát
huy được trình độ năng lực của người lao động trong quá trình sản xuất nhằm tạo ra sản
phẩm tốt và có chất lượng cao.
+ Phương pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng người lao động trong các phòng ban,
trong từng bộ phận của dây chuyền sản xuất.
- Xác định cơ cấu lao động các bộ phận, các phòng ban.
- Đẩy mạnh công tác tạo lực và khuyến khích người lao động
- Tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ cho lao động
2.2.cơ sở thực tiễn
2.2.1. Thực trạng và kinh nghiệm sử dụng lao động của một số nước tiên tiến
trên thế giới
2.2.1.1. Kinh nghiệm Trung Quốc
(8)
Trung Quốc là một nước láng giềng có nhiều nét văn hoá và xã hội tương đồng với
Việt Nam. Đây là một quốc gia có quy mô dân số và lao động lớn nhất trên thế giới.
Chính vì thế, giải quyết việc làm ở Trung Quốc luôn là một vấn đề được quan tâm hàng
đầu.
Sau gần hai thâp kỷ cải cách nền kinh tế Trung Quốc đã giành được những thành
tựu nổi bật trong công cuộc phát triển kinh tế- xã hội. Với tỷ lệ tăng trưởng GDP bình
quân hàng năm (giai đoạn 1978- 1995) đạt xấp xỉ 10%, Trung Quốc trở thành một nước
có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất khu vực Châu á- Thái Bình Dương.
Nhờ kinh tế phát triển trong cải cách mở cửa, Trung Quốc đã có điều kiện giải
quyết một bước quan trọng vấn đề lao động và việc làm - một trong những vấn đề khó
khăn, nan giải nhất đối với một quốc gia đang phát triển có số dân khổng lồ khoảng 1,3 tỷ
người. Theo thống kê, từ khi tiến hành cải cách mở cửa đến năm 1995, Trung Quốc đã tạo
được công ăn việc làm cho khoảng 228 triệu người, tương đương với dân số của các nước

nhanh sự phát triển các ngành dịch vụ.
Thứ hai, xây dựng mô hình "thành phố nông thôn”. Hệ thống "thành phố nông
thôn" này vừa thúc đẩy công nghiệp hoá và đô thị hoá, vừa góp phần phát triển các ngành
sản xuất phi nông nghiệp, nâng cao độ đồng đều trong việc tạo dựng việc làm trên quy mô
toàn quốc, trên cơ sở đó, giảm bớt gánh nặng về đời sống và việc làm cho các thành phố
hiện nay và trong các năm tiếp theo.
Thứ ba, bảo vệ và phát triển một cách hợp lý nhân tố tư bản tư nhân ở nông thôn,
thực hiện đại chúng hoá tư bản. Việc khuyến khích người dân tích luỹ tư bản sẽ tạo điều
kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm nhiều hơn, giảm tỷ lệ thất nghiệp trên tầm vĩ
mô.
Thứ tư, lựa chọn chiến lược "xuất khẩu việc làm", xuất khẩu hàng tinh chế do
nguồn lao động chủ yếu trong nước sản xuất, đưa lao dộng ra nước ngoài dưới nhiều hình
thức, trong đó chú trọng hình thức đấu thầu các hạng mục kinh tế với nước ngoài.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực, tháo gỡ từng bước vấn đề mâu thuẫn giữa yêu
cầu chất lượng việc làm ngày càng cao với số lượng lao động dư thừa ngày càng lớn.
Các giải pháp nêu trên đã và đang có những đóng góp tích cực trong lĩnh vực giải
quyết vấn đề lao động- việc làm ở Trung Quốc. Đó cũng là những gợi ý có ích đối với
Việt Nam trong vấn đề giải quyết việc làm. 2.2.1.2. Kinh nghiệm Đài Loan
(8)
Đài Loan là một vùng lãnh thổ hải đảo với 80 đảo lớn nhỏ, tổng diện tích 36000
km
2
, cách Trung Hoa đại lục 150 km. Dân số Đài Loan đã tăng nhanh từ 8 triệu người
năm 1952 lên tới 20 triệu người hiện nay. Mặc dù vậy, do Đài Loan có những thành tựu
quan trọng trong phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, thu nhập tính bình
quân đầu người của họ đã tăng nhanh từ mức 148 USD vào năm 1952 lên 7.726 USD vào
năm 1990 và nay đạt trên 10.000 USD.

công nghiệp tăng lên 40,2% và lao động dịch vụ tăng lên 46,9%.
Do coi trọng vấn đề phát triển nguồn nhân lực hơn nhiều quốc gia khác trên thế
giới, Đài Loan đã rút ngắn được khoảng cách trong thu nhập giữa người giàu và người
nghèo, giữa thành thị và nông thôn. Thu nhập của nông dân Đài Loan hiện nay bằng 70%
thu nhập của công nhân viên chức ở khu vực thành thị. Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp của Đài
Loan đã được duy trì ở mức thấp dưới 2%.
2.2.1.3. Kinh nghiệm Nhật Bản
( )
Sau năm 1945, nền kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề do chiến tranh, thiệt hại về
vật chất lên tới 61,3 tỷ yên. Hơn 13 triệu người rơi vào tình trạng không có việc làm.
Dòng người thất nghiệp từ thành thị đổ về nông thôn làm cho số hộ ở nông thôn tăng lên
nhanh chóng, trước năm 1945, số hộ ở nông thôn khoảng 5,5 triệu, năm 1960 đã lên tới
6,18 triệu hộ. Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra nhiều chính sách và biện pháp phát triển kinh
tế, tạo việc làm cho người dân.
Nhật Bản đã tận dụng sự giúp đỡ về tài chính và thị trường của Mỹ như nhận các
đơn đặt hàng quân sự, các khoản viện trợ, đầu tư về vốn, máy móc, trang thiết bị trong
giai đoạn đầu khôi phục kinh tế, tạo đà cho sự phát triển nhảy vọt sau này. Đặc biệt, người
Nhật đã huy động và sử dụng vốn rất táo bạo và có hiệu quả. Tích luỹ của Nhật Bản luôn
đạt từ 30- 40% so với GDP trong giai đoạn từ 1951- 1973, tiền lương bình quân của Nhật
rất thấp, chỉ bằng 1/4 của Mỹ, 1/5 của Anh, 1/2 của Pháp. Mặc dù hạn chế chi tiêu cho
phúc lợi xã hội, Nhật Bản vẫn đầu tư rất lớn cho giáo dục và đào tạo. Chính vì thế, người
lao động ở Nhật Bản có trình độ chuyên môn, kĩ thuật rất cao. Với các nguồn vốn huy
động được từ tích luỹ, tiết kiệm, phát hành công trái , Nhật Bản đã đầu tư cho các ngành
có điều kiện và hiệu quả cao như luyện kim, hoá chất, đóng tàu, chế tạo máy, lọc dầu, đẩy
mạnh sản xuất hàng tiêu dùng. Nhật Bản cũng đầu tư cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật,

Trích đoạn Thực tiễn vấn đề việc là mở các doanh nghiệp(10, 12). Quá trình thành lập và phát triển Kết quả sản xuất kinh doanh Phương pháp thu thập thông tin Chỉ tiêu về số lượng laođộng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status