Thực trạng và giải pháp nhằm sử dụng lao động hiệu quả ở xí nghiệp xây dựng công trình - tổng Công ty xây dựng đường thuỷ - Pdf 13

Phần thứ nhất
Đặt vấn đề
1.1. tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau 16 năm đổi mới, nền kinh tế nớc ta có sự phát triển đáng kể và đạt đợc
những thành quả to lớn cả về kinh tế và xã hội. Những thành quả hiện nay đạt đợc phải
kể đến vai trò rất lớn của nguồn lao động. Lao động trớc hết là yếu tốt con ngời cho
nên nó là yếu tố trung tâm của mọi xã hội. Lao động là yếu tố không thể thiếu đợc
trong mọi quá trình sản xuất ra của cải vật chất cũng nh tinh thần phục vụ cho mọi nhu
cầu của xã hội. Lao động có năng suất và hiệu quả là nhân tố quyết định đến sự phát
triển của nền kinh tế. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất con ngời luôn tìm tòi học hỏi
để nâng cao năng suất lao động, cải tiến các công cụ lao động, sáng tạo ra công cụ mới,
t liệu thay thế tốt hơn. Nh vậy, các sản phẩm sản xuất ra ngày càng đa dạng hơn, tiến
bộ hơn cả về số lợng và chất lợng, các công cụ lao động, thiết bị máy móc ngày càng
hiện đại hơn, tinh vi hơn, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng đợc khai thác sủ
dụng có hiệu quả, hữu ích hơn. Bên cạnh đó, lao động còn mang tính chất xã hội sâu
sắc, nó gắn liền với các chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc về an ninh xã hội,
công bằng và trật tự xã hội. Vì vậy, sự phát triển của xã hội luôn luôn gắn liền với sự
phát triển của lực lợng sản xuất. ở mỗi chế độ xã hội khác nhau sẽ có mối quan hệ lao
động và sở hữu khác nhau. Trong thời đại hiện nay mối quan hệ lao động chủ yếu biểu
hiện dới hình thức, giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao động( các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu sử dụng lao động cho các mục đích sản xuất kinh doanh dịch vụ thông qua
hợp đồng lao động.
Việt nam là nớc có dân số đông tốc độ phát triển dân số cao (khoảng 1,8%) dân
số. Mức ra tăng lực lợng lao động bình quân hàng năm là 1,24 triệu lao động (nhịp độ
tăng bình quân 2,8%/năm). Thời kỳ 1996 2000 tính đến 1/7/2000 tổng lao động cả
nớc có 38.643.089 ngời, phần lớn lao động này sống ở nông thôn ( chiếm 78,25%), tỷ
lệ ngời có việc làm thờng xuyên 94,12% và theo dự báo đến năm 2010 tổng số ngời
trong tuổi sẽ lên tới 58 triệu chiếm 60,6%. 1,3 triệu lao động (nhịp độ tăng bình quân
2,5%/năm) của thời kỳ 2001- 2010, càng cho thấy Việt nam vẫn là nớc có nguồn lao
1
động dồi dào, đồng thời cũng đặt ra nhu cầu lớn phải đào tạo tay nghề nghiệp vụ. Thực

cùng sự giúp đỡ nhiết tình của thầy giáo hớng dẫn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: Thực trạng và giải pháp nhằm sử dụng lao động hiệu quả ở Xí nghiệp xây
dựng công trình Tổng công ty xây dựng đ ờng thuỷ.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Từ việc khảo sát thực trạng sử dụng lao động ở xí nghiệp,qua phân tích các yêu tố
ảnh hởng đến kết quả và hiệu quả lao động, đa ra những nhận xét khoa học, đề tài đề
xuất một số giải pháp nhằm sử dụng lao động, hiệu quả lao động, năng suất lao động
cho Xí nghiệp xây dựng công trình- Tổng công ty xây dựng đờng thuỷ
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
+ Trình bầy hệ thống cơ sở khoa học về các vấn đề lao động
+ Khảo sát thực trạng sử dụng lao động ở Xí nghiệp xây dựng công trình
+ Phân tích những yếu tố ảnh hởng đến kết quả và hiệu quả lao động ở Xí nghiệp
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng lao động hiệu quả cho Xí nghiệp
1.3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1. Đối tợng nghiên cứu của đề tài
Đề tài xác định ngời lao động là đối tợng nghiên cứu. Đối tợng nghiên cứu của
đề tài đợc xét trên các góc độ số lợng, cơ cấu lao động, chất lợng lao động và các vấn
đề có liên quan đến lao động
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Giới hạn về không gian
Đề tài nghiên cứu ở Xí nghiệp xây dựng công trình Tổng công ty xây
dựng đờng thuỷ
* Giới hạn về thời gian
Đề tài thu thập số liệu chủ yếu về lao động ở xí nghiệp trong những năm gần
đây (ít nhất 3 năm)
Phần thứ hai
Tổng quan tài liệu nghiên cứu
3
2.1.Cơ sở lý luận

đặt ra là lợi ích của con ngời phải đợc coi trọng. Bởi vì lao động là biểu hiện bản chất
của con ngời còn lợi ích của ngời lao động là vấn đề nhạy cảm nhất, là nhân tố thấm
sâu, phức tạp trong quan hệ con ngời với con ngời, quan hệ cá nhân với xã hội.
Thứ hai, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với phơng thức sản xuất
kinh doanh xã hội chủ nghĩa thì lao động đợc xem xét trên các khía cạnh năng suất,
chất lợng và hiệu quả.
Thứ ba là, bất kỳ một hình thức lao động nào của cá nhân, không phân biệt
thuộc thành phần kinh tế nào, nếu đáp ứng đợc nhu cầu xã hội, tạo ra sản phẩm hoặc
công dụng nào đó, thực hiện đợc lợi ích đảm bảo nuôi sống mình, không ăn bám vào
ngời khác và xã hội, lại có thể đóng góp cho xã hội một phần lợi ích thì lao động đó
đợc coi là có ích.
Các.Mác là ngời đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động là lao động cụ thể
và lao động trừu tợng
- Lao động cụ thể:
lao động cụ thể là lao động có ích dới mọi hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục riêng, phơng pháp riêng,
công cụ riêng. Đối tợng vào kết quả lao động riêng. Thí dụ, lao động của ngời xây
dựng, thợ mộc, thợ may là những lao động cụ thể. Kết quả của lao động cụ thể là
tạo ra một dụng cụ nhất định
- Lao động trừu tợng:
Lao động trừu tợng là lao động xã hộicủa ngời sản xuất hàng hoá không kể đến
hình thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có điểm chung giống nhau nh là sự
tiêu hao cơ bắp, thần kinh, bộ óc sau một quá trình lao động. Đó chính là lao động
trừu tợng
5
Ngoài ra ngời ta còn phân biệt lao động thành lao động giản đơn và lao động
phức tạp:
Lao động giản đơn là lao động cụ thể mà mọi ngời bình thờng có thể làm đợc.
Còn Lao động phức tạp là lao động cụ thể phải trải qua huấn luyện chuyên môn.
Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản

bằng số lợng sản phẩm làm ra của một lao động trong một đơn vị thời gian hoặc bằng
lợng thời gian hao phí của một lao động cụ thể sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm
- Năng suất lao động bình quân là sức sản xuất bình quân một lao động trong một
đơn vị thời gian nhất định
- Vấn đề tăng năng suất lao động :
Tăng năng suất lao động là Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao
động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay
đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao
cho số lợng lao động ít hơn mà lại có sức sản xuất ra nhiều giá thị sử dụng hơn
(2)
.
Tăng năng suất lao động không phải là một hiện tợng kinh tế thông thờng mà là
một quy luật kinh tế chung cho mọi hình thái xã hội. Nhng, điều đó không có nghĩa
là, sự tăng năng suất lao động trong tất cả mọi hình thái xã hội đều giống nhau. Trái
lại do trình độ lực lợng sản xuất khác nhau, nên biểu hiện quy luật tăng năng suất lao
động không giống nhau. Dới chế độ nô lệ, mức năng suất lao động thấp, nguyên nhân
chủ yế là sản xuất chỉ dựa chủ yéu vào sức ngời và sức động vật công cụ còn thô sơ.
Dới chế độ phong kiến, năng suất lao động xã hội tăng lên chậm chạp. Vì lẽ, hệ
thống công cụ lao động chủ yếu vẫn là thủ công, ít có sự biến động. Đến khi xuất
hiện máy móc, năng suất lao động tăng lên gấp bội bỏ xa thời kỳ lao động bằng tay.
Ngày nay nhờ có nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật loài ngời có cả một hệ thống
công cụ lao động hiện đại nên đạt tới năng suất lao động xã hội rất cao so với trớc
đây. Khả năng này không dừng lại mà đang ngày càng tiến xa hơn nữa.
7
* Tăng năg suất lao động khác với cờng độ lao động nh sau:
Tăng năng suất lao động nghĩa là, giảm chi phí lao động cho một đơn vị sản
phẩm. Trong thời gian nh nhau, năng suất lao động càng cao thì số lợng giá trị sử
dụng sản xuất ra càng nhiều, nhng giá trị sáng tạo khong vì thế mà tăng lên. Vì, đi
đôi với năng suất lao động tăng, thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn

dung cơ bản của vấn đề tổ chức lao động khoa học. Suy cho cùng tổ chức lao động
chính là tổ chức sử dụng thời gian lao động.
- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian làm việc cần thiết của xã hội để
sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thờng với trình độ kỹ thuật trung
bình.
- ý nghĩa của nó trong sản xuất hàng hoá:
Căn cứ vào thời gian lao động xã hội để tính giá trị của hàng hoá và từ đó đem
trao đổi trên thị trờng.
2.1.1.5. Một số vấn đề có liên quan đến lao động
* Khái niệm việc làm
Việc làm là phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế xã hội và lao
động , nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tuỳ theo cách
tiếp cận mà ngời ta có những khái niệm khác nhau về việc làm :
Theo H.A. Gorelop thì Việc làm là mối quan hệ sản xuất nảy sinh do sự kết hợp
giữa cá nhân ngời lao động và phơng tiện sản xuất.
Theo Huy- Hanto (Viện Hải ngoại London) thì Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ
hoạt động kinh tế của một xã hội, là tất cả những gì liên quan đến cách thức kiếm
sống của con ngời kể cả quan hệ sản xuất và các tiêu chuẩn hành vi tạo ra khuôn khổ
của quá trình kinh tế .
Đối với Việt Nam, Bộ luật Lao động đầu tiên của Việt Nam đợc Quốc hội thông
qua đã khẳng định: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị luật pháp ngăn
cấm đều đợc thừa nhận là việc làm.
9
Với một số khái niệm về việc làm cho thấy hoạt động đợc xác định là việc làm
bao gồm:
- Làm các công việc đợc trả công dới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
- Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc thu nhập cho gia dình mình
nhng không đợc trả công ( bằng tiền hoăc hiện vật ) cho công việc đó.
* Khái niệm Thất nghiệp
- Khái niệm:

ngành nghề, thất nghiệp chia theo thành phần kinh tế (quốc doanh, ngoài quốc
doanh)
thất nghiệp chia theo dân tộc , chủng tộc v.v
+ Phân loại theo lý do thất nghiệp
Theo lý do thất nghiệp, ta chia thành các loại sau dây :
Bỏ việc: Tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau nh cho rằng lơng thấp,
không hợp nghề, hợp vùng
Mất việc: Các công ty cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh.
Mới vào: Lần đầu bổ sung vào lực lợng lao động nhng cha tìm đợc việc làm
(thanh niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công
tác )
Quay lại: Những ngời đã rời khỏi lực lợng lao động nay muốn quay lại làm việc
nhng cha tìm đợc việc làm.
+ Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp
Tìm hiểu nguồn gốc thất nghiệp có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất
nghiệp. Theo cách phân loại này, ta có :
Thất nghiệp tạm thời: xảy ra khi có một số ngời lao động đang trong thời gian
tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn hoặc những ngời mới bớc vào thị trờng
lao động đang tìm kiếm việc làm hoặc chờ đợi đi làm.
11
Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối cung, cầu giữa các loại lao
động (giữa các ngành, nghề, khu vực ). Loại này gắn với sự biến động cơ cấu kinh
tế và khả năng điều chỉnh cung của thị trờng lao động (tổ chức đào tạo lại, môi giới
)
Thất nghiệp do thiếu cầu: xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống.
Nguồn gốc chính là ở sự suy giảm tổng cầu. Loại thất nghiệp này thờng gắn với thời
kỳ suy thoái của chu kì kinh doanh nên còn gọi là thất nghiệp chu kì.
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trờng: Loại thất nghiệp này xảy ra khi chính
phủ hoặc công đoàn ấn định mức lơng cao hơn mức lơng cân bằng thực tế của thị tr-
ờng lao động

trạng này thờng là lao động nông thôn, theo mùa vụ, lao động khu vực thành thị
không chính thức (khu vực phi kết cấu), lao động ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh
đang gặp khó khăn, lao động khu vực Nhà nớc dôi d.
Tỷ lệ ngời thiếu việc làm là phần trăm số ngời thiếu việc làm so với dân số hoạt
động kinh tế (lực lợng lao động). Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động là phần trăm của
tổng số ngày công làm việc thực tế so với tổng số ngày công có nhu cầu làm việc
(bao gồm số ngày công thực tế đã làm việc và số ngày có nhu cầu làm thêm) của dân
số hoạt động kinh tế.
* Khái niệm tiền l ơng
Ngời lao động sau quá trình lao động nhận đợc một khoản tiền đó là tiền lơng.
Khi phân tích về nền kinh tế TBCN, C.Mác viết: Tiền công không phải là giá trị hay
giá cả của lao động mà chỉ là hình thái cải trang của giá trị hay giá cả sức lao động.
Tiền lơng phản ánh nhiều quan hệ kinh té xã hội khác nhau. Tiền lơng trớc là số
tiền mà ngời sử dụng lao động (mua sức láo động) trả cho ngời lao độn(ngời bán sức
lao động ). Đó là quan hệ kinh tế của tiền lơng. Mặt khác, do tính chất đặc biệt của
13
loại hàng hoá sức lao động mà tiền lơng không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn
là vấn đề xã hội rất quan trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội. Đó là quan hệ
xã hội.v.v.v..
Trong quá trình hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối với các chủ
doanh nghiệp, tiền lơng là phần chi phí cáu thành chi phí sản xuất kinh doanh. Vì
vậy, tiền lơng luôn đợc tính toán và quản lý chặt chẽ. Đối với ngời lao động, tiền lơng
là thu nhập từ quá trình lao động củ họ, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao
động trong xã hội có ảnh hởng trực tiếp đến mức sống của họ. Phấn đấu nâng cao tiền
lơng là mục đích hết thẩy của ngời lao động. Mục đích này theo động lực để ngời lao
động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình.
Trong các thành phần về khu vực kinh tế quốc doanh, tiền lơng chịu sự tác động,
chi phối rất lớn của thị trờng và thi trờng lao động. Tiền lơng trong khu vực này dù
vẫn nằm trong khuôn khổ luật phát và theo những chính sách của chính phủ, nhng là
những giao dịch trực tiếp giữa Chủ và Thợ, những mặc cả cụ thể giữa một bên làm

: Tiền lơng thực tế
I
tldn
: Tiền lơng danh nghĩa
I
gc
: Chỉ số giá cả
Trong xã hội, tiền lơng thực tế là mục đích trực tiếp của ngời lao động hởng l-
ơng. Đó cũng là đối tợng quản lý trực tiếp trong các chính sách về thu nhập, tiền lơng
và đời sống.
* Khái niệm lạm phát
Lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi. Khi mức giá giảm xuống gọi là
giảm phát. Sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian gọi là lạm phát.
Vậy lạm phát đặc trng cho chỉ số chung của giá cả, là chỉ số giá cả chung của
toàn bộ cấu thành sản phẩm quốc dân. Nó chính là GNP danh nghĩa /GNP thực tế.
Trong thực tế thờng đợc thay thế bằng một trong hai loại chỉ số thông dụng khác: chỉ
số tiêu dùng hoặc chỉ số giá bán buôn ( còn gọi là chỉ số giá cả sản xuất ).
Chỉ số giá cả tiêu dùng phản ánh sự biến động giá cả của một giả hàngvà dịch vụ
tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của xã hội công thức tính nh sau:
diI
pp
=

Trong đó : Ip :chỉ số giá của giỏ hàng
15
i
p
:chỉ số giá của từng loại hàng, nhóm hàng trong giỏ
d :tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng,nhóm hàng trong giỏ
Tỷ lệ lạm phát là thớc đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô và sự

của nó
+Lạm phát vừa (lạm phát dới 10%): Lạm phát ở mức độ này không gây ra tác hại
đối với nền kinh tế.
+ Lạm phát phi mã khi giá cả tăng tơng đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số trong
một năm. Loại lạm phát này khi đã đủ vững chắc sẽ gây ra biến dạng cho nền kinh tế.
+ Siêu lạm phát xẩy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vợt xa lạm
phát phi mã.. Siêu lạm phát thờng gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc, tuy
nhiên chúng cũng ít xẩy ra.
Tác hại của lạm phát:
+ Tốc độ tăng giá cả thờng không đồng đều với các mặt hàng.
+Tốc độ tăng giá và tăng lơng cũng xẩy ra không đồng đều.
+ Phân phối thu nhập và của cải một cách ngẫu nhiên giữa các cá thể, tập đoàn
và các giai tầng trong xã hội đặc biệt đối với những ngời nhiều tài sản có giá trị danh
nghĩa cố định và những ngời làm công ăn lơng.
16
+ Có những biến động cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinh tế, đặc biệt
khi lạm phát tăng nhanh cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của giá cả tơng đối.
Việc làm, thất nghiệp, lạm phát và tiền lơng có quan hệ mật thiết với nhau. Nó
luôn luôn đi với nhau. Nếu việc làm tăng thì thất nghiệp giảm dẫn dến lạm phát tăng
kéo theo phải tăng lơng và ngợc lại
2.1.2.Vai trò của lao động trong kinh tế, xã hội
2.1.2.1. Nguồn nhân lực và nguồn lao động
2.1.2.1.1.Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực về con ngời và đợc nghiên cứu ở nhiều khía cạnh:
Trớc hết nguồn nhân lực là khả năng cung cấp sức lao động cho xã hội, bao
gồm toàn bộ dân c có cơ thể phát triển bình thờng (không bị khiếm khuyết và bệnh
tật).
Nguồn nhân lực là một yếu tố của sự phát triển xã hội là khả năng lao động của
xã hội, đợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân c trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động với cách hiểu này nguồn lực tơng đơng với nguồn lao động.

2.12.2.Vai trò của lao động đối với tăng tr ởng và phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.2.1.Lập luận của các trờng phái kinh tế về lao động với tăng trởng và
phát triển kinh tế
Lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất. Nhờ có lao động mà các yếu tố đầu
vào khác đợc kết hợp tạo ra sản phẩm cung ứng trên thị trờng, hình thành nên tổng
cung. Khi các yếu tố đầu vào (trong đó có yếu tố lao động) tăng lên thì sản phẩm tạo
ra nhiều hơn, tổng cung tăng lên. Mặt khác, lao động còn là mục tiêu của sản xuất.
Khi lao động tăng, tiêu dùng cũng tăng lên làm cho tổng cầu tăng lên. Nền kinh tế đạt
điểm cân bằng mới giữa tổng cung và tổng cầu tơng ứng với mức sản lợng thực tế
tăng lên.
18
Từ trớc đến nay, có rất nhiều trờng phái kinh tế đã khẳng định vai trò của lao
động đối với tăng trởng và phát triển kinh tế. Mô hình của Ricardo (trờng phái cổ
điển) đã tính thu nhập quốc dân bao gồm tiền công do lao động làm thuê nhận đợc,
lợi nhuận và địa tô. Mô hình K. Marx cho rằng lao động sống tạo ra nguồn của cải và
giá trị thặng d, là nguồn gốc tái sản xuất xã hội, muốn mở rộng sản xuất cần tăng
năng suất lao động. Lý thuyết tăng trởng kinh tế hiện đại thống nhất với cách xác
định của mô hình tân cổ điển về các yếu tố tác động đến tổng cung. Họ cho rằng tổng
mức cung của nền kinh tế đợc xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất, đó là
nguồn lao động ( L ), vốn sản xuất ( K ), tài nguyên thiên nhiên ( R ) và khoa học
công nghệ ( T ). Họ cũng thống nhất với kiểu phân tích của hàm sản xuất Cobb -
Douglas về sự tác động của các yếu tố đến tăng trởng :
Y = T . K

. L

. R


g = t + k + l + r

- Lợi ích của nguồn lao động là động lực to lớn trong qúa trình phát triển
kinh tế xã hội.
Nhu cầu cuộc sống là động lực cơ bản nhất của con ngời. Bất kỳ hoạt động nào
của con ngời cũng bắt nguồn từ những nhu cầu cuộc sống. Thoả mãn các nhu cầu
chính là bảo đảm lợi ích cuả con ngời. Vì lợi ích mà con ngời hoạt động. Lơi ích của
con ngời bao gồm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, trong đó lợi ích vật chất đóng
vai trò quan trọng. Ngời lao động dù làm việc ở đâu, dới hình thức nào cũng đều
nhằm đạt đợc lợi ích của mình. Lợi ích càng cao, càng tạo nên sức hấp dẫn để con ng-
ời hoạt động có hiệu quả hơn. Nh vậy, chính lợi ích là những nhu cầu trở thành động
cơ của hành động. Thoả mãn lợi ích chính đáng của ngời lao động là động lực kinh tế
trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển .
- Nguồn lao động với t cách lực lợng tiêu dùng luôn là mục đích của sự phát
triển kinh tế xã hội
20
Trong mọi phơng thức sản xuất xã hội, sản xuất cho ai, sản xuất cái gì, sản
xuất nh thế nào suy cho cùng đều để phục vụ con ngời. Ngợc lại, nhu cầu của con ng-
ời là tác nhân kích thích sản xuất, là đơn đặt hàng của xã hội đối với sản xuất và là
động cơ mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Nguồn lao động với t cách là một bộ
phận quan trọng của dân số, đồng thời là một lực lợng tiêu dùng mạnh mẽ, luôn đóng
vai trò quyết định là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở mọi thời đại.
Nhận thức đúng đắn về vấn đề lao động không chỉ giúp chúng ta thấy rõ hơn ý
nghĩa và tầm quan trọng của nó mà còn có cơ sở phơng pháp luận để xem xét việc sử
dụng lao động trong thời gian qua,trên cơ sở đó đề ra phơng hớng và giải pháp sử
dụng và phát huy vai trò của nguồn lao động trong giai đoạn mới.
2.1.3.Cơ sở của việc sử dụng lao động hợp lý, hiệu quả
Sử dụng lao động hợp lý là sự bố trí lao động ở từng bộ phận, từng phòng
ban, từng công đoạn của dây chuyền sản xuất phù hợp với trình độ khả năng công
tác, khả năng sáng tạo và nguyện vọng của ngời lao động.
Sử dụng lao động hiệu quả là kết quả của việc sử dụng lao động hợp lý là biết
phát huy tất cả các mặt trong sở trờng của ngời lao động

GDP bình quân hàng năm (giai đoạn 1978- 1995) đạt xấp xỉ 10%, Trung Quốc trở
thành một nớc có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất khu vực Châu á- Thái Bình Dơng.
Nhờ kinh tế phát triển trong cải cách mở cửa, Trung Quốc đã có điều kiện giải
quyết một bớc quan trọng vấn đề lao động và việc làm - một trong những vấn đề khó
khăn, nan giải nhất đối với một quốc gia đang phát triển có số dân khổng lồ khoảng
1,3 tỷ ngời. Theo thống kê, từ khi tiến hành cải cách mở cửa đến năm 1995, Trung
Quốc đã tạo đợc công ăn việc làm cho khoảng 228 triệu ngời, tơng đơng với dân số
của các nớc Anh, Pháp, Đức, ý cộng lại. Và nếu so sánh với toàn bộ thời kỳ 30 năm
trớc cải cách thì số lao động đợc sắp xếp việc làm ở Trung Quốc thời kỳ 1980- 1995
đã nhiều hơn đến 30 triệu ngời, đó thực sự là một kỳ tích có một không hai của lịch
sử hiện đại Trung Quốc và trên thế giới.
Có đợc thành tựu đáng khích lệ này là do Trung Quốc kiên trì thực hiện chính
sách cải cách thể chế kinh tế cả ở nông thôn và thành thị. Trớc hết đó là các chính
sách hỗ trợ nông nghiệp phát triển nh cơ chế khoán hộ trong nông nghiệp, chính sách
về vốn đầu t, tăng giá thu mua lơng thực v.v... Bên cạnh đó, Trung Quốc phát triển
22
các xí nghiệp hơng trấn, một loại hình có nhiều u thế nh sử dụng vốn ít, kỹ thuật đơn
giản, mức lơng tơng đối thấp, thu hút đợc nhiều lao động. Theo các số liệu thống kê,
trong vòng 10 năm (từ 1981 đến 1990), số ngời làm việc trong các xí nghiệp tăng từ
28,28 triệu đến 92,65 triệu. Trung Quốc cũng xây dựng các xí nghiệp nhỏ, phi quốc
hữu hoá ở thành thị, thực thi chính sách phát triển sản xuất kinh doanh đa dạng với
nhiều ngành nghề, nhiều loại sản phẩm, sắp xếp lại cơ cấu kinh tế theo hớng hợp lý,
phát triển dịch vụ ở Trung Quốc đã tăng hơn 3 lần. Lao động công nghiệp cũng tăng
lên theo hớng cân đối và hợp lý hơn. Trên cơ sở đó, Trung Quốc thúc đẩy hình thành
thị trờng trong nớc và hớng ra bên ngoài.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của chế độ "thị trờng hoá việc làm" và do
việc nâng cao trình độ chuyên môn hoá sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp,
Trung Quốc hiện nay vẫn đang phải đối mặt với sức ép ngày càng tăng của vấn đề lao
động việc làm, trớc hết là lực lợng lao động d thừa một cách tiềm tàng của bộ phận
kinh tế dựa trên chế độ công hữu. Theo ớc đoán, tổng số lao động cần việc làm ở

2
, cách Trung Hoa đại lục 150 km. Dân số Đài Loan đã tăng nhanh từ 8
triệu ngời năm 1952 lên tới 20 triệu ngời hiện nay. Mặc dù vậy, do Đài Loan có
những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, tạo việc làm cho ngời lao động,
thu nhập tính bình quân đầu ngời của họ đã tăng nhanh từ mức 148 USD vào năm
1952 lên 7.726 USD vào năm 1990 và nay đạt trên 10.000 USD.
Trong giai đoạn 1953- 1962, Đài Loan đã đa ra chiến lợc phát triển nông
nghiệp gắn liền với chiến lợc phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu nhằm đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và giải quyết việc làm. Đài Loan chú trọng quy mô vừa
và nhỏ, công nghệ không cao, xây dựng nhanh nên thu hồi vốn cũng nhanh, tạo đợc
nhiều chỗ làm việc trong giai đoạn khởi động nền kinh tế. Nhờ vậy, công nghiệp Đài
Loan trong giai đoạn này tăng bình quân hàng năm 11,7%, số lao động công nghiệp
tăng gấp rỡi trong 10 năm (1952- 1962) từ 36 vạn ngời lên 53,4 vạn ngời.
Từ sau năm 1971, Đài Loan luôn giữ ổn định về việc làm cho ngời lao động
bằng một số biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ kinh tế nông nghiệp bằng những cách thức cụ
thể nh: tăng vụ cây trồng 2- 3 vụ lúa xen với 1- 2- 3 vụ cây trồng ngắn ngày; đa dạng
24
hoá các hình thức kinh doanh với nhiều ngành nghề; đẩy mạnh cải cách ruộng đất
theo phơng thức: Bán ruộng đất công và thực hiện chính sách ruộng đất thuộc ngời
cày, điều chỉnh lợi nhuận nông phẩm.
Thứ hai, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, gắn liền vấn đề tạo việc làm
với vấn đề công nghiệp hoá.
Th ba, tích cực phát triển các ngành sản xuất cần nhiều lao động để đẩy nhanh
tốc độ tạo ra nhiều việc làm.
Thứ t, tích cực mở rộng mậu dịch đối ngoại và tăng cờng khai thác thị trờng
quốc tế để tạo việc làm cho ngời lao động.
Thứ năm, nâng cao mức tăng tiền gửi tiết kiệm và đầu t để tạo ra sự gia tăng
việc làm.
Thứ sáu, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng việc làm và tăng thu nhập đảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status