I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT
1. KháI niệm “quy luật”
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các sự vật hiện tượng, giữa các
thuộc tính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật.
Các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người đều mang tính khách quan. Con người chỉ có thể
nhận thức quy luật để vận dụng chúng chứ không thể tuỳ tiện xoá bỏ quy luật.
Các quy luật được phản ánh trong các khoa học cũng không phải là sự sáng tạo tuỳ ý của con người mà là
sự phản ánh các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy mà thôi.
2. Phân loại quy luật
Người ta có thể phân loại quy luật theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ vào mức độ tính phổ biến chia
thành :
Quy luật riêng – tác động trong những phạm vi nhất định, ví dụ, quy luật đấu tranh sinh tồn chỉ tồn tại trong
thế giới động vật;
Qquy luật chung – tác động trong phạm vi rộng hơn các quy luật riêng. Ví dụ, quy luật bảo toàn và chuyển
hoá năng lượng. Quy luật này tác động trong phạm vi rộng hơn, trong một loạt sự vật, hiện tượng (nhiệt
năng, cơ năng, điện năng, v.v.);
Quy luật phổ biến - tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy (các quy luật của phép biện
chứng duy vật). Ví dụ, quy luật phủ định của phủ định tồn tại cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chia thành:
Quy luật tự nhiên - nẩy sinh, tác động trong lĩnh vực tự nhiên. Ví dụ, quy luật đồng hoá và dị hoá;
Quy luật xã hội - nẩy sinh và tác động trong lĩnh vực xã hội. Ví dụ, quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội
có giai cấp;
Quy luật tư duy - nẩy sinh, tác động trong lĩnh vực tư duy. Ví dụ, quy luật kế thừa, v.v.
Quy luật của phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội và tư
duy. Các quy luật này phản ánh sự vận động, phát triển của sự vật dưới những phương diện cơ bản nhất.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự
vật. Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức vận
động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướngvận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng.
II. QUY LUẬT CHUYỂN HOÁ TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT
VÀ NGƯỢC LẠI
hơn chất, nhưng không phải mọi thay đổi của lượng đều ngay lập tức làm thay đổi căn bản về chất.
Sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất chỉ trong giới hạn nhất định. Vượt quá giới hạn đó sẽ làm
cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời.
Giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm thay đổi về chất được gọi là
độ. Nói cách khác, độ là phạm trù triết học chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng giới hạn mà
trong đó sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho sự thay đổi căn bản về chất của sự vật
diễn ra. Ví dụ, độ của chất sinh viên là từ khi nhập học tới trước khi bảo vệ thành công đồ án, luận văn tốt
nghiệp.
Những điểm giới hạn mà khi sự thay đổi về lượng đạt tới đó sẽ làm cho sự thay đổi về chất của vật diễn ra
được gọi là điểm nút. Thời điểm bảo vệ thành công đồ án, hoặc luận văn tốt nghiệp của sinh viên là điểm
nút để chuyển từ chất sinh viên lên chất cử nhân.
Sự thay đổi về chất do những thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước nhảy. Bước nhảy là sự kết thúc
một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới. Bước nhảy vọt
làm cho sự vật phát triển bị gián đoạn.
b. Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng
Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng mới (làm thay đổi quy mô, nhịp điệu, tốc độ v.v
phát triển của sự vật). Ví dụ, khi trở thành cử nhân thì tốc độ đọc, hiểu vấn đề tốt hơn khi còn là sinh viên,
v.v. Như vậy, không chỉ sự thay đổi về lượng gây nên những thay đổi về chất mà cả sự thay đổi về chất
cũng gây nên những thay đổi về lượng.
c. Các hình thức của bước nhảy
Bước nhảy để chuyển hoá về chất của sự vật hết sức đa dạng, phong phú với nhiều hình thức khác nhau.
Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy, người ta chia bước nhảy thành bước nhảy đột biến và bước nhảy
dần dần.
Bước nhảy đột biến, chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản, cấu
thành sự vật. Ví dụ, phản ứng hạt nhân (Ur 235 đạt đến khối lượng nhất định sẽ xảy ra vụ nổ hạt nhân) rất
nhanh và làm thay đổi chất của sự vật nhanh chóng.
Bước nhảy dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích luỹ dần dần những nhân tố
của chất mới và mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ. Ví dụ, quá trình chuyển biến vượn người thành
người diễn ra hàng vạn năm, hết sức lâu dài. Cần lưu ý, bước nhảy dần dần (là sự chuyển hoá dần dần
sang chất mới) khác sự thay đổi dần dần về lượng (tích luỹ liên tục về lượng, ví dụ như sự tích luỹ tiền gửi
động vật, cực bắc và cực nam trong thanh nam châm, điện tích dương và điện tích âm trong dòng điện, v.v.
Mâu thuẫn biện chứng là sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau của hai mặt đối lập biện chứng. Mâu thuẫn
được hình thành từ hai mặt đối lập nhưng không phải bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn.
Chỉ khi hai mặt đối lập cùng tồn tại trong cùng một sự vật, trong cùng một thời gian, về cùng một mối liên hệ
và thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau mới tạo thành mâu thuẫn. Ví dụ, đồng hoá và dị hoá trong cùng
một cơ thể động vật; cùng về một mối liên hệ ở đây là cùng về năng lượng (đồng hoá là nạp năng lượng, dị
hoá là giải phóng năng lượng); đồng hoá và dị hoá thường xuyên tác động theo nghĩa nhờ đồng hoá mà cơ
thể mới có nhu cầu dị hoá. Ngược lại nhờ dị hoá thì cơ thể mới đồng hoá được.
Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo 3 nghĩa:
Thứ nhất, các mặt đối lập nương tựa vào nhau, làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau. Như ví dụ trên, đồng
hoá làm tiền đề cơ sở cho dị hoá và dị hoá làm tiền đề cơ sở cho đồng hoá. Không có đồng hoá thì cũng
chẳng có dị hoá và ngược lại.
Thứ hai, giữa hai mặt đối lập có những yếu tố đồng nhất, giống nhau, tương đồng nhau. Trong ví dụ trên thì
đồng hoá cần đến dị hoá và dị hoá cần đến đồng hoá. Điểm giống nhau là cần đến nhau. Tương tự như nhà
đầu tư tư bản và nước ta, mặc dù là đối lập nhau nhưng có điểm chung là lợi ích. Lợi ích chính là điểm
giống nhau.
Thứ ba, giữa hai mặt đối lập có trạng thái cân bằng, tác động ngang nhau. Trong ví dụ trên, đó chính là lúc
con người không đói và cũng không khát. Đấy là lúc đồng hoá và dị hoá cân bằng nhau, tác động ngang
nhau. Trong xã hội, đó là thời kỳ quá độ. Trong thời kỳ quá độ cái cũ và cái mới đan xen nhau, chưa cái nào
thắng cái nào; xã hội mới chưa khẳng định được mình, xã hội cũ thì chưa mất hoàn toàn.
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập. Đấu
tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, vì nó diễn ra thường xuyên, liên tục, trong tất cả quá trình vận động,
phát triển của sự vật; ngay trong sự thống nhất của các mặt đối lập cũng hàm chứa những nhân tố phá vỡ
sự thống nhất đó. Vì vậy, thống nhất của các mặt đối lập là tương đối.
2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật. Bởi lẽ, khi các
mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vật còn là nó. Nhưng khi mâu thuẫn từ khác biệt trở nên gay gắt cần
giải quyết thì khi ấy sự thống nhất cũ của sự vật mất đi, xuất hiện sự thống nhất mới, chính là sự vật mới ra
đời thay thế sự vật cũ. Sự thống nhất mới này lại mâu thuẫn nhau, rồi lại được giải quyết, cứ như vậy sự
vật vận động, biến đổi, phát triển. Nói cách khác, khi hai mặt đối lập tác động lẫn nhau, cả hai mặt đối lập
Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết định việc giải quyết các mâu
thuẫn khác ở giai đoạn đó của sự vật.
Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn
không đối kháng.
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoàn người, những nhóm xã hội có lợi ích cơ
bản đối lập nhau không thể điều hoà. Ví dụ, mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích
nhưng đó không phải là lợi ích cơ bản, mà chỉ là lợi ích cục bộ, tạm thời. Ví dụ, mâu thuẫn giữa công nhân
và nông dân về những lợi ích tạm thời nào đó.
Từ trên rút ra nội dung quy luật mâu thuẫn: Mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến
đổi ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập. Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn. Các mặt
đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hoá lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và
phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.
4. Ý nghĩa phương pháp luận
Cần phải thấy được động lực phát triển của sự vật không phải ở ngoài sự vật mà là những mâu thuẫn trong
bản thân sự vật.
Mâu thuẫn là khách quan, phổ biến nên nhận thức mâu thuẫn là cần thiết và phải khách quan. Không nên
sợ mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn.
Trong hoạt động thực tiễn phải biết xác định trạng thái chín muồi của mâu thuẫn để giải quyết kịp thời.
Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi, cho nên không được giải quyết mâu thuẫn
nóng vội khi chưa có điều kiện chín muồi, nhưng cũng không được để việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra tự
phát. Nếu điều kiện chưa chín muồi có thể thông qua hoạt động thực tiễn để thúc đẩy điều kiện nhanh đến.
IV. QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
1. Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng
Phủ định là khái niệm chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển.
Phủ định siêu hình là sự phủ định sạch trơn, sự phủ định không tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo,
không tạo cho cái mới ra đời, lực lượng phủ định là ở bên ngoài sự vật.
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tự phủ định, sự phủ định tạo tiền đề cho sự phát
triển tiếp theo của sự vật, sự phủ định tạo tiền đề cho cái mới ra đời thay thế cái cũ, lực lượng phủ định ở
ngay trong bản thân sự vật.
Trong chương này, anh/chị cần ghi nhớ:
1. Quy luật là gì; căn cứ để phân loại quy luật; sự khác nhau giữa quy luật mà triết học nghiên cứu với các
quy luật mà các khoa học chuyên ngành nghiên cứu.
2. Hiểu được nội dung và ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ ba quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật.
3. Anh/chị cố gắng vận dụng những hiểu biết khi học quy luật này vào học tập và lý giải một số vấn đề nảy
sinh từ cuộc sống. Làm được như vậy, anh/chị sẽ thấy thích thú hơn khi học những quy luật này.
Chúc anh/chị thành công!
CÂU HỎI SUY LUẬN
Câu hỏi 1: Tại sao không gọi là quy luật phủ định mà phải gọi là “quy luật phủ định của phủ định”?
Gợi ý: Vì phải qua 2 lần phủ định biện chứng, sự vật mới dường như quay trở về điểm ban đầu nhưng cao
hơn về chất. Nếu chỉ một lần phủ định thì chưa hoàn thành một chu kỳ phát triển của sự vật.
Câu hỏi 2: Phải qua ít nhất mấy lần phủ định thì kết thúc một chu kỳ phát triển của sự vật?
Gợi ý: ít nhất phải qua 2 lần, trong thực tế có sự vật phải qua nhiều lần phủ định biện chứng mới kết thúc
một chu kỳ phát triển.
Câu hỏi 3: Có trên thực tế không, có sự vật phải qua 3, 4, 5 lần mới kết thúc một chu kỳ phủ định của phủ
định? (có, tìm ví dụ nuôi tằm).
Câu hỏi 4: Tập lập luận phân tích nhận định: Nếu ai bắn vào quá khứ bằng súng ngắn (lục), thì tương lai sẽ
bắn vào anh ta bằng đại bác.
Gợi ý: Phủ định quá khứ ít thì bị tương lai (hiện tại đối với tương lai là quá khứ) phủ định hàng nghìn lần;
nghĩa là, phải có thái độ đúng đối với quá khứ, không được phủ định sạch trơn.
Câu hỏi 5: Phá huỷ một cái cây không cho nó phát triển nữa có phải là phủ định biện chứng không?
Gợi ý: Không phải là phủ định biện chứng vì đó là phá huỷ hoàn toàn, không tạo tiền đề cho sự vật phát
triển tiếp theo, lực lượng phủ định lại là con người ở bên ngoài sự vật.
Câu hỏi 6: Ta cho các tập đoàn kinh tế tư bản vào kinh doanh ở nước ta có đi ngược với quy luật mâu
thuẫn không?
Gợi ý: Ta và chủ nghĩa tư bản nói chung (các tập đoàn kinh tế tư bản nói riêng) là mâu thuẫn, đối lập nhau.
Nhưng ta cho phép họ vào kinh doanh lại không mâu thuẫn với quy luật mâu thuẫn, cụ thể là không trái với
quan điểm của triết học Mác-Lênin về thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Cụ thể ở đây là giữa ta
và các tập đoàn kinh tế tư bản này có điểm chung đó là lợi ích. Theo quy luật mâu thuẫn thì ở đây có sự