Chủ đề 2 :Các dịch vụ ngân hàng truyền thống và hiện đại của hệ thống ngân hàng Việt Nam pot - Pdf 12

Chủ đề 2:
 Các dịch vụ ngân hàng truyền thống và hiện đại của hệ thống ngân hàng
Việt Nam?
 Các dịch vụ nào nên được cung cấp từ ngày khai trương và những dịch vụ
nào nên được cung cấp khi ngân hàng phát triển?
1. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
1.1. Khái niệm
Theo cuốn “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại” của tác giả David Cox, hầu hết các
hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng.
Cụ thể hơn, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn,
tiền tệ, thanh toán… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu
kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản… của họ, nhờ đó ngân hàng
thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí.
Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất trong các loại hình
dịch vụ tài chính; và nó là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính.
Trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO thì dịch vụ ngân hàng được chia
thành 12 phân ngành cụ thể:
 Nhận tiền gửi và các khoản tiền gửi từ công chúng.
 Cho vay dưới mọi hình thức bao gồm: cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao
thanh toán, và các khoản tài trợ cho các giao dịch thương mại khác.
 Cho thuê tài chính.
 Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi
nợ, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng.
 Bảo lãnh và cam kết thanh toán.
 Tự doanh hoặc kinh doanh trên tài khoản của khách hàng, kể cả trên thị
trường tập trung, thị trường OTC hoặc các thị trường khác.
 Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại
lý phát hành (cả phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các
dịch vụ liên quan đến hoạt động phát hành.
 Môi giới tiền tệ.
 Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức

trò quan trọng trong nền kinh tế. Thông qua huy động vốn các ngân hàng thương
mại sẽ thu hút được các khoảng tiền tiết kiệm của dân chúng, tiết kiệm của nền
kinh tế và sử dụng nguồn vốn thu hút được (sau khi đã trích dự trữ bắt buộc theo
qui định) để cho vay.
Các NHTM triển khai dịch vụ huy động vốn trong tất cả các thành phần
kinh tế để nhận tiền gửi và bảo quản hộ người gửi tiền với cam kết hoàn trả đúng
hạn.
2.1.2. Dịch vụ chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá
Việc ngân hàng mua các thương phiếu và chứng từ có giá ngắn hạn chưa
đến hạn thanh toán gọi là chiết khấu. Nghiệp vụ chiết khấu giúp các chủ sở hữu
chứng từ khôi phục năng lực thanh toán. Đây là nghiệp vụ được ưa chuộng không
những đối với khách hàng mà còn cả với ngân hàng vì đây là nghiệp vụ cho vay
có đảm bảo bằng chứng từ có giá, rủi ro tín dụng ở mức độ thấp.
2.1.3. Dịch vụ cho vay
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp
nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả
tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi
suất.
Hoạt động cho vạy bao gồm cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho
vay chiết khấu giấy tờ có giá… Tuỳ theo nhu cầu về thời gian vay vốn của khách
hàng mà ngân hàng áp dụng các hình thức cho vay theo cung cầu trên thị trường
hoặc theo quan hệ tín nhiệm lẫn nhau để áp dụng mức lãi suất cho vay phù hợp
với từng đối tượng cho vay.
2.1.4. Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ thanh toán là loại hình dịch vụ mà thông qua đó các ngân cung
cấp các tiện ích về các phương thức thanh toán cho các đối tượng khách hàng.
Hầu hết các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng trong nước và nước
ngoài đều được thực hiện qua ngân hàng. Nhờ việc nắm giữ tài khoản của khách
hàng, đồng thời thông qua việc kiểm soát chứng từ thanh toán mà các ngân hàng
hoàn toàn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, do sức ép cạnh tranh giữa các
tổ chức tài chính ngày càng lớn và yêu cầu đòi hỏi của người sử dụng cũng ngày
càng cao và đặc biệt là do sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, dịch vụ
ngân hàng không ngừng được cải tiến và dịch vụ ngân hàng hiện đại đã ra đời.
Các ngân hàng có thể đưa ra thị trường những dịch vụ hoàn toàn mới hoặc cung
cấp những dịch vụ truyền thống theo phương thức mới có hàm lượng công nghệ cao.
Dịch vụ ngân hàng hiện đại được hiểu bao gồm những dịch vụ ngân hàng truyền
thống được nâng cấp, phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại và những dịch vụ
hoàn toàn mới được cung cấp nhằm đem lại những tiện ích mới cho người sử dụng.
Ngoài các đặc điểm đặc điểm chung cơ bản như tất cả các dịch vụ ngân hàng
khác như: tính vô hình, tính không thể tách biệt hay không chia cắt, tính không ổn
định và khó xác định, dịch vụ ngân hàng hiện đại còn có một số đặc điểm riêng, đó
là:
 Thứ nhất, các dịch vụ ngân hàng hiện đại đều được phát triển dựa trên
nền tảng công nghệ hiện đại.
 Thứ hai, các dịch vụ ngân hàng hiện đại thường là các sản phẩm dịch vụ
mang tính trọn gói, vì thế đòi hỏi các ngân hàng phải thường xuyên bổ
sung và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Một số dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại như:
2.2.1. Dịch vụ thẻ ngân hàng
Thẻ ngân hàng là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt rất tiện lợi; ngân
hàng cấp thẻ cho khách hàng có tài khoản dùng để thanh toán tiền mua hàng, chi
trả tiền dịch vụ, hay rút tiền mặt tự động (thông qua các máy đọc thẻ (POS), hay
các máy rút tiền tự động ATM) trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn
mức tín dụng được cấp. Công nghệ thanh toán bằng thẻ có nhiều ưu điểm so với
thanh toán bằng tiền mặt như: tập trung vốn tiền gửi vào ngân hàng, giảm thiểu rủi
ro, chống tham nhũng và trốn thuế… nên đã đi vào cuộc sống. Hiện nay, chúng ta
có các sản phẩm thẻ phổ biến là: thẻ tín dụng (credit card), thẻ ghi nợ (debit card,
ATM).
Thẻ tín dụng

dịch vụ nộp, rút tiền mặt, dịch vụ kiểm đếm tiền mặt, dịch vụ cất giữ, dịch vụ chi
lương trực tiếp, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng…
2.2.3. Dịch vụ thanh toán tiền điện tử
Dịch vụ này cho phép một doanh nghiệp, một cá nhân hay bất kỳ tổ chức
nào khác dù có hay không có tài khoản tại ngân hàng có thể trả tiền vào tài khoản
của một người khác ở ngân hàng đó hay tại một ngân hàng khác. Khách hàng là
doanh nghiệp thường sử dụng dịch vụ này để thực hiện thanh toán cho các nhà
cung cấp, các chủ nợ… Khách hàng cá nhân thường sử dụng dịch vụ này để
chuyển tiền cho người thân ở xa hay gửi tiền cho con đi học… Dịch vụ này rất
hữu ích do chi phí thấp, chuyển tiền nhanh, an toàn, thuận lợi.
2.2.4. Dịch vụ bảo quản và ký gửi
Ngân hàng nhận bảo quản các cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các hợp
đồng bảo hiểm, các chứng thư tài sản, di chúc và các tài sản có giá khác. Những
thứ này có thể được bảo quản theo phương thức “mở” trong đó biên lai sẽ ghi chi
tiết những gì được lưu trữ, hoặc theo phương thức “kín” được lưu giữ trong những
chiếc hộp khoá kín hay những phong bì dán kín…
2.2.5. Dịch vụ cho thuê tài chính
Đây là phương thức mà các doanh nghiệp nhờ đó mà có thể có được
những cấu kiện máy, thiết bị, xe cộ… mà không cần đầu tư vốn. Các doanh
nghiệp thiếu vốn cần mua sắm tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh,
họ có thể đến các công ty thuê mua để thuê tài sản và trả một khoản phí theo
thương lượng giữa hai bên, tài sản này vẫn thuộc quyền sở hữu của các công ty
cho thuê, doanh nghiệp được sử dụng trong thời gian thuê.
2.2.6. Dịch vụ thư bảo đảm thực hiện đấu thầu
Các khách hàng của ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp xây
dựng, khi tham gia đấu thầu phải cung cấp một thư bảo lãnh dự thầu trước khi
được phép đấu thầu một hợp đồng. Thư bảo lãnh dự thầu cho biết rằng công ty sẽ
thực hiện những cam kết khi công ty trúng thầu. Một ngân hàng thường được yêu
cầu cung cấp một thư đảm bảo như vậy và khi cấp thư thường có cam kết đền bù
những thiệt hại trong trường hợp khách hàng trúng thầu không thực hiện hợp đồng

Ngân hàng mua trái phiếu của doanh nghiệp và có cam kết rằng nếu dự án
bị lỗ thì ngân hàng sẽ không thu lãi hoặc thu lãi một phần. Sản phẩm này nhằm
nâng cao trách nhiệm của ngân hàng trong việc chia sẻ rủi ro của dự án mà ngân
hàng tài trợ.
2.2.12. Dịch vụ ngân hàng điện tử
Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống các dịch vụ được cung cấp cho
phép khách hàng truy nhập từ xa đến ngân hàng. Các dịch vụ này được phát triển
dựa trên cơ sở ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin. Các dịch vụ này nhằm
giúp khách hàng thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính
dựa trên các khoản lưu kí tại ngân hàng. Các dịch vụ ngân hàng điện tử bảo gồm:
• Phone banking: là hệ thống tự trả lời các thông tin về dịch vụ, sản phẩm.
Nhờ dịch vụ này khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản, kiểm tra các
giao dịch gần nhất, nhận thông tin về tỷ giá, lãi suất, yêu cầu ngân hàng
fax các bảng sao kê, tỷ giá hoặc lãi suất cho khách hàng thông qua máy
điện thoại bàn.
• Internet banking: khách hàng có thể tìm kiếm thông tin về sản phẩm
dịch vụ của ngân hàng, truy nhập thông tin về tài khoản cá nhân như số
dư, các giao dịch của tài khoản qua internet.
• Mobile banking: khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản, liệt kê giao
dịch, thông báo số dư, tỷ giá và lãi suất tự động, thanh toán hoá đơn tiền
điện, nước, điện thoại, internet và nạp tiền vào thẻ thông qua điện thoại di
động.
• Home banking: khách hàng có thể thực hiện hầu hết các giao dịch tại nhà
hoặc văn phòng làm việc của mình mà không cần đến ngân hàng. Khách
hàng sử dụng dịch vụ này phải cài đặt chương trình của ngân hàng cung
cấp để kết nối với ngân hàng.
• SMS banking: khách hàng có thể truy vấn thông tin và giao dịch với
ngân hàng bằng điện thoại di động theo cú pháp nhắn tin quy định trước,
nhắn tin tới số tổng đài mà ngân hàng cung cấp.
• Ví điện tử: khách hàng có thể thanh toán các giao dịch mua bán, trao đổi

2.2.16. Dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường là ngân hàng lớn) cung
cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát
hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
Dịch vụ quản lý đầu tư
Đây là dịch vụ phù hợp cho khách hàng là tư nhân đã có đầu tư bào thị
trường chứng khoán hoặc những ai muốn đầu tư theo cách này. Để quản lý tốt các
khoản đầu tư, cần phải có thời gian và kỹ năng chuyên môn mà các ngân hàng có
khả năng cung cấp trên cơ sở một khoản phí nào đó.
Dịch vụ này dành cho tất cả các khách hàng tư nhân là người đầu tư dài
hạn, không dành cho những nhà đầu tư tìm kiếm thu nhập ngắn hạn, muốn thay
đổi liên tục trong đầu tư. Đối với khách hàng là doanh nghiệp, ngân hàng có
những chính sách quản lý đầu tư đặc biệt riêng.
3. CUNG CẤP DỊCH VỤ
3.1. Các dịch vụ nên được cung cấp từ ngày khai trương
3.2. Các dịch vụ nên được cung cấp khi ngân hàng phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status