Tiêu luận: CƠ CHẾ VÀ CẤU TRÚC CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP pot - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ

BÀI TẬP NHÓM
CƠ CHẾ VÀ CẤU TRÚC CỦA
THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Lớp : EC012_1_111_T06
Thành viên nhóm MSSV
1. Trương Vũ Bảo Dung 030125090152
2. Hồ Phú Lộc 030125090452
3. Dương Bá Ngoạt 030124080560
4. Huỳnh Thị Kim Thoa 030125090742
1
TP. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2011
2
MỤC LỤC
Nhóm thực hiện 3
Danh mục từ viết tắt 4
Lời nói đầu 5
1. Cơ chế của thị trường Việt Nam 6
1.1. Khái niệm 6
1.2. Đặc điểm 6
1.3. Các chủ thể tham gia thị trường 6
1.4. Tỷ giá hối đoái 6
2. Cấu trúc của thị trường ngoại hối Việt Nam 7
2.1. Căn cứ vào sự can thiệp của Nhà nước 7
2.1.1. Thị trường ngoại hối chính thức 7
2.1.2. Thị trường ngoại tệ ngầm 11
2.2. Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ 13
2.2.1. Thị trường giao ngay 13

- Làm slide trình chiếu phụ.
Do học khác khóa,
khác lớp nên khó
khăn trong việc họp
nhóm. Tuy nhiên có
đóng góp rất nhiều
vào cấu trúc bài làm.
Huỳnh Thị Kim
Thoa
030125090742 - Nội dung: Cơ chế hoạt động
thị trường ngoại hối Việt Nam.
- Làm slide phụ.
- Thông tin liên lạc
- Thuyết trình
Nhóm trưởng
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTM: Ngân hàng Thương mại
NHTW: Ngân hàng Trung ương
TGHĐ: Tỷ giá hối đoái
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TTNH: Thị trường ngoại hối
TTNTLNH: Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
5
LỜI MỞ ĐẤU
Trong xu thế hội nhập ngày nay, cụm từ thị trường ngoại hối đã không còn xa lạ với bất
kỳ ai, hay với bất kỳ quốc gia nào. Trong khi thị trường ngoại tệ ở các nước phát triển đã
đạt được những bước tiến lớn, cung cấp cho khách hàng những công cụ đầy đủ và hiện đại,
cấu trúc chặt chẽ và cơ chế tỷ giá rõ ràng; thì thị trường ngoại hối Việt Nam vẫn đang trong

1.3. Các chủ thể tham gia thị trường
1.3.1. Ngân hàng thương mại (NHTM): Các NHTM tham gia thị trường với hai động
cơ chủ yếu: Một là vì đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng; hai là vì quyền lợi của
mình, NHTM dùng ngân quỹ của mình để mua bán ngoại tệ tìm kiếm chênh lệch giá, tạo
lợi nhuận.
1.3.2. Ngân hàng Trung ương (NHTW): NHTW với tư cách là cơ quan quản lý vĩ mô,
không vì mục tiêu lợi nhuận. Mục tiêu chủ yếu là bình ổn tỷ giá hối đoái, nhằm điều hành
thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
1.3.3. Nhà môi giới: Các nhà môi giới là cầu nối giữa cung cầu ngoại tệ. Do tiếp cận
thường xuyên với các chủ thể khác trên thị trường nên họ có được thông tin cập nhật giúp
cho sự gặp gỡ giữa cung và cầu nhanh chóng, thuận tiện hơn và từ đó thị trường hoạt động
có hiệu quả hơn.
1.3.4. Doanh nghiệp, cá nhân: Thành phần này khi tham gia thị trường nhằm mua bán
ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình. Sử dụng các công cụ: forward, future,
swap… để hạn chế rủi ro hối đoái.
1.4. Tỷ giá hối đoái (TGHĐ)
1.4.1. Khái niệm: TGHĐ là tương quan giá trị trao đổi giữa hai đồng tiền. Hay nói cách
khác, TGHĐ là giá cả của đồng tiền quốc gia này được biểu hiện ở một đồng tiền khác. Ở
nước ta đó là tương quan giá trị trao đổi giữa VND và các đồng tiền khác.
1.4.2. Phương pháp biểu hiện tỷ giá: trên thế giới có hai phương pháp yết giá:
+ Phương pháp gián tiếp: một đơn vị nội tệ được biểu hiện gía trị của nó thông qua
một số lượng biến đổi ngoại tệ.
+ Phương pháp trực tiếp: một đơn vị ngoại tệ biểu hiện giá trị của nó thông qua một số
lượng biến đơn vị nội tệ. Nước ta sử dụng phương pháp yết giá theo phương pháp này.
1.4.3. Một số loại tỷ giá
+ Tỷ giá chính thức: do cơ quan nhà nước về tiền tệ quy định, là cơ sở cho việc quản lý
ngoại hối, kinh doanh ngoại tệ, xác định thuế xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế.
+ Tỷ giá chợ đen: phản ảnh tương quan cung cầu trên thị trường tự do quyết định.
+ Tỷ giá giao dịch bình quân: Được xác định trên cơ sở bình quân của tất cả các tỷ giá
giao dịch trong một thời gian nhất định trên thị trường liên ngân hàng.

2. Cấu trúc thị trường ngoại hối Việt Nam
8
2.1. Căn cứ vào sự can thiệp của Nhà nước
Căn cứ vào sự can thiệp của Nhà nước, thị trường ngoại hối Việt Nam được chia thành
Thị trường ngoại hối chính thức và thị trường ngoại hối không chính thức.
2.1.1. Thị trường ngoại hối chính thức
2.1.1.1. Trung tâm giao dịch ngoại tệ
Thống đốc NHNN ra quyết định 107-NH/QĐ, ngày 16/8/1991 ban hành quy chế hoạt
động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ, tạo tiền đề cho sự ra đời của hai Trung tâm giao
dịch ngoại tệ tại TP. HCM và Hà Nội.
+ Mục đích hoạt động
- Nhằm hình thành một TTNH có tổ chức ở Việt Nam. Giúp NHNN nắm bắt được thực
tế về cung cầu ngoại tệ, đồng thời tăng cường công tác giám sát việc quản lý vĩ mô của nhà
nước về tiền tệ. NHNN từng bước bổ sung quỹ ngoại tệ và tiến tới can thiệp thị trường
trong cả nước, xác định một tỷ gía hợp lý phản ánh đúng sức mua của đồng VND.
- Là bước đệm cho TTNH hoàn chỉnh ở Việt Nam.
+ Đối tượng tham gia: Các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ, Các tổ chức xuất
nhập khẩu kinh doanh trực tiếp với nước ngoài, các đơn vị, tổ chức kinh doanh dịch vụ thu
ngoại tệ và cuối cùng là Ngân hàng Nhà nước Trung ương.
+ Tổ chức của Trung tâm: Do một ban điều hành lãnh đạo, gồm 3 đại diện của NHNN
và 4 đại diện của các Ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Chủ tịch ban điều hành là
đại diện của NHNN. Ban điều hành do Thống đốc NHNN chỉ định. Ban điều hành chịu
trách nhiệm giám sát việc tổ chức thực hiện thông qua Tổ nghiệp vụ thị trường.
+ Thời gian giao dịch: Tổ chức đấu giá vào 14h thứ Ba và thứ Sáu hàng tuần.
+ Đồng tiền giao dịch: Đô la Mỹ và Đồng Việt Nam
+ Tỷ giá áp dụng: Là tỷ giá được ấn định khi đạt được cân bằng cung cầu về ngoại tệ.
Khi cung lớn hơn cầu thì tỷ giá giảm và ngược lại.
+ Số lượng ngoại tệ cho mỗi lần giao dịch: tối thiểu là $10.000
+ Thời hạn thanh toán: Không quá hai ngày làm việc sau ngày giao dịch (không tính
ngày nghỉ). Chậm thanh toán sẽ bị phạt, mức phạt theo quy định của từng thời kỳ.

+ Các đồng tiền giao dịch: chủ đạo gồm 6 ngoại tệ : Đô la Mỹ (USD), Mác Đức
(DEM), Bảng Anh (GBP), Phrăng Pháp (FRP), Yên Nhật (JPY), Đô la Hongkong (HKD).
+ Thời gian giao dịch: vào tất cả các ngày làm việc, sáng 8h-11h, chiều 13h30-15h30.
+ Số lượng ngoại tệ giao dịch: Số lượng giao dịch ngoại tệ phải chẵn đến hàng chục
nghìn. Tối thiểu là 50 000 USD hoặc tương đương cho mỗi lần giao dịch.
+ Các loại nghiệp vụ: Trước mắt TTNTLNH thực hiện nghiệp vụ mua bán giao ngay
(Spot), ngoài ra các thành viên có thể thực hiện nghiệp vụ mua bán kỳ hạn.
+Tỷ giá giao dịch: Tỷ giá giao dịch giữa các thành viên dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức
của NHNN và biên độ giao động do Thống đốc quy định. Tỷ giá giao dịch giữa NHNN và
các thành viên do giám đốc sở NHNN quy định.
+ Phương thức giao dịch: điện thoại, Telex, Fax, hoặc qua mạng vi tính.
+Trình tự chào tỷ giá: Đầu tiên chào tỷ giá mua vào và bán ra (theo phương pháp yết tỷ
giá trực tiếp), tiếp theo là chào số lượng ngoại tệ mua bán; sau khi thương lượng, nếu chấp
nhận mua bán, hai bên tiến hành các thủ tục thanh toán bằng chuyển khoản thông qua các
tài khoản mở tại NHNN hoặc Ngân hàng Nước ngoài.
+ Thời hạn thanh toán
Đối với giao dịch giao ngay: trong hai ngày làm việc tiếp theo.
Đối với giao dịch kỳ hạn: ngày giá trị là ngày cụ thể trong tương lai và được tính kể từ
ngày ký hợp đồng cộng với thời gian hợp đồng, và cộng với hai ngày làm việc tiếp theo.
+ Về tổ chức và điều hành: NHNN là một thành viên, đồng thời là tổ chức giám sát và
điều hành TTNTLNH. Chủ tịch TTNTLNH là một lãnh đạo NHNN (Phó thống đốc), chủ
tịch là người lãnh đạo mọi hoạt động của TTNTLNH. Giám đốc Sở giao dịch NHNN là
người điều hành trực tiếp.
Sau thời gian hoạt động, TTNTLNH mang lại nhiều chuyển biến tích cực. Đồng thời
với sự ra đời của luật NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng, nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triền TTNTLNH, ngày 26/3/1999 Thống đốc NHNN đã ra quyết định 101/1999/QĐ-NHNN
13, thay đổi trong quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH, nhìn chung thì không có
10
sự thay đổi trong căn bản, tuy nhiên quyết định 101 đã đưa ra những quy chế cụ thể hơn,
chặt chẽ hơn:

ngoại hối có ghi rõ: “Việc lưu thông ngoại tệ trong nước chỉ được thực hiện thông qua ngân
hàng và các tổ chức kinh doanh, dịch vụ được phép thu ngoại tệ. Nghiêm cấm việc mua
bán, trao đổi ngoại tệ trên thị trường ngầm”
Như vậy thị trường ngoại tệ ngầm (còn gọi là thị trường không chính thức hay chợ đen)
không được pháp luật công nhận, hoạt động của nó là phi pháp. Nhưng thực tế, thị trường
ngoaị tệ ngầm vẫn tồn tại và phát triển song song với thị trường có tổ chức.
+ Nguyên nhân tồn tại thị trường ngoại tệ ngầm
- Trong một thời gian dài, chế độ tỷ giá VND là chế độ tỷ giá cố định, cùng với lạm phát
cao, làm cho tỷ giá chính thức VND/USD luôn thấp hơn tỷ giá thị trường cung cầu, từ đó
đã khiến cho thị trường ngoại tệ ngầm hình thành và phát triển.
- Thị trường ngoại hối chính thức hình thành nhưng còn kém phát triển, chưa thể đáp
ứng nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế.
- Chừng nào các hoạt động kinh tế ngầm, hiện tượng đô la hóa còn phát triển, thì chừng
đó nhu cầu ngoại tệ và các nhu cầu ngoại tệ trên thị trường ngầm còn tồn tại và phát triển.
- Lượng kiều hối hàng năm chuyển về Việt Nam tương đối lớn, khoảng 2 tỷ USD, dân
có tâm lý thích USD cùng với lượng ngoại hối lớn, tạo ra lượng ngoại tệ nằm trong dân rất
lớn, dẫn tới thanh toán bằng ngoại tệ trở nên phổ biến.
+ Các hình thức hoạt động tại thị trường ngoại tệ ngầm: Các cửa hàng kinh doanh
vàng bạc đá quý đồng thời buôn bán ngoại tệ tiền mặt; chuyển kiều hối, chuyển tiền qua
biến giới không thông qua hệ thống ngân hàng dưới nhiều hỉnh thức; các sạp đổi tiền dọc
biên giới nơi các hoạt động buôn lậu diễn ra.
+ Phương thức hoạt động trên thị trường ngoại tệ ngầm: chủ yếu là phương thức
trao tay. Đồng tiền giao dịch chủ yếu là đồng USD, ngoài ra còn có một số ngoại tệ khác
nhưng khối lượng giao dịch là rất bé.
11
+ Tỷ giá trên thị trường ngoại tệ ngầm: do cung cầu trên thị trường này quyết định,
tuy nhiên cũng chịu sự chi phối của thị trường chính thức.
+ Quy mô hoạt động: Thực tế rất khó có thể đánh giá một cách chính xác quy mô hoạt
động của thị trường ngoại tệ ngầm. Lượng ngoại tệ do các tầng lớp nhân dân nắm giữ nằm
ngoài hệ thống ngân hàng là rất lớn. Tuy nhiên theo ước tính thì thị phần của thị trường

Nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ mua hay bán ngoại tệ mà việc chuyển giao được thực
hiện ngay lập tức hay là chậm nhất là sau 2 ngày kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán.
12
Thống đốc NHNN đã ban hành quyết định 203/QĐ-NH ngày 20/10/1994 thành lập
TTNTLNH và ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH. Trong đó có quy
định về nghiệp vụ được thực hiện là nghiệp vụ giao ngay và cũng có nghiệp vụ kỳ hạn.
Thị trường giao ngay là thị trường rất sôi động, giao dịch với khối lượng tiền cực lớn với
tốc độ giao dịch nhanh như tia chớp nhằm tận dụng những cơ hội chênh lệch tỷ giá dù là
cực nhỏ. Đối tượng mua bán trong một giao dịch ngoại hối giao ngay là các khoản tiền gửi
Ngân hàng ghi bằng các đồng tiền khác nhau.
2.2.2. Thị trường kỳ hạn:
Nghiệp vụ kỳ hạn là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận sẽ được thực hiện
sau một thời gian nhất định theo tỷ giá thỏa thuận lúc ký kết hợp đồng. Giao dịch kỳ hạn có
rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày.
Thị trường kỳ hạn là một thị trường lớn và rộng khắp thế giới. Những thành viên của thị
trường là các ngân hàng, các công ty và các chính phủ. Hai bên ký kết hợp đồng kỳ hạn
phải đồng ý thực hiên nghĩa vụ với nhau, tức là mỗi bên phải chấp nhận rủi ro tin dụng của
bên kia. Ứng dụng của hợp đồng kỳ hạn:
- Bảo hiểm thanh toán nhập khẩu
- Bảo hiểm khoản thu xuất khẩu
- Bảo hiểm khoản đầu tư bằng ngoại tệ
- Bảo hiểm khoản vay bằng ngoại tệ
Ở Việt Nam thì giao dịch kỳ hạn chính thức ra đời từ khi NHNN ban hành quy chế hoạt
động giao dịch hối đoái kèm theo quyết định 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/1/1998, quy
định giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua bán với nhau
một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việc thanh toán sẽ thực hiện trong
tương lai. Ra đời năm 1998 nhưng nhu cầu giao dịch hợp đồng này vẫn chưa nhiều.
12/8/2011, NHNN phối hợp với Ngân hàng Standard Chartered tổ chức Toạ đàm về kinh
nghiệm quốc tế trong phát triển thị trường ngoại hối kỳ hạn và các sản phẩm phái sinh.
2.2.3. Thị trường hoán đổi

hữu hiệu trong việc điều tiết cung cầu ngoai tệ trên TTNH.
Tăng cường dự trữ ngoại tệ vào NHNN, đảm bảo mức dự trữ cần thiết tối thiểu, tạo đủ
nguồn để NHNN can thiệp kịp thời, giúp cho hoạt động TTNH được ổn định và thông suốt.
+ Hoàn thiện phương pháp công bố tỷ giá
Cần phải tính và công bố tỷ chính thức tỷ giá thực đa biên của VND với các ngoại tệ
sớm nhất. Đồng thời cần duy trì một tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định trong thời gian dài
+ Hoàn thiện và mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
NHNN cần phải tăng dần hàm lượng các biến số thị trường trong việc xác định tỷ giá, để
tỷ giá phản ánh thực chất quan hệ cung cầu. Ở Việt Nam, do tính thanh khoản của TTNH
chưa cao nên việc mua bán ngay một lượng ngoại tệ không phải lúc nào cũng được thực
hiện. Vì thế cần phải mở rộng các nghiệp vụ như quyền chọn hay tương lai; ngoài mục đích
phòng chống rủi ro tỷ giá, hợp đồng quyền chọn bảo đảm khách hàng được mua ngoại tệ.
+ Đào tạo cán bộ và trang thiết bị hiện đại
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn mới mẻ với Việt Nam, tính chất nghiệp vụ phức tạp,
nên công tác đào tạo và đào tạo lại phải được coi trọng và phải tiến hành thường xuyên.
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tài liệu điện tử
1. http://baodientu.vn/
2. http://vneconomy.vn/
3. http://vnexpress.net/GL/Home/
4. http://tuoitre.vn/
5. http://vovnews.vn/
6. Đinh Tuấn Minh, Cải cách Thị trường ngoại hối chính thức để xóa bỏ chợ đen,
[http://news.go.vn/tin/20185/Cai-cach-thi-truong-ngoai-hoi-chi-nh-thu-c-de-xoa-bo-cho-
den.htm, 16/3/2011]
7. Tố Uyên, Thị trường ngoại hối Việt Nam- diễn biến và xu thế,
[http://www.petrotimes.vn/dien-dan-kinh-te/2011/09/thi-truong-ngoai-hoi-viet-nam-dien-
bien-va-xu-the, 13/9/2011]
8. Bước đột phá trên thị trường ngoại hối, [http://vietbao.vn/Kinh-te/Buoc-dot-pha-tren-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status