Lời nói đầu
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong từng giai đoạn lịch sử và phát triển kinh tế xã hội của đất nớc các hợp
tác xã đã có sự đóng góp to lớn trong sự phát triển chung của nền kinh tế nớc
nhà, đặc biệt trên lĩnh vực sản xuất lơng thực, thực phẩm, cung cấp nguồn
nhân lực, lơng thực trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giải
quyết chính sách xã hội địa phơng.
Đến nay sau 10 năm đổi mới, kinh tế hợp tác và hợp tác xã đã có những bớc
thay đổi; ruộng đất, các t liệu sản xuất chủ yếu khác đã đợc giao lại hoặc bán
hoá giá cho hộ gia đình xã viên. Hộ xã viên đợc thừa nhận là đơn vị kinh tế tự
chủ; một số hợp tác xã đã chuyển sang hoạt động dịch vụ cho hộ xã viên..Tuy
nhiên cũng còn những hợp tác xã lúng túng trong chuyển đổi, nhiều hợp tác
xã mất hết vai trò đối với xã viên và trở nên hình thức, hoặc bị giải
thể...Trong khi đó Luật hợp tác xã ra đời, nhng việc thực hiện và vân dụng
luật còn gặp nhiều khó khăn, triển khai chậm, quan điểm, nhận thức Luật hợp
tác xã, sự đánh giá thực trạng kinh tế hợp tác xã còn thiếu nhất quán.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu chuyên đề Thực trạng và những giải pháp
chủ yếu phát triển các hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam là cần thiết, đáp
ứng nhu cầu cấp thiết hiện nay.
2. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở phân tích đặc điểm kinh tế xã hội, các nhân tố tác động để đánh
giá một cách toàn diện khách quan thực trạng kinh tế của các hợp tác xã hiện
nay, nhằm rút ra những nhận xét, kết luận đúng đắn, nguyên nhân thành công
và không thành công, những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết và đề xuất một
số giải pháp nhằm phát triển hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
1
Đối tợng nghiên cứu: là các hợp tác xã nông nghiệp, hệ thống quản lý và các
chính sách đối với hợp tác xã.
Phạm vi nghiên cứu: cả nớc
4. Phơng pháp nghiên cứu
cùng tiến hành một công việc, một lĩnh vực hoạt động sản xuất, dịch vụ nào
đó theo kế hoạch nhằm một mục đích chung và mang lại lợi ích cụ thể cho
các thành viên tham gia hợp tác.
Kinh tế hợp tác là hình thức liên kết tự nguyện của những ngời lao động kết
hợp sức mạnh tập thể với sức mạnh của từng thành viên để giải quyết có hiệu
quả những vấn đề sản xuất kinh doanh và đời sống.
Sức mạnh của kinh tế hợp tác chính là sự liên kết trong sản xuất, kinh doanh
tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật chung ngày càng tăng lên giúp cho sản xuất
phát triển, ổn định và bền vững.
Nh vậy, kinh tế hợp tác là các loại hình tổ chức kinh tế đợc hình thành và
phát triển trên cơ sở hợp tác giữa các thành viên tham gia. Kinh tế hợp tác rất
đa dạng về hình thức, qui mô và lĩnh vực hoạt động, phát triển từ hình thức
đơn giản, qui mô nhỏ, lĩnh vực hẹp đến các hình thức phức tạp, qui mô lớn
đến rất lớn, phạm vi không dừng lại ở giới hạn không gian nào, phụ thuộc vào
sự phát triển của lực lợng sản xuất, vào nhu cầu, ý chí và lợi ích của các
thành viên tham gia.
3
2/ Vai trò của kinh tế hợp tác trong nền kinh tế Quốc dân
Kinh nghiệm của nhiều nớc và thực tiễn của Việt Nam nhiều năm qua cho
thấy: kinh tế hợp tác trong đó có hợp tác xã là tổ chức kinh tế có t cách pháp
nhân, tồn tại khách quan và luôn có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của
mọi nớc, ở mọi thời kỳ.
Tổ chức và phát triển kinh tế hợp tác không chỉ là để những ngời sản xuất
nhỏ có sức cạnh tranh chống lại sự chèn ép của các doanh nghiệp lớn mà nhìn
về lâu dài, chúng ta chủ trơng phát triển kinh tế hợp tác thành một bộ phận quan
trọng trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân cùng với kinh tế Nhà nớc (là chủ
đạo) dần trở thành nền tảng trong nền kinh tế quốc dân và đó cũng là nền tảng
chính trị xã hội của đất nớc để đạt đợc mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng văn minh.
Phát triển kinh tế hợp tác không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn có mục
Việc sản xuất hàng hoá nông sản và dịch vụ của Hợp tác xã cũng nh của
nông hộ đợc tiến hành theo yêu cầu của thị trờng xã hội.
b. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hợp tác xã.
Điều 7 Luật Hợp tác xã quy định 5 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hợp
tác xã, đó là :
Tự nguyện gia nhập và ra khỏi Hợp tác xã: Tất cả nông dân và những ngời
lao động có đủ điều kiện theo quy định của Luật Hợp tác xã, tán thành điều lệ
Hợp tác xã nông nghiệp, đều có thể trở thành xã viên Hợp tác xã nông nghiệp.
Xã viên có quyền ra khỏi Hợp tác xã theo quy định chung và điều lệ của từng
Hợp tác xã nông nghiệp.
Quản lý dân chủ và bình đẳng: Xã viên Hợp tác xã nông nghiệp có quyền
tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của Hợp tác xã và có quyền
ngang nhau trong biểu quyết.
5
Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: Hợp tác xã nông ngiệp tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động dịch vụ và sản xuất kinh doanh, tự quyết định về
phân phối thu nhập, bảo đảm hợp tác xã và xã viên cùng có lợi.
Việc chia lãi phải bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên và sự phát triển của
hợp tác xã: Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi đợc trích một phần để
đa vào các quỹ của hợp tác xã, phần còn lại chia cho xã viên theo vốn góp, công
sức đóng góp, theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã và do Đại hội xã viên
quyết định
Hợp tác xã và phát triển cộng đồng: Xã viên phải phát huy và nâng cao ý
thức hợp tác trong hợp tác xã và trong cộng đồng xã hội, hợp tác giữa các hợp
tác xã trong nớc và ngoài nớc theo quy định của pháp luật.
c. Quyền và nghĩa vụ của Hợp tác xã nông nghiệp.
Quyền của hợp tác xã nông nghiệp:
Căn cứ vào Luật hợp tác xã, Nghị định của Chính phủ tại điều 4 cụ thể hoá
thành 12 quyền của hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp có
quyền tự chủ kinh doanh và tổ chức quản lý các hoạt động của mình nh các
Thực hiện các nghĩa vụ đối với các hoạt động trực tiếp hay thuê.
Ngoài ra phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khác theo Luật.
3. Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp trong hệ thống nông nghiệp Việt
Nam
Quá trình diễn biến và thực trạng phong trào hợp tác hoá của nớc ta trên 30
năm qua đã trải qua những bớc thăng trầm khác nhau và để lại những kết quả
tuy còn khiêm tốn nhng cũng đã khái quát đợc vai trò của hợp tác xã nông
nghiệp trong nông nghiệp nông thôn nớc ta.
Trớc hết, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp đã góp phần quan trọng trong
việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp nông thôn đặc biệt
là khai hoang, phục hoá xây dựng thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng.
Sản xuất trong các hợp tác xã nông nghiệp tuy có thăng trầm qua các giai
đoạn nhng nhìn tổng thể cả hai thời kỳ lớn (1958-1980 và 1981 đến nay) nền
7
nông nghiệp đã đạt đợc những bớc phát triển nhất định: sản lợng lơng thực
tăng do thâm canh tăng vụ, khai hoang phục hoá, áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật...
Đặc biệt hợp tác xã nông nghiệp đã đóng góp quan trọng sức ngời sức của
cho sự nghiệp giải phóng Miền Nam thống nhất đất nớc. Chế độ phân phối
bình quân bao cấp ở thời điểm cụ thể cần thiết của hợp tác xã trong thời chiến
đã tạo ra sự ổn định trong nông thôn.
Cùng với sự phát triển của các hợp tác xã, bộ mặt nông thôn có những tiến bộ
mới. Cơ sở hạ tầng đợc nâng cấp, phục hồi, xây dựng mới.
Hình thành một đội ngũ cán bộ cơ sở. Một bộ phận của đội ngũ này sẽ là
những hạt nhân gánh vác trách nhiệm đổi mới hợp tác xã sau này.
Trong giai đoạn hiện nay, hợp tác xã nông nghiệp có hai vai trò cụ thể là :
Hợp tác xã nông nghiệp là con đờng đa nông dân đến giàu có văn minh:
Mô hình hợp tác xã cũ đã giam hãm kinh tế nông nghiệp nông thôn. Việc
giải phóng tình trạng đó bắt đầu từ Chỉ thị 100 (1981) và Nghị quyết 10
(1988) đã soi sáng, đa nông dân trở thành ngời chủ mới. Sức sản xuất đợc
mở rộng hợp tác hoá ở miền Bắc để đến năm 1960 căn bản hoàn thành hợp
tác hoá.
Nhờ có hợp tác hoá bộ mặt nông thôn miền Bắc đã có những đổi thay đáng
kể và đóng góp sức ngơì sức của cho công cuộc giải phóng miền Nam và
thống nhất đất nớc.
Song mô hình tổ chức HTX kiểu tập thể hoá triệt để các loại t liệu sản xuất
trong thời gian này tự nó chứa đựng những khuyết tật cơ bản, là nguyên nhân
sâu xa dẫn đến phát sinh những hạn chế, tiêu cực trong các HTX ngay từ giai
đoạn đầu, nhng chúng ta lại cho rằng những tiêu cực ấy là do chế độ quản lý
cha hoàn thiện, rằng chúng ta đã có chế độ sở hữu (công hữu) tiên tiến, chỉ
cần hoàn thiện chế độ quản lý thì sẽ phát huy tính u việt của mô hình HTX.
Nhận rõ các hạn chế đó, Đảng và Nhà nớc ta đã tiến hành cuộc vận động cải
tiến quản lý HTX vòng một, vòng hai, vận động dân chủ áp dụng điều lệ mẫu
9
HTX. Nội dung các cuộc vận động đó đợc thể hiện rõ trong các nghị quyết
của Đảng:
Nghị quyết TW 12 khoá IIi tháng2/1961 bàn về phơng hớng phát triển
HTX.
Nghị quyết TW 5 khoá IIi - 7/1962 về vận động xây dựng HTX theo tiêu
chuẩn 4 tốt.
Nghị quyết 20 Bộ Chính trị tháng 2/1963 về vận động, cải tiến kỹ thuật
trong các HTX.
Nghị quyết TW 8 tháng 4/1963 về Đầu t.
Nghị quyết 179 của BCT tháng 3/1970 về vận động thi hành điều lệ HTX
bậc cao, và vận động về dân chủ trong HTX.
Chỉ thị 208 của Ban Bí th
Nghị quyết 61- CP, ngày 5/4/1967/
Qua ba lần thực hiện cải tiến quản lý, những tiêu cực trong các HTX tuy có
giảm ở mức độ nhất định nhng về cơ bản cha khắc phục đợc. Bởi vì những
cuộc vận động ấy vẫn cha thay đổi những nội dung cơ bản của mô hình HTX
hình tổ chức kinh tế HTX kiểu mới hoạt động, do vậy Luật HTX đã đợc ra
đời ngày 20/3/1996. Luật đã xác định rõ mô hình hợp tác xã kiểu mới và các
nội dung hoạt động của nó.
Từ Đại hội Đảng VI đến nay nhà nớc đã có những chính sách đổi mới nh:
Khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong các
ngành và lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế hợp tác xã , đợc khẳng
định cùng với kinh tế nhà nớc dần trở thành nền tảng của nền kinh tế, đồng
thời thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hợp tác xã phải đi đôi với sự phát triển
đa dạng các hình thức KTHT từ thấp đến cao, hợp tác xã là bộ phận nòng cốt
của KTHT.
Trong lĩnh vực nông nghiệp KTHT với bộ phận nòng cốt là các hợp tác xã
sản xuất nông nghiệp đợc nhận thức lại và đổi mới trên cơ sở Nghị quyết10
11
của Bộ Chính trị ngày 5/4/1988 về : Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp
theo hớng:
Hợp tác xã , TĐSX là tổ chức kinh tế tự nguyện của nông dân lập ra dới sự
lãnh đạo của Đảng, sự hớng dẫn, giúp đỡ của Nhà nớc, hoạt động theo
nguyên tắc tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh,
có t cách pháp nhân, bình đẳng trớc pháp luật với các đơn vị kinh tế khác, có
trách nhiệm phát huy tính u việt của quan hệ sản xuất XHCN. Trên tinh thần
đó Đảng chủ trơng phải tổ chức lại sản xuất trong các hợp tác xã nông
nghiệp thành đơn vị kinh tế tự chủ, tự quản; điều chỉnh một bớc quan hệ sở
hữu, quan hệ quản lý giữa hợp tác xã với các hộ xã viên; đổi mới quan hệ
phân phối - xoá bỏ chế độ phân phối theo công điểm, xác định hộ xã viên là
đơn vị kinh tế tự chủ, đợc khuyến khích làm giàu. Xác định kinh tế hợp tác
xã có nhiều hình thức từ thấp lên cao, mọi tổ chức sản xuất - kinh doanh do
ngời lao động tự nguyện góp vốn, góp sức, đợc quản lý theo nguyên tắc dân
chủ đều là HTX.
Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ V khoá VII (6/1993) về tiếp tục đổi mới và
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn đã làm rõ thêm kinh tế hợp tác xã đợc
xuất và phù hợp với thực tiễn. Hội nghị TW lần thứ VII khoá VII đã ghi
rằng :
KTHT có nhu cầu và triển vọng phát triển rộng lớn đối với ngời sản xuất
nhỏ, cá thể do tác động khách quan của quá trình xã hội hoá sản xuất. Hình
thức hợp tác rất đa dạng, theo cả chiều dọc và chiều ngang, kết hợp đan xen
nhiều loại hình sở hữu, áp dụng những biện pháp tổ chức quản lý, những ph-
ơng thức phân phối khác nhau nhng đều có mục đích đáp ứng yêu cầu phát
triển sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, trên nguyên tắc tự nguyện bình đẳng,
cùng có lợi.
Có thể nói rằng quá trình đổi mới về t duy và nhận thức đối với kinh tế tập
thể, kinh tế hợp tác xã và KTHT với nòng cốt là các hợp tác xã đều bắt
nguồn từ tổng kết thực tiễn, tôn trọng quy luật phát triển khách quan của sự
vật vì lợi ích thiết thực của đông đảo nhân dân lao động nên đã đề ra định h-
ớng đúng để đổi mới kinh tế này phát triển theo hớng tất yếu của nó.
13
IIi. Kinh nghiệm phát triển các hình thức hợp tác xã của một
số nớc trên thế giới
- Tháng 8/1885, Đại hội hợp tác xã thế giới đầu tiên khai mạc tại Luân Đôn
với sự tham gia của các tổ chức Hợp tác xã cấp quốc gia của 08 nớc Châu Âu
và 02 nớc Châu á. Tại đại hội này, Liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) đã
thành lập. Ngày nay, ICA có thành viên là các tổ chức hợp tác xã từ 82 nớc
trên thế giới với tổng số xã viên gần 760 triệu ngời, trong đó 490 triệu là xã
viên của các nớc thuộc Châu á.
- ở nhiều nớc, hợp tác xã đã trở thành một khu vực kinh tế phát triển, góp
phần tích cực vào việc phát triển kinh tế đất nớc, Canađa hiện có 7.227 hợp
tác xã và Liên hiệp hợp tác xã với 12.834.800 xã viên với số tài sản cố định
101.143.400.000 USD và lợi nhuận 25.982.500.000 USD. Liên đoàn nông
dân Thụy Điển, có 25 liên hiệp vùng, 1.500 hợp tác xã nông nghiệp cơ sở và
gần 130.000 xã viên.
Đối với các nớc phát triển, sự xuất hiện và tồn tại các hợp tác xã đợc coi là
công bằng, chính phủ các nớc này coi hợp tác xã là một công cụ quan trọng
để phát triển kinh tế, xây dựng đất nớc, nhất là ở nông thôn. một số chính phủ
thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn thông qua hợp tác
xã.
1. Kinh nghiệm phát triển các hình thức Hợp tác xã trong nông thôn
Thái Lan
Hình thức hợp tác xã khá phát triển ở Thái lan. Ngay từ năm 1916 hợp tác xã
đầu tiên đựoc thành lập với 16 thành viên làm chức năng dịch vụ tín dụng
cung cấp vốn với lãi suất thấp nhằm giúp đỡ nông dân xã viên. từ đó các hợp
tác xã từng bớc ra đời. Đầu năm 1990 cả nớc có 3009 Hợp tác xã với 3,169
triệu hộ xã viên, đến năm 1993 số Hợp tác xã lên tới là 3435 và số hộ xã viên
5,19 triệu. ở Thái Lan có 6 loại hình Hợp tác xã trong đó Hợp tác xã nông
nghiệp chiếm 52% với 2.752 triệu hộ, chiếm 53,03% tổng số hộ xã
viên(1993), tiếp đó là hợp tác xã tiết kiệm và tín dụng, Hợp tác xã hàng tiêu
15
dùng và Hợp tác xã dịch vụ, Hợp tác xã khai khẩn đất đai và Hợp tác xã ng
nghiệp. Nh vậy, ở Thái Lan Hợp tác xã nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn về số
lợng hợp tác xã và số lợng xã viên. Hợp tác xã nông nghiệp làm dịch vụ tổng
hợp với chức năng hoạt động dịch vụ đầu vào (cung cấp tín dụng, cung cấp
vật t kỹ thuật nông nghiệp...) và đầu ra (chế biến, mua bán lu thông nông
sản...) cho các hộ nông dân xã viên, trong đó lúa gạo là hớng kinh doanh chủ
yếu. Hệ thống tổ chức Hợp tác xã nông nghiệp ở Thái Lan theo 3 cấp gồm:
Hợp tác xã thứ cấp cơ sở (huyện), liên hiệp các Hợp tác xã tỉnh và Liên đoàn
Hợp tác xã cấp quốc gia.
Hợp tác xã nông nghiệp cơ sở đợc xây dựng trên cơ sở hợp nhất các hợp tác
xã tín dụng quy mô nhỏ thành Hợp tác xã tín dụng cấp huyện với các hợp tác
xã lu thông nông sản. Hợp tác xã nông nghiệp quy mô bình quân có 800 hộ
xã viên trên địa bàn huyện đợc chia theo làng, xã.
Liên hiệp Hợp tác xã nông nghiệp cấp tỉnh đợc tổ chức trên cơ sở ba liên hiệp
Hợp tác xã cấp cơ sở trở lên với chức năng hỗ trợ hoạt động của các hợp tác
hành năm 1947 và chính sách cơ bản về HTX đợc Chính phủ Nhật Bản ban
hành năm 1967, mạng lới HTX nông nghiệp đợc tập hợp thành một hệ thống
HTX nông nghiệp quốc gia với hai loại hình: HTX tổng hợp và HTX chuyên
nghành và hai loại xã viên: Xã viên làm nông nghiệp bao gồm nông dân - chủ
trang trại gia đình và xã viên không trực tiếp làm nông nghiệp bao gồm
những ngời làm dịch vụ kinh tế kỹ thuật phục vụ nông nghiệp, những ngời
góp vốn vào HTX.
- Về HTX nông nghiệp tổng hợp:
HTX nông nghiệp tổng hợp có chức năng hoạt động dịch vụ phục vụ đầu vào
và đầu ra cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và dịch vụ sinh hoạt, đời sống
cho nông dân xã viên.
Trớc hết, HTX cung ứng cho nông dân xã viên về t liệu sản xuất, vật t kỹ
thuật nông nghiệp và hàng tiêu dùng vào những thời điểm thích hợp và theo
hình thức cung cấp hàng hoá với đơn đặt hàng và thanh toán với hệ thống giá
cả thống nhất và hợp lý.
17
Thứ hai, HTX nông nghiệp với chức năng hoạt động tín dụng bao gồm nhận
tiền gửi của xã viên theo kỳ hạn và không kỳ hạn, cho các xã viên có nhu cầu
vay vốn với lãi suất thấp. Tiền gửi của xã viên gửi vào HTX nông nghiệp bao
gồm tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn. Chính phủ coi hoạt động tín dụng của
HTX nh là đại lý tín dụng của Chính phủ. Số tiền đó các HTX nông nghiệp
cơ sở cho xã viên vay với lãi suất thấp để phát triển sản xuất nông nghiệp,
Chính phủ sẽ bù lỗ cho các HTX về chênh lệch lãi suất tiền gửi và tiền cho
vay.
Thứ ba, hoạt động dịch vụ đầu ra, HTX mua các loại nông sản do nông dân
xã viên sản xuất ra đa vào chế biến và đa đi tiêu thụ ở thị trờng trong và ngoài
nớc. Mạng lới HTX nông nghiệp đợc Nhà nớc cho phép mua bán phần lớn số
lợng gạo do các hộ nông dân sản xuất ra và đã chi phối 95% thị trờng gạo của
Nhật, 25% thị trờng rau quả, 16% thị trờng thịt.
Thứ t, HTX nông nghiệp cơ sở tham gia hoạt động dịch vụ hớng dẫn giáo dục
đoàn xuất khẩu của các HTX nông nghiệp Nhật Bản, Liên đoàn quốc gia bảo
hiểm nông nghiệp,v.v...
3. Kinh nghiệm phát triển các hình thức Hợp tác xã trong nông thôn nớc
Mỹ.
Các hình thức tổ chức kinh tế Hợp tác xã trong nông nghiệp và nông thôn n-
ớc Mỹ rất đa dạng. Do trình độ kinh tế phát triển cao, lực lợng sản xuất hiện
đại, phân công lao động sâu sắc nên các Hợp tác xã thực hiện các khâu dịch
vụ khá chuyên sâu. Đến nay, Mỹ có nhiều loại Hợp tác xã, đó là:
Hợp tác xã tiêu thụ nông sản của các nông trại.
Hợp tác xã cung ứng vật t - kỹ thuật nông nghiệp cho khu vực nông nghiệp,
nông thôn.
Hợp tác xã tín dụng nhằm cung ứng nguồn vốn vay cho các nông trại.
Hợp tác xã thuỷ nông làm dịch vụ tới nớc cho các nông trại.
Hợp tác xã dịch vụ khâu dịch vụ thụ tinh nhân tạo của các nông trại chăn
nuôi bò.
19
Hợp tác xã điện khí hoá nông nghiệp làm dịch vụ xây dựng cơ sở vật chất -
kỹ thuật điện nông thôn và cung ứng điện cho các nông trại.
Ngoài ra còn có hợp tác xã dịch vụ điện thoại, hợp tác xã làm dịch vụ thuê
đồng cỏ. Hợp tác xã cải tiến giống bò sữa. Hợp tác xã dịch vụ đời sống...với
nhiều loại hình đa dạng.
Cha đầy 7% diện tích và gần 5% dân số thế giới, nhng nớc Mỹ đã sản xuất ra
12,6% lợng nông sản của thế giới. Đạt đợc những thành tựu đó là nhờ đợc
trang bị máy móc thiết bị hiện đại, đồng thời để tạo ra những u thế cạnh tranh
với các tập đoàn t bản công nghiệp, ở đây đang diễn ra xu thế tập trung hoá
các tổ chức hợp tác xã thành những liên hiệp nông - công nghiệp quy mô lớn
trong việc cung cấp các hoạt động dịch vụ cho các trang trại. Đáng chú ý là
Liên hiệp hợp tác xã nông - công nghiệp AGHIAY ở Bang New York. Liên
hiệp hợp tác xã tiêu thụ trái cây ở Bang Califonia (đợc hợp nhất từ các liên
Hợp tác xã vùng và các Hợp tác xã cơ sở của các trang trại sản xuất hoa quả
Hợp tác xã nông nghiệp ở Đức có lịch sử khá lâu đời. Năm 1847 những ngời
theo chủ nghĩa cải lơng do F.W.Raiffecson đứng đầu đã sáng lập ra tổ chức
phúc lợi nông thôn đầu tiên. Bắt đầu từ đó hợp tác xã nông nghiệp phát triển
và trở thành một lực lợng kinh tế xã hội quan trọng. Do CNTB ở Đức phát
triển muộn hơn so với các nớc Tây Âu, ở nông thôn còn tồn tại số đông nông
dân tự canh nhỏ với điều kiện không thuận lợi cho lắm. Các hợp tác xã ra đời,
một mặt là sự giúp đỡ thực sự đối với các nông dân chống lại sự phá sản, sự
cho vay nặng lãi.
Hợp tác xã nông nghiệp ở CHLB Đức lúc đầu là sự liên hợp có tính chất giúp
đỡ nhau về vốn giữa những ngời sản xuất nhỏ, phân tán, không có mục đích
chủ yếu là lấy lãi mà có tính dân chủ cao; mỗi ngời chỉ có 1 phiếu bầu, lãnh
đạo hợp tác xã chỉ có danh vị mà không có thù lao khác.
Hơn 150 năm qua, Nhà nớc luôn bảo hộ hợp tác xã bằng luật pháp dới nhiều
mức độ khác nhau. Trong 30 năm trở lại đây, năng suất lao động của nông
dân tăng 7 lần, CHLB Đức trở thành nớc xuất khẩu nông sản quan trọng của
thế giới.
21
Sự phát triển của Hợp tác xã nông nghiệp ở CHLB Đức có một số đặc điểm
sau:
+Dới điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá, hợp tác xã nông nghiệp là sự liên
hợp giữa những ngời nông dân lấy đơn vị kinh doanh cơ bản là hộ gia đình và
những ngời sản xuất nhỏ khác.
+Nội dung cốt lõi của sự hợp tác của nông dân là hợp tác xã tín dụng. Hợp
tác xã tín dụng và ngân hàng hợp tác là trung tâm của các tổ chức hợp tác, nó
làm cơ sở cho các hợp tác xã cung tiêu.
+Trình độ chuyên môn hoá, đa dạng hoá và tập trung hoá của các tổ chức
Hợp tác xã tơng đối cao:
ở CHLB Đức trong thời kỳ đầu của phong trào hợp tác xã, hình thức chủ yếu
là các hợp tác xã tổng hợp có nhiều chức năng lấy thôn trấn làm đơn vị.
Trong quá trình phát triển đã nảy sinh ra nhiều hợp tác xã chuyên môn hoá
Đến giữa thế kỷ XiX ở Đức có hai hệ thống lớn: Hệ thống hợp tác xã nông
nghiệp và hệ thống hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp phát triển độc lập với
nhau. Đến đầu những năm 80 hai hệ thống này hợp lại thành một liên minh
hợp tác thống nhất công nông nghiệp toàn quốc.
Quá trình tập trung hoá thông qua các tổ chức hợp tác xã vẫn không làm mất
đi kinh tế hộ gia đình, mà ngợc lại càng tạo điều kiện cho nó phát triển tốt
hơn, có hiệu quả hơn.
+Thực hiện chế độ kiểm soát hợp tác xã.
Chế độ này bắt nguồn từ chỗ trên cơ sở tự nguyện, một số hợp tác xã đã mời
những viên chức kế toán chuyên nghiệp để kiểm tra sổ sách chứng từ và các
dịch vụ t vấn. Sau đó vì muốn phòng ngừa một số hợp tác xã có hành vi vi
phạm pháp luật và để tăng cờng về mặt quản lý Nhà nớc, năm 1889 Chính
phủ đã ban hành pháp lệnh quy định tất cả các hợp tác xã đều phải chịu sự
kiểm tra hạch toán của nhân viên kiểm toán chuyên nghiệp nếu không hợp
tác xã không có t cách lên sổ kế toán. Qua nhiều năm, chế độ kế toán này vẫn
đợc hoàn thiện và hình thành một đội ngũ kiểm toán hợp tác chuyên môn hoá
23
và tổ chức thành hiệp hội. Nhân viên kiểm toán hợp tác không phải nhân viên
kiểm toán nhà nớc, họ giúp đỡ các hợp tác xã phát triển lành mạnh, góp ý
kiến về mặt quản lý và pháp luật. Với tác dụng nh vậy, sau này ở CHLB Đức,
luật hợp tác xã đã quy định các tổ chức hợp tác phải tiếp nhận sự giám sát
của hiệp hội kiểm toán hợp tác.
Hiện nay ở Đức có tổ chức kiểm toán hợp tác cao nhất là: tổ chức hợp tác n-
ớc Đức và hội liên hiệp Raiffecson, dới nó có 6 hiệp hội kiểm toán hợp tác
có tính toàn quốc về những lĩnh vực chuyên môn hoá cao. Dới nữa là 15 hiệp
hội kiểm toán hợp tác khu vực.
Luật hợp tác xã có quy định chi tiết về thời gian, nội dung, trình tự kiểm toán
và t cách của nhân viên kiểm toán. Hiệp hội kiểm toán hợp tác là tổ chức của
quần chúng, nhng chịu sự giám sát của nhà nớc, thông qua đó bằng pháp luật
Chính phủ bảo vệ và giam sát sự kinh doanh chính đáng của các hợp tác xã.
+Sự phân biệt giữa ngời xã viên và ngời lao động trong hợp tác xã nông
nghiệp.
Xã viên là ngời góp cổ phần vào hợp tác xã nông nghiệp để hởng dịch vụ của
hợp tác xã nông nghiệp và thờng lao động sản xuất nông nghiệp trên đất đai
của mình. Còn lao động trong hợp tác xã nông nghiệp kể cả lao động làm
công tác quản lý trong hợp tác xã nông nghiệp do Ban quản trị hợp tác xã
nông nghiệp căn cứ vào đòi hỏi từng dịch vụ để thuê, tuyển, bố trí phân công
lao động vào những công việc phù hợp và có hiệu quả nhất.
Do đó Ban quản trị có thể tuyển chọn, bố trí phân công một số xã viên nào đó
có kỹ thuật và có nhu cầu làm công việc dịch vụ của hợp tác xã nông nghiệp
hoặc thuê tuyển những lao động, cán bộ chuyên môn, chuyên gia và cán bộ
quản lý bên ngoài để hoàn thành tốt hơn chức năng dịch vụ của hợp tác xã.
25