TIỂU LUẬN:
Thương mại là hòn đá thử vàng đối với
sự phồn vinh của mỗi quốc gia Lý luận chung về kinh doanh xuất nhập khẩu
I. Khái niệm , phân loại và vai trò của kinh doanh nhập khẩu đối với nền kiNh tế
quốc dân.
1. Khái niệm về hoạt động Nhập khẩu .
Ngày nay trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, mỗi quốc gia trên
hành tinh chúng ta không thể sống một cách riêng rẽ được mà phải cuấn theo dòng
xoáy của nền kinh tế thế giới, tham gia vào các quan hệ đầu tư quốc tế, dịch vụ quốc
tế và thương mại quốc tế …
Trong đó kinh doanh quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hội nhập
kinh tế thế giới của mỗi quốc gia, đúng như các nhà kinh tế học chủ nghĩa trọng
thưong đã nói “ Thương mại là hòn đá thử vàng đối với sự phồn vinh của mỗi quốc
gia”
Tiền đề cơ bản đầu tiên của thương mại quốc tế đó là sự khác biệt về điều kiện tự
nhiên giữa các quốc gia dẫn đến mỗi quốc gia có lợi thế trong việc sản xuất một sản
phẩm nào đó và họ phải trao đổi với nhau nhằm đạt được sự cân bằng giữa phần dư
thừa hàng hoá này và thiếu hụt hàng hoá kia. Tiếp theo là sự phát triển không đồng đều
giữa các quốc gia dẫn đến sự khác nhau về điều kiện tái sản xuất. Điều đó dẫn đến các
2. Phân loại hoạt động Nhập khẩu.
Theo như định nghĩa thì Nhập khẩu là việc mua hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài
về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái xuất trên cơ sở tuân theo các
thông lệ thị trường quốc tế, về bản chất thì sẽ có một luồng hàng hoá - dịch vụ từ nước
ngoài chảy vào nước Nhập khẩu và có một luồng tiền tương ứng chảy ra. Các Doanh
nghiệp tham gia kinh doanh nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận . Nhưng trên thực tế ,
các qui ttrình nghiệp vụ Nhập khẩu rất phức tạp , ta có thể căn cứ vào cách thức tổ
chức và mục đích hoạt động kinh doanh Nhập khẩu để phân chia thành các hình thức
khác nhau.
2.1 Nhập khẩu tự doanh.
Đây là hình thức kinh doanh mà Doanh nghiệp được cấp giấy phép nhập khẩu trực
tiếp đứng tên ra để ký kết và thực hiện các hợp đồng ngoại thương bằng chính nguồn
vốn của mình, sau đó trực tiếp thiết lập hệ thống kênh phân phối bán hàng nhằm mục
đích thu lợi nhuận.
Đây là hình thức Nhập khẩu chủ yếu mà các Doanh nghiệp áp dụng hiện nay vì
nó đảm bảo sự thống nhất giữa các khâu của quá trình Nhập khẩu nhằm đạt được kết
quả của toàn bộ Doanh nghiệp .
2.2 Nhập khẩu uỷ thác .
Là hoạt động Nhập khẩu trong đó người mua hàng không trực tiếp đứng tên mình
ký kết hợp đồng ngoại thương mà phải ký một hợp đồng uỷ thác với Doanh nghiệp
ngoại thương để uỷ thác cho Doanh nghiệp đó đứng ra ký kết và thực hiện hợp đồng
ngoại thương đó bằng chính nguồn vốn của người được uỷ thác (Nhà Nhập khẩu ) và
bên uỷ thác sẽ phải trả cho bên kia một khoản tiền nhất định tuỳ theo sự thoả thuận của
hai bên, khoản tiền đó gọi là phí uỷ thác thông thường mức phí uỷ thác chiến 1% - 2%
tổng giá trị hợp đồng.
Nghĩa vụ của bên uỷ thác nhập khẩu: bên uỷ thác phải dựa vào đơn
hàng kèm theo, xác nhận của ngân hàng Ngoại thương Việt nam về khả năng
thanh toán, tham gia vào các giao dịch mua hàng, khi hàng về phải mở hàng
trong vòng một tháng và nếu phát hiện hàng không đúng hợp đồng hoặc hàng
nhiên ưu đãi sẽ có những nguồn lực để sản xuất ra những loại hàng hoá mà chi phí
sản xuất ra chúng rẻ hơn so với bất kỳ nước nào trên thế giới. Khi đó nó sẽ chuyên
môn hoá vào việc sản xuất những mặt hàng đó để xuất khẩu và mua về những mặt
hàng mà việc sản xuất ra chúng có nhiều bất lơị hơn các nước khác. Như vậy, theo
quan điểm này thì một nước chỉ có thể tham gia thương mại quốc tế khi chúng có
lợi thế trong viêc sản xuất một mặt hàng nào đó.
Tuy vậy, lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần nhỏ thương mại giữa các
nước đang phát triển và các nước phát triển. Hiện nay, phần lớn thương mại quốc tế
diễn ra giữa các nước phát triển với nhau, không thể giải thích được bằng lý thuyết
lợi thế tuyệt đối. trong các cố gắng để giải thích các cơ sở của thương mại quốc tế,
lợi thế tuyệt đối chỉ là một trường hợp của lợi thế so sánh.
Lý thuyết Lợi thế tương đối ( Lợi thế so sánh) của David Ricardo:
Qui luật Lợi thế tương đối phát biểu rằng: Nếu mỗi quốc gia thực hiện chuyên
môn hoá sản xuất những mặt hàng mà nước đó có lợi thế so sánh thì tổng sản lượng
của tất cả các mặt hàng sẽ tăng lên và tất cả sẽ trở nên sung túc hơn. Trong trường hợp
một nước tỏ ra kém hiệu quả hơn so với nước khác trong việc sản xuất ra tất cả các
mặt hàng thì nước đó vẫn tồn tại cơ sở dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi,
cụ thể là quốc gia thứ nhất sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có
lợi thế tuyệt đối lớn hơn, tức là mặt hàng lợi thế so sánh và nhập khẩu mặt hàng có lợi
thế tuyệt đối nhỏ hơn. Quốc gia thứ hai sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những
mặt hàng có bất lợi tuyệt đối nhỏ nhất và nhập khẩu những mặt hàng có bất lợi tuyệt
đối lớn nhất. Như vậy, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác
trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào
thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích.
Lý thuyết Heckscher - Ohlin.
Học thuyết này căn cứ vào sự khác biệt về tính phong phú và giá cả tương đối của
các yếu tố sản xuất để qui về sự khác biệt về giá cả tương đối của hàng hoá, sau đó sẽ
được chuyển thành sự khác biệt về giá cả tuyệt đối của hàng hoá. Học thuyết này có
nội dung như sau: “ Một nước sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra nó cần
trường quốc tế.
Tình hình kinh tế thế giới hiện nay, các nước không ngừng mở rộng, thống nhất thị
trường quốc tế thì sự phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ kinh tế quốc tế càng lớn
mạnh.Việc hình thành các trung tâm thương mại, các khu vực mậu dịch tự do đã phá
bỏ rào cản thương mại giữa các quốc gia, hàng hoá được tự do di chuyển trên thế giới.
Quan hệ cung cầu trên thị trường không phải lúc nào cũng ở điểm cân bằng tối ưu
mà nhiều khi do tác động của cả các nhân tố chủ quan lẫn khách quan gây nên những
biến động trên thị trường hàng hoá. Trong điều kiện hiện nay khi mà tất cả các quốc
gia đều tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế và tập trung phát triển
nghành hàng có lợi thế của mình. Trong khi đó nhu cầu của con người ngày càng đa
dạng. Chính vì vậy mà hàng loạt nhu cầu không thể đáp ứng bằng các nguần sản xuất
trong nước. Điều này tất yếu dẫn đến việc nhập khẩu hàng hoá mang tính chu kỳ và
tương đối ổn định.
Nhập khẩu là một biện pháp để giải quyết sự mất cân đối giữa sản xuất và tiêu
dùng, giữa cung và cầu hàng hoá - dịch vụ, nghĩa là nó góp phần làm cho quá trình sản
xuất và tiêu dùng diễn ra thường xuyên và ổn định. Chúng ta có thể nhập khẩu hàng
hoá về phục vụ tiêu dùng trực tiếp trong nước nhưng trong thế giới ngày nay người ta
đang chú trọng vào nhập khẩu những nguyên vật liệu quí hiếm, máy móc thiết bị, công
nghệ, phát minh khoa học về phục vụ sản xuất và nâng cao trình độ công nghệ trong
nước. Nhập khẩu máy móc và công nghệ còn phục vụ chiến lược lâu dài là tiến tới làm
chủ khoa học công nghệ góp phần nâng cao năng suất lao động.
Nhập khẩu còn là một công cụ để chính phủ thực hiện điều tiết giá cả thị trường
nội địa nhằm loại bỏ những tác động không lành mạnh của cơ chế thị trường như tình
trạng đầu cơ ép giá.
Tóm lại, thông qua những học thuyết trên ta đã thấy rõ được vai trò vô cùng quan
trọng của thương mại quốc tế đối với bất kỳ nề kinh tế nào. Trong thực tế sự phát triển
kinh tế thế giới những năm qua đã chứng minh , nền kinh tế mở sẽ tạo điều kiện để các
quốc gia sớm hoà nhập vào nền kinh tế thế giới phát huy triệt để lợi thế của nước mình
nhằm đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nền kinh tế đất nước.
tố vi mô như tập quán , phương thức sản xuất, phương thức hoạt động của thị trường
trong nước và thị trường quốc tế. Việc xác định rõ nhân tố này giúp Doanh nghiệp tiến
hành nghiên cứu thị trường với các nội dung như sau:
1.1 Tìm hiểu thị trường trong nước
Công việc đầu tiên của nghiên cứu thị trường là phải xác định được nhu cầu của
thị trường và trả lời được câu hỏi :
* Thị trường đang cần hàng gì?
Trong thời dại ngày nay, khi mà khả năng sản xuất đã vượt quá nhu cầu tiêu dùng
thì chúng ta không thể bán những gì mình có mà phải bán những gì khách hàng cần .
Điều đó đòi hỏi nhà kinh doanh phải điều tra thăm giò, phân tích nhu cầu của khách
hàng trong nước về mặt hàng , về qui cách phẩm chất , kiểu dáng , giá cả, màu sắc ,
bao gói sản phẩm,…Từ đó tìm ra được mặt hàng phù hợp để cung cấp cho khách hàng.
Đối với nhà kinh doanh thì mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận do đó ta không thể cung cấp
một mặt hàng ở bất kỳ một mức giá nào đó, mà ta phải xem xét xem ở một mức giá có
khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận mục tiêu cho
doanh nghiệp.
*Tình hình sản xuất, cung ứng và tiêu thụ hàng hoá đó trên thị trường như thế
nào?
Việc xác định khả năng sản xuất trong nước đòi hỏi ta phải tìm hiểu xem có những
Doanh nghiệp nào hiện đang sản xuất hoặc kinh doanh Nhập khẩu mặt hàng đó trong
nước, số lượng hàng năm là bao nhiêu, khả năng cũng như uy tín của nhà cung cấp đó
có lớn hay không.
Bên cạnh đó, ta phải tìm hiểu khả năng tiêu dùng để biết được mặt hàng đó đã thoả
mãn nhu cầu khách hàng hay chưa ( về số lương, chất lượng, dịch vụ, ) và kết thúc là
phải phác hoạ lên được đường cung - cầu hàng hoá đó trên thị trường nội địa để xác
định được một khối lượng nhất định và mức giá phù hợp
* Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống sản phẩm ?
Chu kỳ sống của sản phẩm được chia làm 4 giai đoạn đó là:
Giai đoạn thâm nhập ( T1 )
chính sách này tạo ra những khó khăn và thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của
Doanh nghiệp.
Dự đoán xu hướng biến động của giá cả
Xu hướng biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới rất phức tạp, bởi
vì nó chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội. Để có thể dự đoán
được sự biến động của giá hàng hoá đó trước hết ta phải dựa vào kết quả nghiên cứu
thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới về hàng hoá, đánh giá đúng sự tác
động của môi trường vi mô và vĩ mô tới lượng cung - cầu, giá cả của hàng hoá,
Các nhân tố ảnh hưởng tới giá cả hàng hoá là:
+ Nhân tố mang tính chu kỳ: có hai nhân tố làm giá cả thay đổi mang tính chu kỳ
đó là chu kỳ nền kinh tế và tính thời vụ của hàng hoá.
Sự vận động có tính chất qui luật của nền kinh tế thị trường có tác động lớn đến
giá cả hàng hoá. Nến kinh tế biến động theo chu kỳ hết hưng thịnh đến suy thoái, các
chu kỳ đó cứ lặp đi lặp lại, tuy nhiên khoảng cách giữa các thời kỳ suy thoái thì luôn
biến đổi. Khi nền kinh tế hưng thịnh thì giá cả ổn định, nhu cầu tăng và ngược lại.
Yếu tố thời vụ cũng tác động làm giá cả thay đổi, Đối với một số loại hàng hoá khi
vào thời vụ chính thì cung tăng do đó giá cả có xu hướng giảm., ngược lại có những
hàng hoá giá cả tăng lên vào một mùa nhất định còn ở thời điểm khác thì lại không có
người mua.
+ Nhân tố cạnh tranh: Cạnh tranh làm cho giá cả biến động theo xu hướng khác
nhau, tuỳ theo vào đối tượng tham gia cạnh tranh là người mua hay người bán. cạnh
tranh gay gắt sẽ có tác động làm giảm giá cả hàng hoá hình thành giá bình quân trên
thị trường.
+ Nhân tố lạm phát: Lạm phát làm giá cả hàng hoá tăng lên. Đây chính là yếu tố
tác động rất mạnh đến giá cả hàng hoá, khi mà giá trị của đồng tiền giảm thì lạm phát
tăng nhanh và giá cả có biến động lớn.
Khách hàng mục tiêu của Doanh nghiệp là ai?
Khách hàng mục tiêu là tập hợp những người tiêu dùng, các tổ chức có nhu cầu sử
dụng các sản phẩm mà Doanh nghiệp nhập khẩu dự định cung cấp và họ có khả năng
+ Chi phí kiểm định hàng hoá nhập khẩu.
+ Chi phí bốc dỡ, vận chuyển.
+ Chi phí bảo hiểm.
+ Thuế xuất nhập khẩu .
+ Các chi phí khác tuỳ theo điều kiện giao dịch, giá hàng hoá nhập khẩu còn phụ
thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng, thông thường trong ngoại thương người ta thường
dùng hai điều kiện cơ sở giao hàng là FOB & CIF. Vì vậy để so sánh giá cả hàng hoá
người ta phải đưa chúng về cùng một điều kiện cơ s
ở giao hàng theo Công thức sau.
FOB + F
CIF =
1+( 1- R )
Trong đó:
- CIF Là tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
- FOB là giá giao tại boong tàu.
- F là cước phí vận chuyển.
- R là xuất phí bảo hiểm.
2. Lựa chọn đối tác giao dịch.
Sau khi nghiên cứu thị trường cho phép đơn vị kinh doanh có thể lựa chọn thị
trường, thời cơ thuận lợi lựa chọn phương thức mua bán và điều kiện giao hàng thích
hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp thì kết quả kinh doanh còn phụ thuộc nhiều
vào đối tác giao dịch. Trong cùng một hợp đồng như nhau nhưng việc giao dịch với
đối tác này thì thành công nhưng với đối tác khác thì thất bại. Do đó nhiệm vụ quan
trọng của Doanh nghiệp là phải phân tích tìm hiểu kỹ về đối tác với mục đích là tìm
được nhà cung cấp khả thi nhất, có lợi cho Doanh nghiệp nhất.
Một nhà cung cấp hay được ưa chuộng là người cung cấp chiều theo khách hàng
của mình, anh ta cung cấp hàng với chất lượng rõ ràng và giao hàng đúng hẹn như đã
hứa, với một giá cả phải chăngđáp ứng được những đòi hỏi không biết được trước
- Bao bì, đóng gói.
- Giá cả.
- Thanh toán, bảo hiểm
- Phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại.
- Điều kiện trọng tài.
* Trong đàm phán kinh doanh quốc tế người ta có thể áp dụng ba hình thức là:
Đàm phán giao dịch qua thư tín: Ngày nay thư từ và điện tín vẫn còn
là phương tiện chủ yếu để giao dịch quốc tế những cuộc tiếp xúc ban đầu nhầm
thiết lập mối quan hệ làm ăn thường thông qua thư tín và sau naỳ việc duy trì mối
quan hệ giữa các bên cũng phải thông qua thư tín thương mại.
Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm chi phí và một lúc có thể tiếp xúc với
nhiều đối tác.
Nhược điểm là phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian chờ đợi, đôi khi bỏ lỡ mất
cơ hội kinh doanh.
Đàm phán qua điện thoại: Các bên trao đổi thoả thuận với nhau thông
qua đàm thoại trực tiếp tạo điều kiện cho người giao dịch tiến hành các công việc
kinh doanh kịp thời đùng tiến độ. Nhược điểm của phương pháp này là chi phí tốn
kém, không thăm giò được quan điểm thái độ của đối tác.
Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: là việc các bên trực tiếp gặp gỡ
nhau tại một địa điểm nhất định để thoả thuận, trao đổi những vấn đề liên quan tới
quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng ngoại thương.
Ưu điểm của hình thức đàm phán này là đẩy nhanh tốc đội giải quyết vấn đề, tạo
điều kiện cho việc hiểu biết và duy trì mối quan hệ giữa các bên tốt hơn.
Nhược điểm là chi phí cao, tốn kém thời gian.
* Các bước đàm phán:
Đối với Doanh nghiệp nhập khẩu, thông thờng đàm phán trải qua các bước sau.
Hỏi giá( inquiry): Về phương diện pháp luật thì đây là lời thỉnh cầu
bước vào giao dich. Nhưng xét về phương diện thương mại thì đây là việc người
mua đề nghị người bán báo cho mình về giá cả hàng hoá và các điều kiện mua
theo những điều kiện của hợp đồng đã ký kết trong lần giao dịch trước.
Chấp nhận (acceptance): là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện
chào hàng (hoặc đặt hàng) mà phía bên kia đưa ra. Khi đó hợp đồng được thành
lập. Một chấp nhận muốn có hiệu lực về mặt pháp luật, cần phải đảm bảo điều kiện
dới đây:
+ Phải được chính người nhận giá chấp nhận;
+ Phải đồng ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của chào hàng ( hoặc đặt
hàng);
+ Phải chấp nhận trong thời gian hiệu lực của chào hàng;
+ Chấp nhận phải được truyền đạt đến người phát ra đề nghị.
Xác nhận(confirmation): hai bên mua và bán, sau khi đã thống nhất với
nhau về kinh doanh giao dịch, có khi cẩn thận ghi lại mọi điều đã thoả thuận, gửi
cho đối phương. Đó là văn kiện xác nhận, văn kiện do bên bán gửi thường gọi là
giấy xác nhận bán hàng, do bên mua gửi là giấy xác nhận mua hàng. xác nhận
thường được lập thành hai bản, bên lập xác nhận ký trước rồi gửi cho bên kia. Bên
kia ký xong giữ lại một bản rồi gửi trả lại một bản. việc xác nhận cũng có thể thực
hiện bằng một văn bản có chữ ký của hai bên, gọi là bản hợp đồng hoặc là bản thoả
thuận(Agreement).
Hình 2: Qui trình đàm phán được thể hiện theo sơ đồ sau.
3.2 Ký kết hợp đồng ngoại thương
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng
mua bán ngoại thương. ở các nước tư bản phát triển, hợp đồng có thể được lập dưới
hình thức văn bản hoặc hình thức miệng, hoặc hình thức mặc nhiên. Nhưng ở nước ta
hợp đồng nhất thiết phải làm dới hình thức văn bản.
Khi ký kết hợp đồng các bên cần chú ý một số đặc điểm như sau:
- Cần có sự thoả thuận thống nhất với nhau tất cả mọi điều khoản cần thiết trước
+ Ngày tháng và nơi ký kết hợp đồng.
+Tên, địa chỉ các bên ký kết.
+ Các điề khoản hợp đồng bao gồm các điều khoản sau:
+ Tên hàng, qui cách phẩm chất , số lượng, bao bì, ký mã hiêu.
+ Giá cả, đơn giá, tổng giá trị hàng hoá.
+ Phương thức vận chuyển.
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng ngoại thương.
Sau khi tất cả các công việc từ khâu nghiên thị trường và lựa chọn đối tác, đàm
phán các điều khoản hợp đồng và kết thúc là việc ký kết hợp đồng nhập khẩu, các điều
khoản của hợp đồng ký kết nói lên được phần nào triển vọng về kết quả kinh doanh .
Để đạt được mục tiêu kinh doanh đề ra đòi hỏi khả năng tổ chức thực hiện hợp đồng
nhập khẩu của các Doanh nghiệp . Cụ thể là cá nhân viên trực tiếp thực hiện hoạt động
nhập khẩu phải tổ chức thực hiện hợp đồng một cách tốt nhất, vừa đảm bảo chất lượng
hàng hoá nhập khẩu vừa đảm bảo đúng tiến độ thời gian đề ra. Một yêu cầu nữa của
quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu là phải tuân thủ đúng pháp luật( luật pháp
quốc gia và luật pháp quốc tế mà nước nhập khẩu tham gia ) và các thông lệ quốc tế
Đối với các đơn vị kinh doanh nhập khẩu, nội dung của quá trình tổ chức thực
hiện hợp đồng bao gồm các bước sau:
Hình 3: Qui trình tổ chức thực hiện hợp đồng
4.1 Xin giấy phép nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu là một công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý hoạt động
nhập khẩu, vì thế sau khi ký kết hợp đồng nhập khẩu Doanh nghiệp nhập khẩu phải
Xin gi
khẩu do hai cơ quan có thẩm quyền cấp đó là: Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan.
- Bộ Thương mại cấp giấy phép nhập khẩu những mặt hàng mậu dịch.
- Tổng cục Hải quan cấp giấy phép nhập khẩu những mặt hàng phi mậu dịch.
Hiện nay trong xu thế tự do hoá thương mại, nhiều nước đã giảm bớt số mặt hàng
phải xin giấy phép nhập khẩu chuyến. ở nước ta, theo nghị định 89/Chính phủ ngày
25/12/95, kể từ ngày 1/2/96 trở đi chỉ còn 9 nhóm hàng phải xin cấp giấy phép nhập
khẩu theo chuyến.
Điều kiện để một Doanh nghiệp được cấp giấy phép nhập khẩu là:
- Thành lập theo đúng pháp luật, và cam kết tuân tủ các qui định của luật hiện
hành.
- Doanh nghiệp có mức vốn lưu động tối thiểu ở thời điểm đăngký kinh doanh là
200 000 USD, riêng những Doanh nghiệp ở các tỉnh miền núi và các tỉnh , vốn lưu
động tối thiểu là 10 000 USD.
Doanh nghiệp muốn được cấp giấy phép nhập khẩu phải nộp lệ phí 1 000 000
đồng trước khi nhận giấy phép.
4.2 Mở L/C.
Trong thương mại quốc tế hiện nay có nhiều phương thức thanh toán như: tín dụng
chứng từ; phương thức nhờ thu; phương thức điện chuyển tiền…Nhưng sử dụng rộng
rãi nhất vẫn là phương pháp tín dụng chứng từ.
Vì vậy, nếu trong hợp đồng ngoại thương qui định phương thức thanh toán là tín
dụng chứng từ thì việc đầu tiên là phải mở L/C theo đúng như qui định trong hợp
đồng. Thời gian mở L/C phụ thuộc thời gian giao hàng, nếu như hợp đồng không qui
định thời gian cụ thể thì thông thường thời gian này là 15 - 20 ngày trước khi giao
hàng. Cơ sở để mở L/C phụ thuộc vào các điều khoản của hợp đồng. Đơn vị nhập khẩu
dựa vào cơ sở đó làm đơn xin mở L/C theo mẫu của ngân hàng.
4.3 Thuê tàu – lưu cước.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc ai thuê tàu, thuê tàu tính theo hình thức
nào được tiến hành dựa trên ba căn cứ : Điều khoản hợp đồng, đặc điểm hàng hoá,
điều kiện vận tải. Nếu điều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì bên nhập khẩu phải thuê
phải được sắp xếp trật, thuận tiện cho việc kiểm tra. Chủ hàng chịu chi phí, nhân
công để đóng, mở các kiện hàng.
c) Thực hiện các quyết định của Hải quan.
Sau khi kiểm tra các giấy tờ hàng hoá, Hải quan đưa ra quýêt định cho phép hàng
hoá qua biên giới( thông quan) , hoặc cho hàng hoá đi qua biên giới với một điêù kiện
kem theo hoặc hàng không được phép qua biên giới… chủ hàng phải thực hiện nghiêm
chỉnh các qui định của Hải quan.
4.6 Nhận hàng và kiểm tra chất lượng hàng hoá.
Để nhận hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài về, đơn vị nhập khẩu phải làm các
công việc sau:
- Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải về việc nhận hàng.
- Xác nhận với cơ quan vận tải về kế hoạch tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu, từng
quí, từng năm, cơ cấu hàng hoá, lịch tàu, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận chuyển,
giao nhận.
- Cung cấp tài liệu kỹ thuật cho việc giao hàng ( vận đơn, lệnh giao hàng…) .
- Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản (nếu cần) về hàng
hoá và giải quyết trong phạm vi của mình trong những vấn đề xảy ra trong việc giao
nhận.
- Thanh toán cho cơ quan vận tải những khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp, bảo
quản, vận chuyển hàng hoá nhập khẩu.
- Thông báo cho các đơn vị đặt hàng chuẩn bị tiếp nhận hàng hoá.
- Chuyển hàng hoá về kho của Doanh nghiệp hoặc giao trực tiếp cho đơn vị đặt
hàng.
- Kiểm tra hàng hoá: hàng hoá nhập khẩu về qua cửa khẩu phải được kiểm tra.
Mỗi cơ quan tiến hành kiểm tra theo từng chức năng, quyền hạn của mình. Nếu phát
hiện không bình thường thì mời cơ quan giám định đến lập biên bản giám định. Cơ
quan vận tải kiểm tra niêm phong kẹp chì trước khi dỡ hàng ra khỏi phương tiện vận
tải. Đơn vị nhập khẩu với tư cách là một bên đứng tên trong vận đơn cũng phải kiểm
tra hàng hoá và lập thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thật sự hàng hoá có tổn thất, thiếu
nghiệp.
- Tổ chức nghiệp vụ bán hàng cụ thể tại các cửa hàng bán lẻ của Công ty.
III. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Doanh
nghiệp.
Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu là hết
sức cần thiết, bởi thông qua đó ta sẽ đặt ra được những định hướng chiến lược kinh
doanh, dự đoán xu hướng biến động của thị trường. Phát huy những lợi thế đồng thời
có biện pháp phòng trừ những rủi ro, tạo điều kiện đạt được mục tiêu kinh doanh của
Doanh nghiệp. Kinh doanh nhập khẩu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, ta có thể chia
ra thành ba nhóm là: các yếu tố kinh tế; các yếu tố chính trị; pháp luật và các yếu tố xã
hội.
1. Các yếu tố kinh tế.
Sự phát triển của nền sản xuất trong và ngoài nước:
Hoạt động nhập khẩu chịu ảnh hưởng của nền sản xuất trong và ngoài nước. Sự
phát triển của nền sản xuất trong nước tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ đối với những sản
phẩm nhập khẩu, tạo ra hàng hoá thay thế sản phẩm nhập khẩu. Còn nếu sản xuất
trong nước kém phát triển không thể sản xuất ra những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật công
nghệ cao thì nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng lên. Mặt khác nếu nền sản xuất nước ngoài
hiện đại, tạo ra những sản phẩm tiện dụng, chất lượng cao, hấp dẫn nhu cầu tiêu dùng