LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nâng cao hiệu
quả nhập khẩu tại Công ty
VINAGIMEX
Lời mở đầu
Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, kinh tế thị trường là một tất yếu
không thể tránh và không nên tránh của bất kì quốc gia nào, dù quốc gia đó đi theo
con đường TBCN hay XHCN. Điều cốt yếu ở đây là phải vận dụng kinh tế thị
trường sao cho đạt hiệu quả cao nhất, hạn chế tối đa những điểm bất cập mà kinh tế
thị trường mang lại, có như vậy mới có thể phát triển bền vững. Cùng với quá trình
phân công lao động ngày càng sâu sắc hơn, Thương mại quốc tế đã và đang góp
phần tích cực cho sự ơphát triển phồn thịnh của mỗi quốc gia, đặc biệt đối với Việt
Nam. Muốn đạt được mục tiêu mà đảng và Nhà nước đề ra là đưa nước ta trở thành
một nước công nông nghiệp phát triển vào năm 2020, toàn dân, toàn xã hội và trước
hết là các doanh nghiệp trong cũng như ngoài quốc doanh phải luôn hoàn thiện
bộ nhân viên của VINAGIMEX giúp đỡ để em hoàn thiện đề tài.
Chương I.
Lý luận chung về hoạt động nhập khẩu.
I. Bản chất kinh tế của Thương mại quốc tế và vấn đề kinh doanh xuất
nhập khẩu.
1. Bản chất kinh tế của Thương mại quốc tế.
1.1. Khái niệm.
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua
buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các
mối quan hệ kinh tế xã hội va phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giưã những người sản
xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia. Thương mại quốc tế là lĩnh
vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động
quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước.
Ngày nay, Thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn
bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế.
Vì vậy phải coi trọng Thương mại quốc tế như là một tiền đề một nhân tố phát triển
kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và
thể tiêu dùng với ranh giới của khả năng của sản xuất trong nước khi thực hiện chế
độ tự cung tự cấp, không buôn bán.
Tiền đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội. Với tiến bộ khoa
học kĩ thuật, phạm vi chuyên môn hoá ngày càng tăng, số sản phẩm và dịch vụ để
thoả mãn nhu cầu con người này càng một dồi dào, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nứoc ngày càng tăng.
Thương mại quốc tế và chuyên môn hoá tăng nhanh đã đặt ra câu hỏi lí do để
buôn bán là gì ?
Trước hết, thương mại xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của sản
xuất giữa các nước, nên chuyên môn hoá một số mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu
các mặt hàng khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế thì chắc chắn
đem lại lợi nhuận lớn hơn.
Sự khác nhau về điều kiện sản xuất ít nhất cũng giải thích được sự hình
thành nên Thương mại quốc tế giữa các nước trong kinh doanh các mặt hàng như
dầu lửa, lương thực, dịch vụ du lịch… Song như chúng ta đã biết, phần lớn số lượng
Thương mại thuộc các mặt hàng không xuất phát từ điều kiện tự nhiên vốn có của
sản xuất. Mỹ sản xuất được ôtô tại sao lại phải nhập khẩu ôtô từ Nhật Bản? Làm sao
nước ta với xuất phát điểm thấp và chi phí sản xuất hầu như lớn hơn tất cả các mặt
hàng của các cường quốc kinh tế lại có thể vẫn duy trì thương mại với các nước đó.
Nhà kinh tế học David Ricardo đã trả lời những câu hỏi này. Năm 1817 ông
đã chứng minh được rằng chuyên môn hoá quốc tế có lợi cho tất cả các nước và gọi
kết quả đó là Qui luật lợi thế tương đối (hay Lí thuyết về lợi thế so sánh).
Qui luật này khẳng định nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất các mặt
hàng mà nước đó có lợi thế tương đối hay có hiệu quả sản xuất cao nhất thì thương
mại có lợi cho cả hai nước.
Chúng ta bắt đầu với việc chỉ ra những lợi ích của Thương mại quốc tế do sự
chênh lệch giữa các quốc gia về chi phí cơ hội. Theo đó Chi phí cơ hội của một mặt
hàng là số lượng những mặt hàng khác người ta phải từ bỏ để sản xuất hoặc kinh
doanh thêm một đơn vị mặt hàng đó.
+ Máy Video
+ áo Sơmi
- Tiền lương theo giờ
chi phí lao động cho một
đơn vị sản phẩm
+ Máy Video
+ áo Sơmi 30
5
6
USD 18
0USD
30
60
6
2
bảng
với cùng một kĩ thuật công nghệ như nhau. Hàng hoá X là loại hàng hoá sử dụng
nhiều lao động và hàng hoá Y là hàng hoá sử dụng nhiều vốn và ở cả hai quốc gia,
không có sự chuyên môn hoá trong sản xuất. Đồng thời thị trường hàng hoá và thị
trường các yếu tố sản xuất là các thị trường cạnh tranh hoàn hảo, có sự dịch chuyển
linh hoạt của các yếu tố sản xuất trong phạm vi của một quốc gia nhưng không có
sự dịch chuyển trong phạm vi quốc tế. Trong mô hình hai ông cũng không xét đến
các chi phí vận tải, thuế nhập khẩu hoặc những trở ngại khác cho hoạt động thương
mại quốc tế tự do và giả định rằng tài nguyên được sử dụng triệt để ở cả hai quốc
gia.
Với những giả định như trên mô hình của Hécher- Ohlin phát biểu: Một nước
xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và
tương đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra nó
cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở nước đó. Một cách vắn tắt, một nước
tương đối giàu lao động sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập
khẩu các hàng hoá sử dụng nhiều vốn.
Theo các giả thiết đã trình bày ở trên, quốc gia thứ nhất sẽ xuất khẩu hàng
hoá X, vì sản xuất hàng hoá X sử dụng nhiều lao động, mà lao động lại là yếu tố
tương đối rẻ và phong phú ở quốc gia thứ nhất. Đồng thời quốc gia thứ hai sẽ xuất
khẩu hàng hoá Y vì sản xuất hàng hoá Y sử dụng nhiều yếu tố vốn là yếu tố tương
đối sẵn có ở nước thứ hai.
Về bản chất học thuyết của Hecsher- Ohlin căn cứ vào sự khác biệt về tính
phong phú và giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất, là nguyên nhân dẫn đến sự
khác biệt về giá cả tương đối của hàng hoá giữa các quốc gia trước khi có thương
mại để giải thích nguồn gốc của thương mại quốc tế. Sự khác biệt về giá cả tưong
đối của các yếu tố sản xuất và giá cả tương đối của hàng hoá sau đó sẽ được chuyển
thành sự khác biệt về giá cả tuyệt đối của hàng hoá. Sự khác biệt về giá cả tuyệt đối
của hàng hoá giữa hàng hoá của hai nước là nguyên nhân trực tiếp của Thương mại
quốc tế.
khâu từ điều tra thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất nhập khẩu, thương
nhân giao dịch, các bước tiến hành giao dịch đàm phán, kí kết hợp đồng, tổ chức
thực hiện hợp đồng cho đến khi hàng hoá chuyển đến cảng chuyển giao quyền sở
hữu cho người mua, hoàn thành các thanh toán. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này phải
được nghiên cứu đầy đủ, kĩ lưỡng, đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ
nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất, phục vụ đầy đủ kịp thời
cho sản xuất và tiêu dùng trong nước.
Đối với người tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trước khi bước vào nghiên
cứu, thực hiện các khâu nghiệp vụ phải nắm bắt được các thông tin về nhu cầu hàng
hoá, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, khả năng mở rộng sản xuất, tiêu dùng trong nước,
giá cả, xu hướng biến động của nó. Những điều đó phải trở thành nếp thường xuyên
trong tư duy mỗi nhà kinh doanh xuất nhập khẩu để nắm bắt được những cơ hội
trong kinh doanh Thương mại quốc tế.
II. Nhập khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế.
1. Tính tất yếu khách quan của hoạt động nhập khẩu.
Lịch sử đã chứng minh không một quốc gia nào có thể phát triển một cách
đơn độc mà phải hoà mình vào nền kinh tế chung- nền kinh tế toàn cầu. Đó chính là
sự tham gia vào thương mại quốc tế mà xuất khẩu và nhập khẩu là mặt rất quan
trọng. Thương mại quốc tế đã tồn tại đâu đó, ẩn dưói hình thức này hay hình thức
khác kể từ những giai đoạn đầu loài người hình thành và phát triển ngày càng hoàn
thiện cùng vời sự phát triển của nhân loại, của thế giới và đến thời đại bây giờ, đến
những năm đầu của thiên niên kỉ thứ III, thương mại quốc tế hơn bao giờ hết đã
khẳng định vai trò của mình.
Thương mại quốc tế làm cho các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn
về mọi mặt, làm cho con người ngày càng thoả mãn tốt hơn các nhu cầu vật chất và
tinh thần của mình. đó là lí do giải thích tại sao từ nhiều thiên niên kỉ trước các đội
thuyền buôn của vương quốc Anh, Tây ban nha, Bồ đào nha… buôn bán khắp năm
châu bốn bể để mua các sản vật quí như: Gấm vóc, lụa là, trầm hương, đồi mồi… và
chỉ ra rằng, để khai thác các lợi thế thì trong chừng mực nào đó lại phụ thuộc vào
nhập khẩu.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển lại trong thời kì công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước, do vậy hoạt động nhập khẩu đóng vai trò hết sức quan trọng.
Trong vòng hơn mười năm qua (1991- 2002) kinh tế Việt Nam luôn duy trì ở mức
tăng trưởng cao, sản xuất công nghiệp luôn tăng trưởng ở mức 15% dến 17%/năm.
Bên cạnh đó Việt Nam còn là một nước nông nghiệp nên nhu cầu phân bón, máy
móc nông nghiệp khá cao. Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này chiếm tỷ trọng lớn
trong kim ngạch nhập khẩu của nước ta. Như vậy hoạt động nhập khẩu của nước ta
trong vòng hơn mười năm qua đã hoàn thành tốt vai trò của mình.
Xét cho cùng, mặc dù luôn hướng tới mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu song
cũng phải khẳng định vai trò của hoạt động nhập khẩu. Do vậy, nên có một cách
nhìn nhận khoa học đối với hoạt động nhập khẩu và Nhà nước cần có chính sách,
biện pháp quản lí hợp lí tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu nhằm đẩy
mạnh sản xuất bằng các chính sách thuế, hạn ngạch phù hợp.
3. Vai trò của nhập khẩu đối với doanh nghiệp.
Trong thời điểm hiện nay vơí chính sách khuyến khích xuất khẩu của nhà
nước hầu hết các doanh nghiệp trong nước chú trọng đến xuất khẩu do vậy dẫn đến
đánh giá không đúng vai trò của nhập khẩu. Công ty VINAGIMEX với tính chất và
đặc điểm kinh doanh của mình thì nhập khẩu đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển.
Thực tế cho thấy trong những năm gần đây kim ngạch nhập khẩu của công ty luôn
tăng lên và đã đem lại cho công ty nguồn doanh thu, lợi nhuận tăng lên rõ rệt. Nhận
thức được điều đó cán bộ ban lãnh đạo công ty luôn đề ra những chiến lược kinh
doanh nhập khẩu phù hợp và có khả năng thích ứng cao với mọi biến động của thị
trường. Đồng thời, với bất kì một nhà kinh doanh nào thì mục tiêu lợi nhuận cũng
được đặt lên hàng đầu, đó là nguyên tắc bất di bất dịch trong kinh doanh buôn bán
làm ăn. Trong khi đó một khi mà lợi ích của công ty phù hợp với lợi ích của quốc
gia thì nâng cao vai trò của lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu là vấn đề rất đúng đắn.
Chúng ta sẽ làm rõ vấn đề này trong các phần sau.
Mục đích của việc nghiên cứu thị trường mặt hàng nhập khẩu là để tìm ra
mặt hàng nhập khẩu mà nhu cầu trong nước đang cần nhưng phải phù hợp với mục
tiêu và lợin nhuận của doanh nghiệp. Muốn biết mặt hàng nào đang được khách
hàng và người tiêu dùng trong nước đang cần, đang là nhu cầu thiết yếu của thị
trường trong nước thì phải tiến hành nghiên cứu khảo sát trên các khía cạnh sau:
- Về mặt hàng, phẩm chất, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu…
- Về tình hình tiêu dùng mặt hàng đó ra sao, phải hiểu rõ về tập quán tiêu
dùng, thị hiếu và qui luật biến động của quan hệ cung cầu để có thể đáp ứng nhu
cầu của thị trường một cách tốt nhất.
- Dự đoán về chu kì sống của sản phẩm: Doanh nghiệp phải tìm hiểu được
mặt hàng mình định nhập khẩu (có thể là thành phẩm hoặc nhập khẩu nguyên liệu
để sản xuất hàng hoá tiêu thụ trong nước) đang ở giai đoạn nào trong chu kì sống
của mặt hàng đó để có quyết định chính xác nhằm nâng cao doanh số cũng như hiệu
quả kinh doanh.
Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu là bao nhiêu? Thương mại quốc tế do các
nước có hệ thống tiền tệ khác nhau nên việc xác định tỷ suất ngoại tệ hàng nhập
khẩu là cần thiết để xem xét kinh doanh có hiệu quả hay không. Tỷ suất ngoại tệ
hàng nhập khẩu là tổng số bản tệ thu được khi bỏ ra một đồng ngoại tệ. Nếu tỷ suất
này lớn hơn tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và đồng ngoại tệ thì việc nhập khẩu
có lãi và ngược lại sẽ bị thua lỗ.
1.1.2. Nghiên cứu dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến
dung lượng thị trường.
Dung lượng thị trường là một khối hàng hoá được giao dịch trên phạm vi
một thị trường nhất định trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Đối
với đơn vị kinh doanh nhập khẩu, nghiên cứu dung lượng thị trường cần xác định
khả năng cung cấp của thị trường bao gồm việc xem xét đặc điểm, tính chất, khả
năng sản xuất hàng thay thế, khả năng lựa chọn mua bán.
Dung lượng thị trường là không cố định, nó thay đổi tuỳ theo diễn biến của
từng giai đoạn nhất định. Các yếu tố ảnh hưởng tới dung lượng của thị trường có thể
1.2. Nghiên cứu thị trường ngoài nước.
Đối với những đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu việc nghiên cứu thị trường
ngoài nước có ý nghĩa quan trọng. Trong việc nghiên cứu đó nắm vững những nội
dung về tình hình chính trị, pháp luật, điều kiện Thương mại nói chung, thái độ
quan điểm của nước xuất khẩu, điều kiện tín dụng, vận tải, giá cước… Ngoài ra cần
phải nghiên cứu dung lượng thị trường và giá cả trên thị trường quốc tế.
1.2.1. Nguồn cung cấp trên thị trường quốc tế.
Doanh nghiệp cần nắm vững được tình hình các nguồn cung cấp trên thị
trường quốc tế mà doanh nghiệp khả năng giao dịch rồi từ đó nghiên cứu các đặc
điểm thị trường các nước trên các phương diện:
- Thái độ và quan điểm của các nước cung cấp thể hiện qua các chính sách
ưu tiên xuất khẩu hay hạn chế xuất khẩu.
- Tình hình chính trị quốc gia đó có ổn định hay không, có tác động đến
nguồn cung cấp mặt hàng đó như thế nào ?
- Về vị trí địa lí có thuận tiện cho giao dịch mua bán, có đem lại hiệu quả
kinh doanh hay không, có tiết kiệm chi phí vận chuyển, bảo hiểm trong quá trình
nhập khẩu của doanh nghiệp ?
1.2.2. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường quốc tế.
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời thể hiện một
cách tổng hợp các hoạt động kinh tế trên thị trường thế giới. Giá cả không những
phản ánh mà còn điều tiết mối quan hệ cung cầu hàng hoá. Việc xác định đúng đắn
giá cả trong nhập khẩu có ý nghĩa to lớn với hiệu quả Thương mại quốc tế, cụ thể sẽ
làm giảm lượng ngoại tệ chi ra. Vì vậy giá cả là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu
quả của hoạt động ngoại thương.
Giá cả trong hoạt động xuất nhập khẩu là giá cả quốc tế. Do vậy để đạt được
hiệu quả cao trong kinh doanh trên thị trường quốc tế và để giá cả thực sự trở thành
đòn bẩy trong ngoại thương, phải có biện pháp tính toán giá cả một cách chính xác,
khoa học, phải nắm vững được xu hướng vận động của giá cả trên thị trường quốc
tế. Nghiên cứu giá cả bao gồm việc nghiên cứu giá cả của từng mặt hàng tại từng
hoạch định hướng tới đạt mục tiêu của doanh nghiệp. Đồng thời phương án kinh
doanh giúp doanh nghiệp giảm được rủi ro và mang lại hiệu quả trong kinh doanh.
Việc hoạch định phương án kinh doanh đã thúc đẩy các cấp quản trị hướng
tới sự suy nghĩ có hệ thống và dẫn đến sự phối hợp có nỗ lực của các doanh nghiệp
trong hoạt động kinh doanh được hoàn hảo hơn. Phương án kinh doanh cũng dẫn
đến việc triển khai các tiêu chuẩn kiểm tra thực tiễn và các biện pháp tác động làm
cho các hoạt động có hiệu quả hơn.
Quá trình xây dựng phương án kinh doanh bao gồm các bước sau:
- Phân tích để lựa chọn thị trường và mặt hàng nhập khẩu là phải phân tích
đánh giá tình hình và dự đoán sự thay đổi của môi trường kinh doanh.
- Xác định mục tiêu: Mục tiêu doanh số, lợi nhuận, tỷ suất, lãi trên vốn đầu
tư và các mục tiêu như an toàn, phát triển, thế vị đạt được từ hoạt động nhập khẩu.
- Phác thảo phương án kinh doanh:
Thương mại cần thiết để mua bán. Mục đích cơ bản của việc hỏi giá là việc nhận
được các báo giá với thông tin đầy đủ nhất. Do đó nội dung cơ bản của một hỏi giá
là yêu cầu người bán cho biết các thông tin chi tiết về qui cách, phẩm chất, số
lượng, bao bì, điều kiện giao hàng, giá cả điều kiện thanh toán và các điều kiện
thương mại khác.
Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của người hỏi giá, cho nên người hỏi
giá có thể gửi hỏi giá nhiều nơi để lựa chọn ra các báo giá tối ưu, từ đó chính thức
lựa chọn nhà cung cấp. Tuy nhiên không nên hỏi quá nhiều tạo nhu cầu giả tạo
không có lợi cho người mua.
4.1.2. Chào hàng, báo giá.
Chào hàng là một đề nghị kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá được chuyển
cho một hay nhiều người xác định. Nội dung cơ bản của một chào hàng: Tên hàng,
số lượng, qui cách, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm, thời gian giao nhận
hàng cùng một số điều kiện khác như bao bì, kí mã hiệu…
Chào hàng có thể do người bán hoặc người mua đưa ra. Nếu là người mua
đưa ra gọi là chào mua hàng, nếu của người bán ra thì gọi là chào bán hàng. Báo giá
cũng là chào hàng.
4.1.3. Đặt hàng.
Đặt hàng là lời đề nghị kí kết hợp đồng thương mại của người mua cho nên
về nguyên tắc, nội dung của đơn đặt hàng phải đầy đủ nội dung cần thiết cho việc kí
kết hợp đồng. Trong thực tế, người ta chỉ đặt hàng với những khách hàng có quan
hệ thường xuyên hoặc hai bên đã kí kết những hợp đồng dài hạn và thoả thuận giao
hàng theo nhiều lần. Trong trường hợp này, nội dung chỉ nêu những điều kiện riêng
biệt đối với lần đặt hàng đó. Còn những điều kiện khác, hai bên áp dụng thao những
điều kiện của hợp đồng đã kí kết trong những lần giao dịch trước. Cả hai bên đều
phải xác định số lượng hàng cho một lần đặt hàng bao nhiêu là tối ưu nhất. Trong
khi xác định cần phải tính đến chi phí vận chuyển.
4.1.4. Hoàn giá.
4.3. Kí kết hợp đồng.
Việc giao dịch đàm phán kí kết hợp đồng nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký
hợp đồng nhập khẩu. Hợp đồng nhập khẩu là hợp đồng kinh tế đặc biệt mà người
bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và người mua
có nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền theo giá trị hợp đồng được chuyển giao theo
phương thức thanh toán quốc tế.
Hợp đồng Thương mại quốc tế là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở
kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán (bên xuất
khẩu) có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu cho bên khác gọi là bên mua (bên
nhập khẩu ) một tài sản nhất định gọi là hàng hoá. Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng
và trả tiền.
Hình thức hợp đồng bằng văn bản là hình thức bắt buộc với đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu ở nước ta. Các điều khoản là của hợp đồng do bên bán và bên
mua tự thoả thuận một cách chi tiết. Mặc dù trước đó đã có đơn hàng hoặc chào
hàng nhưng hai bên vẫn phải thiết lập một văn bản. Hợp đồng yếu tốạo cơ sở pháp
lí cụ thể cho việc trao đổi hàng hoá từ quốc gia này sang quốc gia khác và làm căn
cứ để xác định lỗi khi có tranh chấp xảy ra.
Hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu là bằng chứng bảo vệ quyền lợi và
trách nhiệm của các bên tham gia ký kết và giải quyết tranh chấp về mua bán xảy ra
giữa các bên. Hợp đồng tạo thuận lợi cho việc theo dõi, kiểm tra, thống kê việc thực
hiện hợp đồng theo quy định chung của của quản lý Nhà nước.
5. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Các bước thực hiện quy trình nhập khẩu. Xin
giấy
phép
nhập
Mở L/C