LUẬN VĂN: Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu tại Công ty hoá chất – Bộ thương mại - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh
kinh doanh xuất khẩu tại Công ty hoá
chất – Bộ thương mại
Mở đầu

Trong quá trình phát triển nền kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương mở
rộng và phát triển kinh tế đối ngoại trong đó một lĩnh vực quan trọng là thương mại
hàng hoá và dịch vụ với nước ngoài, mà một trong những hoạt động đó là xuất khẩu –
một lĩnh vực cơ bản trong kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy hữu hiệu việc
phát triển kinh tế của từng quốc gia. Để cho nền kinh tế quốc dân phát triển và tăng
cường vững chắc thì không thể coi nhẹ hoạt động kinh doanh hàng xuất khẩu. Xuất
khẩu cho phép khai thác được các tiềm năng thế mạnh của đất nước, đẩy nhanh quá

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tại Công ty hoá chất – Bộ thương mại, mốc
thời gian mà em chọn để nghiên cứu đề tài này từ 1998 – 2002.
Chuyên đề của em được trình bày như sau: không kể mở đầu và kết luận,
chuyên đề của em được chia thành 3 chương

Chương I: Vai trò và nội dung của hoạt động xuất khẩu trong hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp.

Chương II: Tình hình kinh doanh xuất khẩu của Công ty hoá chất – Bộ thương
mại.

Chương III: Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu ở Công ty hoá
chất – Bộ thương mại.

Trong quá trình thực hiện đề tài này em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn
nhiệt tình của thầy giáo TS. Trần Hoè, cô giáo ThS. Hoàng Hương Giang và cán bộ
công nhân viên của Công ty hoá chất – Bộ thương mại đã tạo điều kiện giúp đỡ em
hoàn thành đề tài này. Do điều kiện thời gian và năng lực bản thân có hạn, đề tài
không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của các
thầy cô giáo và các bạn sinh viên quan tâm đến đề tài này.

chương I
Vai trò và nội dung của hoạt động xuất khẩu trong hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp.

I. Bản chất, vai trò của xuất khẩu trong hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp.


2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu

2.1. Xuất khẩu trực tiếp

Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu mà trong đó doanh nghiệp trực tiếp
kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá với các doanh nghiệp, các thương nhân nước ngoài
được Nhà nước cho phép.
Đây là hình thức xuất khẩu không thông qua trung gian (người thứ ba), có thể
xuất khẩu trực tiếp theo hai cách sau:
- Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu xong mới ký kết hợp đồng xuất khẩu.
- Ký hợp đồng xuất khẩu xong mới chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu.
Hình thức xuất khẩu này cho phép các doanh nghiệp giảm bớt được các chi
phí trung gian, giúp doanh nghiệp tiếp xúc được với thị trường và khách hàng, chủ
động trong mọi hoạt động xuất khẩu. Song bên cạnh đó nó cũng gặp phải một số khó
khăn trong việc gặp gỡ để kí kết, nếu không có hoặc thiếu kinh nghiệm trong hoạt
động xuất khẩu, thiếu sự hiểu biết về bạn hàng thì rất dễ thất bại trong hoạt động xuất
khẩu.

2.2. Xuất khẩu gián tiếp

Đây là hình thức xuất khẩu mà mọi quan hệ giữa người mua, người bán và
việc quy định các điều kiện mua bán phải thông qua một người thứ ba (gọi là trung
gian mua bán).
Hình thức này được sử dụng khi người xuất khẩu, doanh nghiệp xuất khẩu
không đủ điều kiện để xuất khẩu trực tiếp.

- Cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau .
- Cân bằng về điều kiện giao hàng.
Các loại hình buôn bán đối lưu:
- Nghiệp vụ hàng đổi hàng.
+ Trao đổi hàng hoá có giá trị tương đương.
+ Thời gian trao đổi hầu như diễn ra đồng thời.
+ Có thể có nhiều bên cùng tham gia.
- Nghiệp vụ bù trừ.
+ Trao đổi trên cơ sở ghi giá trị hàng giao, cuối kỳ mới quyết toán. Có thể
thanh thoán bằng tiền hoặc bằng hàng số chênh lệch theo hợp đồng.
+ Thời gian trao đổi hầu như diễn ra đồng thời.
+ Có thể có nhiều bên cùng tham gia.
- Nghiệp vụ mua đối lưu.
+ Một bên giao thiết bị cho khách để đổi lại mua thành phẩm, bán thành phẩm,
nguyên vật liệu
+ Thời gian trao đổi không đồng thời. Hợp đồng thực hiện trong thời gian
không dài thường từ 1 đến 5 năm .
+ Có nhiều mặt hàng được trao đổi và nhiều bên tham gia.
+ Giá trị thanh toán thường không đạt 100% giá trị hàng mua về, chênh lệch
được thanh toán bù trừ.
- Nghiệp vụ chuyển nợ.
+ Trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ lấy những dịch vụ hoặc ưu huệ.
- Nghiệp vụ mua lại.
+ Một bên cung cấp thiết bị toàn bộ, bằng sáng chế hoặc bí quyết kỹ thuật cho
bên khác đồng thời đảm bảo mua lại sản phẩm do thiết bị, sáng chế hay bí quyết kỹ
thuật đó tạo ra.
+ Thời gian thực hiện thường dài thường từ 10 đến 20 năm.


giao dịch có thể coi là một tài liệu tham khảo trong việc xác định giá quốc tế.
Các loại giao dịch ở sở giao dịch. - Giao dịch giao ngay: là giao dịch trong đó hàng hoá được giao ngay và
trả tiền ngay vào lúc ký kết hợp đồng. - Giao dịch kỳ hạn: là giao dịch trong đó giá cả được ấn định vào lúc ký
kết hợp đồng trong việc giao hàng và thanh toán đều được tiến hành sau một kỳ hạn
nhất định nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá giữa lúc kí kết hợp đồng và lúc giao
hàng.
- Nghiệp vụ tự bảo hiểm: là một biện pháp kỹ thuật thường được các nhà
buôn nguyên liệu, nhà sản xuất sử dụng nhằm tránh những rủi ro do biến động giá cả
làm thiệt hại đến số lãi sự tính, bằng cách lợi dụng giao dịch khống ở sở giao dịch.

2.7. Giao dịch tại hội chợ triển lãm.

Hội chợ triển lãm là thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thời
gian và địa điểm cố định trong thời hạn nhất định, tại đó người bán
đem trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua
bán.
Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu những thành tựu của một nền kinh tế
hoặc một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật. Liên quan chặt chẽ đến ngoại
thương là các cuộc triển lãm công thương nghiệp, tại đó người ta trưng bày các loại
hàng hoá nhằm mục đích quãng cáo để mở rộng khả năng tiêu thụ.

2.8. Gia công quốc tế.

Gia công quốc tế là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên

3.1. Đối với nền kinh tế thế giới

Là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu tiên
của thương mại quốc tế, xuất khẩu có một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới. Do những điều kiện
khác nhau nên một quốc gia có thể mạnh về

lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác. Vì vậy, để có thể khai thác được lợi thế,
tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành
trao đổi với nhau dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo. Ông nói rằng: " Nếu
một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các
loại sản phẩm, thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích của chính mình" và khi tham gia vào thương mại quốc tế thì "quốc gia có hiệu quả
thấp trong sản xuất các loại hàng hóa sẽ tiến hành chuyên môn hóa sản xuất và xuất
khẩu các loại hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất và nhập khẩu những
loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng có bất lợi lớn hơn".
Nói cách khác, một quốc gia trong tình huống bất lợi vẫn có thể tìm ra điểm có
lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này, các quốc gia tập trung vào sản
xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tương đối. Sự chuyên môn hóa đó làm cho
mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất, giúp tiết kiệm được
nguồn lực như vốn, kỹ thuật, nhân
lực trong quá trình sản xuất hàng hóa. Do đó, tổng sản phẩm trên quy mô toàn thế
giới cũng sẽ được gia tăng.

3.2. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia

Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, xuất khẩu tạo nguồn vốn chính cho nhập
khẩu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự tăng trưởng

Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào
cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng sản phẩm - những yếu tố
đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị
kinh doanh, đồng thời có ngoại tệ để đầu tư lại quá trình sản xuất không những về
chiều rộng mà cả về chiều sâu.
Ngoài ra, sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao
động, tạo thu nhập ổn định cho người lao động, tạo ra ngoại tệ để nhập máy móc thiết
bị hiện đại phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và đem lại lợi nhuận cao. II. Nội dung của hoạt động xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu là một quy trình kinh doanh tổng hợp bao gồm nhiều
bước nối tiếp nhau. Mỗi bước đều có đặc điểm riêng biệt và được tiến hành theo những cách thức khác nhau, nhưng lại có liên quan chặt chẽ với nhau. Nhìn chung hoạt
động xuất khẩu được tiến hành theo các bước sau:

1. Nghiên cứu và lựa chọn thị trường xuất khẩu

Thị trường là yếu tố quan trọng nhất trong kinh doanh nói chung và xuất khẩu
nói riêng, nó quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp. Thị trường biến động rất
phức tạp và vận động không ngừng, do vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải
nghiên cứu thị trường để đưa ra những chiến lược phát triển lâu dài. Nghiên cứu thị
trường tốt tạo khả năng cho các nhà kinh doanh nhận ra được quy luật vận động của

Điều quan trọng trong khi nghiên cứu nhu cầu thị trường đó là tìm hiểu về
dung lượng thị trường. Như ta đã biết dung lượng thị trường là khối lượng hàng hóa
được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định. Nhưng nó không xác định mà
thay đổi do những nhân tố tổng hợp trong những giai
đoạn nhất định. Có thể chia làm ba nhóm nhân tố ảnh hưởng tới dung lượng thị
trường:
- Nhóm 1: Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến đổi có tính chất
chu kỳ như sự vận động của tình hình kinh tế các nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước phương Tây, tính chất thời vụ trong quá trình sản xuất, phân phối và lưu thông
hàng hóa
- Nhóm 2: Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến đổi dung lượng thị trường
như tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các biện pháp, chính sách của Nhà nước,
tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng, ảnh hưởng của hàng hóa thay thế - Nhóm 3: Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường. Nó
bao gồm: hiện tượng đầu cơ trên thị trường gây ra những biến đổi về cung cầu, bão lụt,
hạn hán
Như vậy, khi nghiên cứu thị trường hàng hóa khác nhau phải căn cứ vào đặc
điểm của chúng để đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, xác định được
nhân tố chủ yếu có ý nghĩa quyết định đến xu hướng vận động của thị trường trong
giai đoạn hiện tại và tương lai. Đặc biệt trong quá trình kinh doanh xuất nhập khẩu nói
chung và xuất khẩu nói riêng, nắm vững dung lượng thị trường giúp cho các nhà kinh doanh cân nhắc để đề ra những quyết định kịp thời, chính xác và nhanh chóng chớp
được thời cơ giao dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.

1.2. Phân tích thông tin về thị trường xuất khẩu


+ Môi trường cạnh tranh: cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế thị trường với nguyên tắc ai thoả mãn được nhu cầu của khách hàng thì
người đó sẽ giành thắng lợi, tồn tại và phát triển. Do vậy các doanh nghiệp phải tạo
được lợi thế cho mình trong cạnh tranh bằng cách tích cực nghiên cứu thị trường, tìm
hiểu nhu cầu thị trường để không ngừng hoàn thiện sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu thị
trường, vượt qua đối thủ.
+ Môi trường sinh thái: ảnh hưởng lớn đến cơ hội kinh doanh của doanh
nghiệp. Các yếu tố thuộc vấn đề sinh thái và bảo vệ môi trường tự nhiên ngày càng
được xem trọng, nó không chỉ liên quan tới vấn đề phát triển bền vững của một quốc
gia mà còn liên quan tới sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
- Phân tích thông tin về giá cả hàng hoá.
Giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới là vấn đề quan trọng đối với bất kỳ
đơn vị kinh doanh xuất khẩu nào. Thông tin hàng hoá bị sai lệch thì sẽ gây tổn thất lớn
cho doanh nghiệp. Do vậy thông tin về giá cả phải chính xác.
Giá cả trên thị trường thế giới thường xuyên biến động phức tạp và chịu sự chi
phối của nhiều yếu tố. Vậy để nắm bắt được chính xác thông tin về giá cả thì phải
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới giá cả.
- Phân tích thông tin về nhu cầu thị trường.

Đây là thông tin được coi trọng trong hoạt động Marketing thương mại quốc
tế, bởi mọi công việc kinh doanh đều bắt đầu từ nhu cầu thị trường.
Do vậy việc nghiên cứu nhu cầu thị trường là một hoạt động thiết yếu cho các
doanh nghiệp.

1.3. Lựa chọn thị trường xuất khẩu, đối tác kinh doanh

Để lựa chọn được thị trường xuất khẩu trước hết ta cần phải xác định tiêu
chuẩn mà các thị trường phải đáp ứng được.
- Tiêu thức chung:


Trên cơ sở những kết quả thu lượm được trong quá trình nghiên cứu thị
trường, đơn vị kinh doanh tiến hành xây dựng kế hoạch xuất khẩu cho mình. Kế hoạch xuất khẩu là những chỉ tiêu, con số được dự kiến và ước tính trong việc thực hiện
nhiệm vụ xuất khẩu cụ thể của doanh nghiệp, phù hợp với yêu cầu của thị trường, với
pháp luật và trong khả năng thực tế của doanh nghiệp. Việc xây dựng kế hoạch này
bao gồm:
- Đánh giá tình hình thị trường, phác họa bức tranh tổng quát về hoạt động
kinh doanh và đưa ra những khó khăn, thuận lợi.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh. Sự
lựa chọn này phải có tính thuyết phục dựa trên cơ sở phân tích tình hình có liên quan
- Đề ra mục tiêu cụ thể: khối lượng, giá bán và thị trường xuất khẩu.
- Đưa ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó.
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua các chỉ
tiêu chủ yếu như: tỷ suất ngoại tệ, thời gian hoàn vốn, điểm hòa vốn
- Tính toán các chỉ tiêu kế hoạch: việc này phải dựa vào kế hoạch sản xuất
kinh doanh chung của doanh nghiệp. Thường các chỉ tiêu này được tính tăng lên hơn
một số % nhất định so với giá trị thực hiện của các chỉ tiêu đó ở năm hiện thời.
Các chỉ tiêu này bao gồm:
+ Số lượng sản phẩm cho xuất khẩu.

+ Tổng giá trị sản lượng cho xuất khẩu.
+ Giá cả sản phẩm xuất khẩu.
+ Phương thức xuất khẩu.
+ Phương thức thanh toán
Ngoài ra còn các chỉ tiêu khác
- Lập bảng kế hoạch.
Sau khi doanh nghiệp đã xác đinh được các chỉ tiêu cơ bản thì cần phải thực
hiện tốt các chỉ tiêu trên. Phải lập ra bảng thống kê chi tiết, cùng với những số liệu cụ

tiêu thụ.

3.3. Đàm phán ký kết hợp đồng

a. Các hình thức đàm phán
Đàm phán là việc bàn bạc, trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến ký kết hợp đồng. Thông thường có các hình
thức: đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điện thoại, đàm phán bằng cách gặp gỡ trực
tiếp Hình thức thứ ba thường được dùng khi có điều kiện phải giải quyết cặn kẽ để
thuyết phục nhau hoặc là những hoạt động lớn, phức tạp.
Khi đàm phán ta phải tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Chào hàng: đây là việc nhà kinh doanh thể hiện rõ ý định bán hàng
của mình, là lời đề nghị ký kết hợp đồng.
- Bước 2: Hoàn giá: khi người nhận nhận được đơn chào hàng nhưng không
chấp nhận hoàn toàn đơn chào hàng đó mà đưa ra một lời đề nghị mới thì lời đề nghị
này gọi là hoàn giá.
- Bước 3: Chấp nhận: là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện chào hàng
mà phía bên kia đưa ra. Sau đó tiến hành ký kết hợp đồng.
- Bước 4: Xác nhận: sau khi hai bên thỏa thuận với nhau về điều kiện giao
dịch, có thể ghi lại tất cả các thỏa thuận gửi cho bên kia. Đó là văn kiện có chữ ký của
cả hai bên.

Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác thời kỳ 1998 - 2002

 Xin giấy phép xuất khẩu:

Theo nghị định 57/CP ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ. Thương nhân
là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo quy định của luật pháp
được phép xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ theo ngành nghề đã đăng ký kinh doanh. Vì
vậy các doanh nghiệp hoặc cá nhân đã có đăng ký kinh doanh tại cục Hải quan tỉnh,
thành phố thì không phải xin giấy phép kinh doanh xuất khẩu nếu như mặt hàng xuất
khẩu nằm trong danh mục hàng hoá đã đăng ký hàng hóa kinh doanh. Nếu hàng hoá
xuất khẩu nằm ngoài danh mục các mặt hàng phải có giấy phép kinh doanh xuất khẩu
thì phải xin giấy phép xuất khẩu. Hiện nay việc cấp giấy phép xuất khẩu được quy
định như sau:
- Bộ thương mại sẽ cấp giấy phép hàng hoá mậu dịch.
- Tổng cục hải quan cấp giấy phép xuất khẩu hàng hoá phi mậu dịch.
 Kiểm tra L/C (nếu phương thức thành toán là tín dụng chứng từ).
Xin giấy
phép xuất
kh
ẩu

Kiểm
nghiệm
hàng hóa

Giải
quyết

cam kết của ngân hàng người nhập khẩu cam kết sẽ thanh toán cho người xuất khẩu
nếu người này xuất trình một bộ chứng từ phù hợp với L/C đã mở. Phương thức thanh
toán L/C đảm bảo cho người xuất khẩu nhận được tiền hàng. Người xuất khẩu phải
kiểm tra L/C xem người nhập khẩu mở L/C có phù hợp hay không. Nếu doanh nghiệp
thấy không phù hợp thì đề nghị ngân hàng mở L/C tu chỉnh lại cho phù hợp. Vấn đề
kiểm tra L/C là rất quan trọng bởi nó liên quan tới việc có được thanh toán hay không.

 Chuẩn bị hàng hoá cho xuất khẩu.
Hàng hoá xuất khẩu được thu gom thành từng lô hàng xuất khẩu. Hàng hoá
phải được chuẩn bị đầy đủ về cả số lượng và chất lượng theo hợp đồng. Hàng hoá
được tập trung thì phải đóng gói, bao bì theo thoả thuận trong hợp đồng. Bao bì đóng
gói hàng hoá phải đảm bảo cho chất lượng của hàng hoá và phù hợp với điều kiện vận
chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bốc xếp và di chuyển hàng hoá, tạo điều kiện
cho việc nhận biết và phân loại hàng hoá. Gây ấn tượng tốt đẹp cho khách hàng.

 Thuê tàu.
Tuỳ theo từng hợp đồng đã được ký kết và điều kiện cơ sở giao hàng trong
hợp đồng đó, mà người xuất khẩu có thể phải thuê tàu hoặc không phải thuê tàu.
Trong trường hợp phải thuê tàu thì người xuất khẩu dựa vào các căn cứ sau đây:
- Những điều khoản trong hợp đồng mua bán.
- Đặc điểm của hàng hoá xuất khẩu.
- Điều kiện vận tải.
Chọn hãng tàu có uy tín có thể đảm bảo chuyên chở hàng hoá cho mình với
giá cước hợp lý. Tuỳ theo số lượng và tính chất của hàng hoá mà thuê loại tàu là: tàu chợ hoặc tàu chuyến. Nếu thuê tàu chợ thì phải đăng ký lưu
khoang và lưu cước trước với đại lý vận tải, còn thuê tàu chuyến phải có
mà người xuất khẩu có thể phải mua bảo hiểm hoặc không phải mua bảo hiểm cho hàng hoá đó. Mua bảo hiểm bảo đảm quyền lợi cho cả người mua và người bán. Tuỳ
vào loại hàng hoá có giá trị như thế nào để có thể mua bảo hiểm hàng hoá theo 3 mức
khác nhau:
- A - bảo hiểm mọi rủi ro.
- B - bảo hiểm có bồi thường tổn thất riêng.
- C - bảo hiểm miễn tổn thất riêng.
Nếu người xuất khẩu phải mua bảo hiểm thì cần lưu ý chọn hãng bảo hiểm nào
có uy tín để ký kết hợp đồng bảo hiểm, có thể ký kết hợp đồng bảo hiểm bao hoặc bảo
hiểm chuyến tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. Doanh nghiệp cần nghiên cứu xác suất
rủi ro để ký hợp đồng mua bảo hiểm ở mức suất phí phù hợp.

 Giao hàng lên tàu.
Sau khi hoàn tất các thủ tục trên doanh nghiệp phải giao hàng lên tàu nếu như
trong hợp đồng quy định. Trước tiên doanh nghiệp phải đưa hàng hoá vào đúng nơi
quy định trong cảng cho phù hợp với điều kiện của phương tiện vận tải (ở nước ta chủ
yếu là tàu biển). Sau đó phải trình bản đăng ký hàng chuyên chở cho người vận tải để
lấy sơ đồ xếp hàng khi tàu đến cảng. Khi bốc xếp hàng hoá lên tàu thì cần chú ý xem
chi phí bốc xếp thuộc về ai, ai là người chỉ dẫn bốc xếp để đảm bảo chất lượng hàng
hoá. Khi bốc xếp hàng xong chủ hàng phải lấy được vận đơn hoàn hảo.

 Làm thủ tục thanh toán.
Thanh toán là khâu quan trọng và là kết quả cuối cùng của tất cả các giao dịch
đàm phán kinh doanh của doanh nghiệp. Do đặc điểm buôn bán với nước ngoài, nên
thanh toán trong kinh doanh thương mại quốc tế phức tạp hơn nhiều. Hiện nay người
ta thường dùng các phương thức thanh toán sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status