TIỂU LUẬN:
Công nghiệp hoá-hiện đại hoá -
Thực trạng và giải pháp ở nước
ta hiện nay
Lời giới thiệu
Nước ta đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
cơ sở vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa cao, quan hệ
sản xuất mới chưa hoàn thiện. Vì vậy, công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-
HĐH) là một xu hướng khách quan, phù hợp với xu thế của thời đại và hoàn cảnh
đất nước góp phần tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội, hoàn
thiện quan hệ sản xuất.
Do CNH-HĐH có ý nghĩa vô cùng to lớn với nước ta nên đã có rất nhiều
nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà kinh tế và cả sinh viên nghiên cứu về đề tài
này nhằm đưa ra giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH. Trong số các
công trình đó có không ít những công trình có tác dụng lớn đối với quá trình CNH-
HĐH ở nước ta.
Đối với tôi, được sinh ra và lớn lên đúng vào thời điểm đất nước bắt đầu
đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH, tôi mong đóng góp phần nào đó công sức của
mình vào sự nghiệp chung của đất nước. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Công
nghiệp hoá-hiện đại hoá - Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay.”
Trong đề tài có sử dụng và tham khảo nhiều tài liệu và quan điểm của các
lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây.
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất
nước, CNH ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: CNH phải gắn liền với HĐH. Sở dĩ như vậy là vì trên thế giới
đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Một số nước phát
triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nên phải tranh
thủ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ, tiếp cận với kinh tế tri thức
để hiện đại hoá những ngành, những khâu, những lĩnh vực có khả năng nhảy vọt.
Thứ hai: CNH phải nằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. CNH
là tất yếu của các nước nhưng với mỗi nước mục tiêu và tính chất của CNH lại
khác. ở nước ta, CNH nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ Nghĩa Xã Hội, tăng
cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Thứ ba: CNH trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước. Điều này làm cho CNH trong giai đoạn hiện nay khác với CNH trong giai
đoạn đổi mới. Trong cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hoá tập trung-hành chính, bao
cấp, CNH được thực hiện theo kế hoạch, mệnh lệnh của nhà nước. Trong cơ chế
kinh tế hiện nay nhà nước vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình CNH.
Nhưng CNH không xuất phát từ chủ quan nhà nước, nó đòi hỏi phải vận dụng các
quy luật khách quan mà trước hết là quy luật thị trường.
Thứ tư: CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoá nền
kinh tế. Vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu
đối với nước ta hiện nay.
CNH trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở có thể đi nhanh nếu chúng ta
biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ quốc tế. Công
nghiệp hoá trong điều kiện”chiến lựơc” kinh tế mở cũng gây ra không ít những trở
ngại do những tác dụng tiêu cực của nền kinh tế thế giới, do trật tự của nền kinh tế
thế giới mà các nước tư bản phát triển thiết lập không có lợi cho các nước nghèo,
lạc hậu.Vì thế, CNH-HĐH phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế nước ta là một nền
kinh tế độc lập.
hiểu được tác dụng của CNH-HĐH đối với nước ta rất to lớn. Trong đó nổi bật là:
CNH trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng kinh tế Xã Hội
Chủ Nghĩa. Đó là quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm cải
biến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình
thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện bản chất ưu việt của
chế độ mới Xã Hội Chủ Nghĩa.
Nước ta đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội với xuất phát điểm thấp, nền nông nghiệp
lạc hậu, bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư sống ở nông thôn có mức thu nhập
thấp, sức mua hạn chế. Vì vậy, quá trình CNH là quá trình tạo điều kiện vật chất kĩ
thuật cần thiết về con người và về khoa học công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không
ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao
đời sống văn hoá cho nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và
cải thiện môi trường sinh thái.
Quá trình CNH tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản
xuất nhờ đó nâng cao vai trò của người lao động-nhân tố trung tâm trong nền kinh
tế Xã Hội Chủ Nghĩa. Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá mang
lại là cơ sở để củng cố khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân, nông
dân và đội ngũ trí thưc trong sự nghiệp cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa. Đặc biệt là
góp phần tăng cường quyền lực sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lí kinh tế
của nhà nước.
Sự nghiệp CNH tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ vững mạnh trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế.
Sự nghiệp CNH đất nước thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển,
thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập
trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn.
CNH không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển
nó. Mối liên hệ có thể phân ra các mối liên hệ khác nhau: có mối liên hệ bên trong
và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ
về bản chất, mối liên hệ về nội dung và hình thức Tính đa dạng của các mối liên
hệ là do tính đa dạng của sự tồn tại, phát triển và vận động của sự vật và hiện
tượng quy định. Mỗi sự vật, hiện tượng là một cấu trúc mở bao gồm các các mối
liên hệ bên trong nó và các mối liên hệ bên ngoài nó. Trong các mối liên hệ trên
thì mối liên hệ bên trong, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ về bản chất, mối liên hệ
tất nhiên là các mối liên hệ giữ vai trò quyết định. Song, tuỳ vào điều kiện cụ
thể, hoàn cảnh cụ thể các mối liên hệ tương ứng với chúng có thể giữ vai trò quyết
định.
- Nguyên lí về sự phát triển:
Khác với các quan niệm trước đây, triết học theo quan điểm duy vật biện
chứng đã đưa ra quan điểm đúng nhất về sự phát triển: “phát triển là một phạm trù
triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp tới cao, từ đơn giản tới
phức tạp, từ kém hoàn thiện tới hoàn thiện hơn”.
Sự phát triển có những đặc trưng sau:
Thứ nhất: phát triển không chỉ là sự biến đổi về lượng mà trên cơ sở những
biến đổi về lượng để thực hiện những biến đổi về chất ở trình độ cao hơn.
Thứ hai: phát triển còn là những biến đổi làm thay đổi cấu trúc, cơ chế hoạt
động, phương thức tồn tại, chức năng vốn có của sự vật, hiện tượng theo chiều
hướng ngày càng hoàn thiện hơn.
Như vậy, sự phát triển là trong đó có sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật
cũ, là quá trình không ngừng trong tự nhiên và trong xã hội, trong bản thân con
người, trong tư duy Nếu xét từng trường hợp cụ thể thì có cả vận động đi lên và
vận động đi xuống, vận động tuần hoàn. Nhưng xét cả quá trình vận động với thời
gian dài và không gian rộng thì vận động đi lên là xu hướng chung của mọi sự vật.
Các tính chất của sự phát triển:
Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Do nguồn gốc của sự
phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục
chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên Để từ đó để hiểu rõ được bản
chất của sự vật để có các phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả
cao. Vì vậy, để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp với CNH-HĐH ở Việt Nam thì
chúng ta phải phân biệt được tất cả các mối liên hệ giữa các yếu tố với CNH-
HĐH.
Trong thực tế theo quan điểm này khi tác động vào sự vật, ta phải chú ý tới
những mối liên hệ của nó với sự vật khác. Phải biết sử dụng đồng bộ các biên
pháp, phương tiện khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất. Vì vậy, khi thực hiện
CNH-HĐH ta phải sử dụng nhiều biện pháp, giải pháp cùng một lúc để giải quyết
một vấn đề.
Để quá trình CNH-HĐH ở nước ta thu được nhiều kết quả thì chúng ta phải
sử dụng quan điểm toàn diện.
+Quan điểm phát triển
Mọi sự vật đều nằm trong quá trình vận động và phát triển nên trong hoạt
động thực tiễn và nhận thức ta phải có quan điểm phát triển để vạch ra xu hướng
biến đổi, chuyển hoá của chúng.
Theo quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta không chỉ nắm bắt được cái
đang tồn tại ở sự vật mà còn thấy được khuynh hướng phát triển trong tương lai
của chúng, phải thấy rõ những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi đi xuống.
Song điều quan trọng là phải khái quát được những biến đổi để vạch ra khuynh
hướng biến đổi của sự vật. Vì vậy, ta phải thấy rõ xu hướng vận động, phát triển,
của quá trình CNH-HĐH ở nước ta trong tương lai và cả những cái đang tồn tại.
Xem xét sự vật theo quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải phân chia quá
trình phát triển của sự vật thành những giai đoạn. Trên cơ sở đó tìm ra phương
pháp nhận thức và tác động phù hợp thúc đẩy sự vật phát triển nhanh hơn hoặc
kìm hãm sự phát triển của sự vật. Tuỳ theo sự phát triển đó có lợi hay có hại. Vì
vậy, khi xây dựng CNH-HĐH ta phải chia thành những giai đoạn và trong mỗi
giai đoạn ta thực hiện các biện pháp, phương pháp để giải quyết các vấn đề sao
cho hiệu quả nhất.
lượng lao động sản xuất sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu
của xã hội.
Chủ Nghĩa Tư Bản đã tiến hành CNH để xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật
cho chính Chủ Nghĩa Tư Bản và đã thu được nhiều thành công. Đó là lực lượng
sản xuất phát triển cao, trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến, năng suất lao động cao.
Do Chủ Nghĩa Xã Hội có phương thức sản xuất tiên tiến hiện đại dựa trên
trình độ khoa học kĩ thuật của lực lượng sản xuất phát triển cao. Vì nước ta đi lên
Chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiêp lạc hậu nên nước ta phải xây dựng cơ
sở vật chất kĩ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội. Trong đó, nền nông nghiệp và công
nghiệp hiện đại, khoa học công nghệ phát triển cao. Muốn thực hiện thành công
nhiệm vụ quan trọng đó chúng ta phải tiến hành CNH tức là chuyển từ nền sản
xuất nông nghiệp lạc hậu sang nền công nghiệp hiện đại.
+CNH-HĐH là quá trình tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền kinh tế quốc
dân Xã hội chủ nghĩa
Xã Hội Chủ Nghĩa muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có một nền
kinh tế tăng trưởng, phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất. Cơ sở vật chất kĩ thuật của Chủ nghĩa xã hội cần phải
xây dựng trên cơ sở thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ.
Cơ sở kĩ thuật đó phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao. CNH-HĐH chính là
quá trình tạo ra nền tảng cơ sở cho nền kinh tế quốc dân.
+ CNH-HĐH là lựa chọn phù hợp với nước ta hiện nay
Việt Nam đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở
vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản
xuất Xã Hội Chủ Nghĩa mới được thiết lập chưa được hoàn thiện. Vì vây, quá
trình CNH-HĐH sẽ xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Mỗi bước
tiến của quá trình công nghiệp hoá là một bước tăng cường cơ sở vật chất cho Chủ
Nghĩa Xã Hội, làm phát triển mạnh lực lượng sản xuất, góp phần hoàn thiện quan
hệ sản xuất Xã Hôi Chủ Nghĩa.
+ CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay phù hợp với xu hướng thời đại
chính sách của Đảng và nhà nước ta đều nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải
thiện đời sống cho nhân dân. Ngành công nghiệp nhẹ quan hệ khăng khít với đời
sống hằng ngày của nhândân. Vì vậy nhiệm vụ của ngành là rất quan trọng.” Từ
quan điểm đó Bác luôn quan tâm tới phát triển công nghiệp nhẹ. Thứ ba, đối với
ngành công nghiệp nặng Bác luôn đặt ra yêu cầu phải xây dựng ngành sao cho
phù hợp với đất nước và phải thực hiện được yêu cầu đã đề ra. Thứ tư, Bác rất
quan tâm tới thương nghiệp và thủ công nghiệp. Bác từng nói:” mối quan hệ giữa
công – nông- thương nghiệp sẽ tạo nên cái chân bền vững của nền kinh tế”.
Trong cơ chế quản lí Bác luôn yêu cầu phải thường xuyên đổi mới cơ chế
quản lí cho phù hợp với nền kinh tế. Bác đặc biệt quan tâm tới hoạt động của hệ
thống ngân, tài chính, tiền tệ đối với nền kinh tế.
Tư tưởng của Bác là ánh sáng soi đường cho dân tộc ta đi từ thắng lợi này
sang thắng lợi khác.
- Tư tưởng của Đảng ta về tiến hành C NH-HĐH:
Đường lối, mục tiêu, tư tưởng phát triển kinh tế của Đảng:
+Đường lối kinh tế của Đảng ta là đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta thành một nước công nghiệp tiên tiến, hiện đại,
ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ
nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế
giới. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, cải thiện đời sống cho người
dân, cải thiện môi trường, phát triển an ninh, quốc phòng.
+Mục tiêu phát triển kinh tế của nước ta từ 2001 dến 2010 là đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của
người lao động tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học công
nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể
chế cơ chế thị trường được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trường
quốc tế được nâng cao.
tập đoàn doanh nghiệp đi đầu trong cạnh tranh. Phát triển mạnh và nâng cao chất
lượng ngành dịch vụ, thương mại, các loại hình vận tải, bưu chính viễn thông, du
lịch, ngân hàng, tài chính, kiểm toán sớm phổ cập sử dụng tin học và mạng
thông tin quốc tế trong nền kinh tế và trong đời sống xã hội.
Xây dựng đồng bộ và từng bước tiến hành hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ
tầng giao thông, điện lực, thông tin, cấp nước, thoát nước.
Phát triển mạng lưới đô thị phân phối hợp lí trên các vùng. HĐH dần các
thành phố lớn. Thúc đẩy quá trình đô thị hoá ở nông thôn, không tập trung quá
nhiều khu công nghiệp và dân cư ở các khu đô thị lớn. Khắc phục tình trạng ùn tắc
giao thông và ô nhiễm môi trường, tăng cường công tác quy hoạch và quản lí đô
thị, nâng cao thẩm mĩ kiến trúc.
Về chiến lược phát triển các vùng, phát huy vai trò của các vùng kinh tế
trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ lớn. Đồng thời tạo điều kiện phát triển
các vùng khác trên cơ sở phát huy sức mạnh của từng vùng, liên kết với các vùng
trọng điểm tạo mức tăng trưởng khá. Quan tâm phát triển kinh tế xã hội gắn liền
với tăng cường quốc phòng an ninh ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
biên giới hải đảo. Có chính sách hỗ trợ các vùng khó khăn để có thể phát triển kết
cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo. Đưa các vùng
kinh tế này vượt qua tình trạng kém phát triển. Phát huy và phát triển vai trò chiến
lược của kinh tế biển, kết hợp với bảo vệ vùng biển. Mở rộng nuôi trồng và đánh
bắt, chế biến thuỷ sản tiến ra xa biển khai thác chế biến dầu khí, phát triển công
nghiệp đóng tàu và vận tải biển, du lịch dịch vụ. Phát triển các vùng dân cư trên
biển, giữ vững an ninh trên biển.
Từng bước hiện đại hoá công tác nghiên cứu dự báo khí tượng thuỷ văn và
vật lý địa cầu. Có kế hoạch chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
- Từ thực tiễn một số cuộc cách mạng trên thế giới và bài học để lại
Trên thế giới đã có rất nhiều nước tiến hành cách mạng công nghiệp thành
công. Mỗi cuộc cách mạng đều để lại các bài học quý báu. Việt Nam xây dựng
CNH-HĐH cũng nên nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đi trước.
Chính sách công nghiệp hoá ở Liên Xô từ 1926 đến 1940. Mục tiêu của
cuộc cách mạng này là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH. Cách
mạng công nghiệp hoá ở Liên Xô với đặc điểm nổi bật là đã tập trung phát triển
công nghiệp nặng ngay từ đầu.Nó được thực hiện trên kế hoạch hoá toàn quốc về
điện khí hoá toàn nước Nga. Nguồn vốn để tiến hành hoàn toàn dựa vào trong
nước thông qua lợi nhuận của các cơ sở quốc doanh, từ tiết kiệm, phát hành công
trái, từ phong trào trong nước. Công nghiệp hoá ở Liên Xô kết thúc vào khoảng
năm 1940, lúc này kinh tế của Liên Xô có sự mất cân đối giữa công nghiệp nặng
phát triển, công nghiệp nhẹ kém phát triển . Do đó, trong xã hội thiếu hàng tiêu
dùng .Do tích lỹ quá cao nên gây căng thẳng cho người dân.
Một số cuộc cách mạng công nghiệp gần đây như ở Trung Quốc,Đài
Loan,Hồng Kông đều có su hướng chung là tận dụng tối đa các nguồn lực bên
ngoài và dựa vào thành tựu khoa học trên thế giới để có thể rút ngắn thời gian
công nghiệp hoá đất nước.
+Một số bài học rút ra từ các cuộc cách mạng công nghiệp trên.
Công nghiệp hoá phải gắn với khoa học kỹ thuật, thành tựu khoa học kỹ
thuật. Phải tận dụng những thành tựu khoa học đó một cách nhanh chóng. Phải
thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đào tạo đội ngũ những người nghiên cứu.
Xây dựng CNH phải tuân thủ những nguyên tắc từ thấp đến cao, từ công
nghiệp nhẹ đến công nghiệp nặng. Nhưng tuỳ điều kiện có thể rút ngắn một số
khâu hoặc nhảy vọt một số bước.
CNH phải dựa trên những chiến lược lâu dài, trên toàn quốc gia, phải đảm
bảo cân đối giữa công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng, giữa công nghiệp và nông
nghiệp, giữa thành thị và nông thôn.
Phải xây dựng hệ thống giao thông trên toàn quốc gia, để có thể khai thác
tài nguyên ở tất cả các vùng, để tận dụng những thuận lợi ở từng vùng, để phát
triển cân đối ở tất cả các vùng để thúc đẩy trao đổi hàng hoá trong nước và ra nước
ngoài.
Cần có cách huy động vốn cho hiệu quả, phải huy động cả vốn trong và
đạt trên 2 triệu tấn , xuất khẩu đạt 1.475 triệu USD.
Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ. Trong 5 năm 1.1 triệu ha
rừng được bảo vệ; 9.3 triệu ha rừng có khoáng nuôi tái sinh 700000 ha, độ che phủ
tăng từ 28.2% năm 1995 lên 33% năm 2000.
Chúng ta đã xây dựng xong căn bản hệ thống kênh mương để có thể tưới
tiêu cho nông nghiệp. Bước đầu đã đưa máy móc hiện đại vào trong sản xuất nông
nghiệp làm tăng năng suất.
- Đối với ngành công nghiệp và xây dựng:
Năm 2006 công nghiệp và xây dựng chiếm 41.52% GDP, tốc độ tăng
trưởng giá trị gia tăng của khu vực công nghiệp và dịch vụ là 10.37% trong đó
công nghiệp 10.18%.
Giá trị sản xuất toàn ngành 2006 là 409.819 tỷ đồng tăng 17%.
Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng phù hợp hơn với nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kinh kinh tế nhà nước 31.8% giảm 2.3%
so với năm 2005; kinh tế ngoài quốc doanh là 30% tăng 1.7% so với năm 2005;
vốn đầu tư nước ngoài là 38.2% tổng giá trị sản xuất.
Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng và
xuất khẩu năm 2006 đều tăng như điện tăng 13.4%, apatit tăng 21.4%, than tăng
18%, thép tăng 25%
6/8 vùng kinh tế và 42/64 địa phương đạt tốc độ cao lớn hơn tốc tăng bình
quân trong cả nước :Vĩnh Phúc là 25.6%, Bình Dương là 25.3%, Hà Tây là 23.3%,
Hải Dương 23.2%, Cần Thơ là 22%, Đồng Nai là 22%; kim ngạch xuất khẩu:39.6
tỷ USD tăng 22.1%; kim ngạch công nghiệp là 30.12 tỷ tăng 22.4% bằng 76.1%;
tỷ lệ công nghiệp chiếm 52%; kim ngạch cả nước và 68.2% kim ngạch xuất khẩu
công nghiệp. Cả nước ra đời 4 tập đoàn kinh tế mạnh như: dầu khí ,điện lực ,than
khóang sản, dệt may vượt 31.4% sản lượng doanh nghiệp với tổng số vốn điều lệ
là 5973.5 tỷ
Năm 2006, các doanh nghiệp lên sàn chứng khoán đạt kỷ lục chiếm 14% số
lượng doanh nghiệp và 32.54% tổng giá trị niêm yết
hội và nhân văn bắt đầu cung cấp được các luận cứ khoa học phục vụ yêu cầu
hoạch định chính sách, chiến lược quy hoạch và phát triển kinh tế xã hội và đổi
mới cơ chế chính sách . Công tác nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh nên đã có
nhiều đề tài có tác dụng lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội . Số lượng đội ngũ
nhà khoa học gia tăng nhanh.
Các hoạt động văn hoá nghệ thuật báo chí xuất bản phát triển
Nhu cầu cần thiết của nhân dân về ăn mặc ở ,chăm sóc sức khoẻ, nước
sạch ,điện sinh hoạt, học tập ,giải trí được đáp ứng .
Tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động .Công tác xoá đói giảm
nghèo đã đạt được kết quả nổi bật .Tỷ lệ hộ nghèo giảm .Các hoạt động đền ơn
đáp nghĩa,lá lành dùm lá rách được mở rộng
-Quốc phòng và an ninh được tăng cường .Vì kinh tế phát triển làm cho ta
có cơ hội ổn định xã hội .Quốc phòng được tăng cường về trang thiết bị vũ khí
hiện đại .
-Quan hệ đối ngoại được mở rộng:
Chúng ta đã chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, ra nhập khối các nước Đông
Nam á ASEAN, ra nhập khối diễn dàn hợp tác kinh tế Thái Bình Dương APEC,
trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO .Tăng cường
quan hệ với các nước đang phát triển, các tổ chức quốc tế và khu vực .Có quan hệ
thương mại với hơn 140 quốc gia trên thế giới, có quan hệ đầu tư với 70 quốc gia
và vùng lãnh thổ.Thu hút được nhiều vốn nước ngoài đầu tư vào nước ta.
-Nông thôn có sự thay đổi rõ rệt về bộ mặt.
-Thành thị ngày càng mở rộng và rất hiện đại .
2. Nguyên nhân để Việt Nam thu được những thành tựu to lớn trong quá trình
CNH-HĐH
Những thành công đã đạt được trong quá trình CNH-HĐH đã từng bước
làm đổi thay bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân, củng cố vững chắc độc lập
dân tộc và chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, nâng cao vị thế của đất nước ta trên thị
lớn .Nhưng cũng không thể tránh khỏi những mặt hạn chế và yếu kém.Sau đây là
một số những mặt yếu kém và hạn chế lớn:
-Thứ nhất: Đánh giá chung nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả
và sức cạnh tranh thấp. Năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá
thành cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp , công nghiệp thiếu thị thường tiêu thụ cả
trong nước lẫn ngoài nước.
Đối với ngành nông-lâm-ngư nghiệp nhìn chung mặt yếu kém nhất là chưa
ứng dụng được nhiều thành tựu khoa học-kĩ thuật
vào trong sản xuất , sản xuất vẫn mang tính thủ công là chính, máy móc vẫn chưa
thay thế được cơ bản sức lao động, hiệu quả sức cạnh tranh còn thấp .Rừng bị tàn
phá nặng nề, đánh cá thì còn trên quy mô nhỏ, nuôi trồng thuỷ hải sản vẫn mang
tính tự phát ,vẫn chưa liên kết được thị trường-nhà chế biến-nhà sản xuất và nhà
nghiên cứu.
Trong công nghiệp đầu tư dàn trải nhà máy công nghiệp phân bố chưa tập
trung , chưa đổi mới được công nghệ , chưa có mối liên hệ vững chắc giữa các nhà
máy và xí nghiệp. Các công tuy nhà máy xí nghiệp có quy mô nhỏ, sức cạnh tranh
còn thấp . Hơn nữa các ngành công nghiệp phát triển chưa bền vững chưa gắn kết
được tiến bộ của khoa học kỹ thuật với sản xuất.
Các ngành dịch vụ phát triển chậm và thiếu lành mạnh , nạn buôn lậu hàng
giả, gian lận thương mại còn nhiếu làm tác động xấu đến nền kinh tế, xã hội .Hệ
thống phân phối sản phẩm chưa mạnh , trong nước chủ yếu là hệ thống bán lẻ hộ
gia đình ,ngoài nước vẫn chưa phát triển rõ ràng.
Hệ thống ngân hàng tài chính còn yếu kém và thiếu lành mạnh .
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý , cơ cấu đầu tư
còn phân tán gây lãng phí và thất thoát nhiều. Nhịp độ đầu tư trực tiếp của nước
ngoài giảm, công tác quản lý điều hành lĩnh vực này còn nhiều vướng mắc và
thiếu sót.
-Thứ hai: một số vấn đề văn hoá xã hội bức xúc và gay gắt chậm giải quyết.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao
-Các nguyên nhân chủ quan chính là:
Việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của đảng chưa
tốt kỷ luật kỷ cương chưa nghiêm. Tình trạng tuỳ tiện , t hiếu tổ chức kỷ luật và
tinh thần trách nhiệm còn nhiều, không chấp hành chỉ thị nghị quyết của Đảng
,pháp luật chính sách của nhà nước vẫn còn phổ biến .Tình trạng báo cáo không
trung thực còn nhiều .Từ đó làm cho các chủ trương khó đi vào cuộc sống.Công
tác chỉ đạo điều hành ở các cấp ,các ngành còn nhiều bất cập vẫn chưa kiểm tra
đôn đốc kịp thời ,vẫn chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện nên
kết quả chưa nghiêm. Nhiều nhiệm vụ công tác lớn đã được đễ ra nhưng thực hiện
chưa đến nơi đến chốn, chỉ nói mà không làm. Nhiều cán bộ Đảng viên, công
chức vi phạm pháp luật xử lý chưa thật kiên quyết.
Một số quan điểm chủ trương chưa có sự nhận thức thống nhất và chưa
được thông suốt giữa các cấp các ngành. Trong cán bộ Đảng viên có cách hiểu,
cách làm không thống nhất về nội dung và các bước đi trong quá trình CNH-HĐH
nước nhà.
Cải cách hành chính tiến hành còn chậm thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp
gây cản trở CNH-HĐH. Thể hiện bộ máy cồng kềnh với chức năng trùng lặp .
Không ít trường hợp trên trung ương và địa phương hành động không thống nhất
gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội và làm giảm động lực phát triển
một số ngành và cơ quan do lợi ích cá nhân cục bộ nên không muốn đẩy mạnh cải
cách hành chính , cải cách bộ máy tổ chức nhà nước . Không ít cán bộ công chức
vừa kém về trình độ đạo đức ,vừa yếu về năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ
làm cản trở cho CNH-HĐH đất nước
Vốn cho sản xuất huy động chưa đủ và sử dụng chưa có hiệu quả . Quá
trình CNH-HĐH cần rất nhiều vốn đầu tư vào sản xuất và đổi mới công nghệ,
công tác kêu gọi vốn trong nước và nước ngoài vẫn chưa mạnh . Các chính sách
kêu gọi chưa thích hợp.ở trong nước các kênh huy động vốn còn ít và kém hiệu