Thực trạng vê sử dụng đất nông nghiệp ở VN - Pdf 12

Mở đầu
Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của mọi sinh
vật và loài ngời trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế
xã hội, đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế trong ông nghiệp,
là yếu tố quan trọng bậc nhất cấu thành lên bất động sản và thị trờng bất động
sản. Đất đai còn là một trong những bộ phận lãnh thổ của mỗi một quốc gia.
Chính vì vậy mà Điều 1, chơng I, luật Đất đai có ghi Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nớc thống nhất quản lý, Nhà nớc giao đất cho các tổ kinh tế,
đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nớc, tổ chức chính trị xã hội (gọi
chung là tổ chức) , hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài...
Đất nông nghiệp là một thành phần cấu tạo nên quỹ đất nên phải có những giải
pháp hợp lý trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là đất để canh tác và những mảnh đất này có các điều
kiện thuận lợi. Đất nông nghiệp có rất ít nên vấn đề cải tạo và quản lý đất nông
nghiệp là vấn đề cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu để vạch ra những hớng quản lý, từ đó sẽ sử dụng
đất đảm bảo hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý đất đai của Nhà nớc.
Nhiệm vụ nghiên cứu để ngời đọc hiểu đợc rõ thực trạng về đất nông
nghiệp ở nớc ta để cùng nhau bảo quản và sử dụng hợp lý quỹ đất nông nghiệp.
Đề tài đợc nghiên cứu với các phơng pháp duy vật biện chứng và phơng
pháp duy vật lịch sử.
Phơng pháp phân tích tổng hợp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam. Với
toàn bộ quỹ đất nông nghiệp, thực trạng sử dụng đất và những giải pháp về sử
dụng đất nông nghiệp.
1
CHUONG :I
1. Khái niệm đất nông nghiệp.
Nh Luật đất đai năm 1993 đã khẳng định: Đất đai là tài nguyên quóoc
gia vô cùng quý giá, là t liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng
đầu của môi trờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân c, xây dựng các cơ sở

đai đợc sử dụng chủ yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới coi
là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là loại đất khác (tuỳ theo việc sử dụng vào
mục đích nào là chính).
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ, hợp lý ruộng đất trên thực tế ngời ta coi
đất đai có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần có
đầu t lớn nào là đất nông nghiệp cho dù nó đã đa vaof sản xuất nông nghiệp hay
cha. Vì vậy, trong Luật Đất đai năm 1993, Điều 17 ghi rõ: Khoanh định các
loại đất nông nghiệp ..... điều chỉnh việc khoanh định cho phù hợp với từng giai
đoạn phát triển kinh tế- xã hội trong phạm vi từng địa phơng và cả nớc. Những
diện tích đất đai phải qua cải tạo mới đa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đ-
ợc coi là đất có khả năng nông nghiệp. Nhà nớc xác định mục đích sử dụng chủ
yếu của đất nông nghiệp là sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. Song, do đặc
điểm tính chất từng loại đất này có sự khác nhau, dẫn đến tác dụng sử dụng cụ
thể cũng khác nhau, ngời ta chia đất nông nghiệp thành 4 loại sau đây:
- Đất trồng cây hàng năm: là toàn bộ diện tích thực tế trồng các loại cây
mà thời gian sinh trởng và tồn tại thờng không quá 1 năm nh đất trồng lúa, đất
trồng màu, đất trồng chuyên rau, .....
- Đất trồng cây lâu năm: là toàn bộ diện tích thực tế đã trồng các loại cây
mà thời gian sinh trởng và tồn tại trên một năm nh đất trồng cà phê, dừa, cam,
chanh, xoài, .... kể cả đất làm vờn ơm, cây giống.
- Đất trồng cây nông nghiệp lâu năm không bao gồm cây lâm nghiệp,
cây công nghiệp lâu năm trồng xen, trồng kết hợp trên các loại đất khác nh xen
đờng giao thông, xung quanh các vùng đất chuyên dùng khác.
- Đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi: bao gồm diện tích đồng cỏ tự nhiên;
đồng cỏ trồng, bãi cỏ để thả gia súc.
Đất có mặt nớc dùng vào sản xuất nông nghiệp bao gồm các loại ao, hồ,
sông cụt, .... thực tế đã nuôi trồng các loại thuỷ sản nh cá, tôm, cua, ... loại đất
này không tính đến hồ, kênh, mơng, máng thuỷ lợi.
3
Đất nông nghiệp ở nớc ta phâm bố không đồng đều giữa các vùng trong

4
vật chất, tinh thần của nhân dân, mở rộng thị trờng, ổn định xã hội và bảo vệ an
ninh quốc gia, tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc.
Để đảm bảo đợc các vấn đề nêu trên thì đất nông nghiệp phải đảm bảo
trú trọng hàng đầu. Bởi vì quỹ đất đai tự nhiên là không thay đổi song do nhu
cầu phát triển của xã hội đã làm cho đất nông nghiệp bị thu hẹp lại, do đó cần
phải có các chính sách đảm bảo quỹ đất nông nghiệp luôn luôn đủ để đáp ứng
cho quá trình sản xuất nông nghiệp đảm bảo lơng thực, thực phẩm cho toàn xã
hội và kích thích các ngành nghề khác cùng phát triển.
Nớc ta gần 80% dân số là làm trong nông nghiệp, do đó nông nghiệp là
môi trờng việc làm cho đa số đông dân số tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho
nhân dân, đây là điều kiện giữ vững sự ổn định trong nhân dân tạo nền móng
vững chắc về chính trị.
Đất nông nghiệp nớc ta đang ngày càng phát triển, ngoài trồng trọt ra,
đất nông nghiệp còn sử dụng vào lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là mặt nớc nuôi
trồng thuỷ sản đang ngày càng phát triển, có chiến lợc mạnh trong việc xuất
khẩu nh: tôm, cua, cá, ...
Đất nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nông
nghiệp trong nông thôn nớc ta, đời sống vật chất tinh thần đang ngày đợc cải
thiện đúng nh mục tiêu mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra: Dân giàu, nớc mạnh, xã
hội công bằng và văn minh.
II.Vai trò của việc sử dụng đất nông nghiểp trong sự phát triển kinh tế
Xã hội. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trớc lao động và cùng với
quá trình lịch sử phát triển kinh tế xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao
động.Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
loài ngời và các sinh vật trên trái đất.
Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội.
Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công
nghiệp, giao thông...

tăng cao thì nhu cầu tất yếu phải thu hẹp diện tích đất nông nghiệp để xây
dựng các công trình đô thị, dân c nông nghiệp một bộ phận chuyển đổi nghề
nghiệp tại chỗ thành dân c phi nông nghiệp, một bộ phận phải di chuyển tới
các đô thị khác hoặc các vùng nông nghiệp khác còn có khả năng diện tích đất
để sinh sống.
6
2. Cơ cấu các ngành kinh tế.
Phản ánh mức độ nhu cầu sử dụng đất đai làm cơ sở nền tảng, đối tợng
lao động, t liệu lao động trong quá trình bố trí hoạt động kinh doanh sản xuất.
Cụ thể là cơ cấu các ngành kinh tế (Công nghiệp, Nông nghiệp, Dịch vụ - Du
lịch - Thơng mại, Giao thông vận tải)
3. Tác động của quá trình đô thị hóa.
Do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nên quá trình đô thị hóa dẫn tới đất
nông nghiệp bị thu hẹp khá lớn để phục vụ cho nhu cầu xây dựng nhà ở đô thị
của dân c, của các đơn vị cơ quan Nhà nớc và xây dựng các công trình hạ tầng
kỹ thuật. Do vậy gây ảnh hởng rất lớn tới công tác quản lý đất đai bởi các lý
do chủ yếu là:
* Do tác động của quá trình đô thị hóa, dân c biến động cơ học dẫn đến
tăng nhu cầu về đất xây dựng, tình trạng mua bán đất trái phép, mua bán đất
nông nghiệp để xây dựng nhà ở phát sinh rất phức tạp. Hiện tợng vi phạm
pháp luật đất đai của các cá nhân, tổ chức... kèm theo đó là tình trạng vi phạm
về công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị.
* Quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải sử dụng diện tích đất ngày càng nhiều
để xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và các công trình phục vụ đời sống văn
hóa, phát triển sản xuất trong khi đó quỹ đất đai lại có hạn.
* Do tốc độ của đô thị hóa nhanh do vậy có ảnh hởng rất lớn tới việc
thiết lập các hồ sơ tài liệu địa chính bao gồm:
- Thống kê tổng hợp diện tích các loại đất theo loại đất và theo thành
phần quản lý sử dụng.
- Lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất ở các loại tỷ lệ.

Hớng thứ hai: Tăng quỹ đất nông nghiệp bởi vì nhu cầu về lao động và
thu nhập, do nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng, dân số ngày
càng Đông nên việc khai khẩn đất hoang hoá để đa vào sản xuất nông nghiệp
tăng lên. ĐâY là xu hớng vận động theo chiều rộng là vấn đề cần đợc khuyến
khích và thực hiện theo những chính sách, tính toán của Nhà nớc, theo những
định hớng, những mục tiêu đã đề ra.
8
Quỹ đất nông nghiệp đợc cấu thành từ các loại đất khác nhau, tuỳ theo
mục đích sử dụng của chúng. Nói cách khác, quỹ đất nông nghiệp đợc phân
thành các loại khác nhau. Khi mục đích sử dụng đất nông nghiệp thay đổi làm
cho số lợng loại đất này tăng lên, loại đất kia giảm đi. Quỹ đất nông nghiệp có
sự biến động trong nội bộ của nó cùng với sự biến động các loại quỹ đất trong
tổng quỹ đất tự nhiên, ở từng loại quỹ đất cũng có sự biến đổi.
Đối với quỹ đất nông nghiệp, sự biến động trong nội bộ của nó thơng
theo xu hớng: Giảm dấn diện tích trồng cây lơng thực để chuyển sang trồng các
loại cây khác. Xu hớng biến động này do trình độ sản xuất ngày càng cao, nhờ
thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng xanh năng suất cây l-
ơng thực đã tăng lên đảm bảo an toàn lơng thực, từ một nớc thiếu ăn, nớc ta đã
trở thành nớc xuất khẩu gạo. Xuất khẩu gạo của đất nớc ta chiếm u thế về số l-
ợng nhng chất lợng thì còn kém và thua so với chất lợng gạo của các nớc nh
Thái, Mỹ. Đòi hỏi phải thay thế, chuyển đổi các loại cây trồng nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng đất cũng nh nâng cao hiệu quả kinh tế của cây trồng. Mặt
khác, do sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt là của
hệ thống giao thông đã mở ra khả năng giao lu hàng hoá làm cho việc chuyển
sang trồng các loại cây trồng khác mang tính thiết thực hơn nh cây ăn quả và
cây công nghiệp.
Vấn đề giao thông phải thật sự cải thiện tốt, đảm bảo cho sự vận chuyển
thuận lợi nhanh chóng để đa ccc sản phẩm ra thị trờng trao đổi thì mới tránh đ-
ợc hình thức sản xuất tự cung - tự cấp tại mỗi địa phơng.
Trong quỹ đất trồng cây lơng thực cũng nh quỹ đất trồng các loại cây

4. Đất có mặt nớc dùng vào
sản xuất nông nghiệp.
117,5 169,8 266,7 334,7 ......
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Địa chính.
Tuy nhiên, so với quỹ đất cha sử dụng, đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng
nhỏ hơn còn lợng lớn đất đai cha đợc khai thác. Việc đầu t khai thác đất nông
nghiệp một cách đầy đủ và hợp lý đã và đang đợc đặt ra một cách cấp thiết.
2. Phân bố đất nông nghiệp
Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội. Vì vậy
việc phân bổ quỹ đất đai đặc biệt là quỹ đất nông nghiệp bị chi phối của hai yếu
tố đó rất mạnh. Phân bố đất đai theo vùng bị chi phối bởi các điều kiện tự nhiên
gắn với đất đai mạnh hơn, còn phân bố theo hai loại cây trồng lại bị chi phối
bởi các yếu tố về mặt xã hội mạnh hơn.
2.1. Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế
Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế trớc hết đợc thể hiện theo tính
tự nhiên của đất đai. Tức là trong quỹ đất nông nghiệp của cả nớc, đất nông
nghiệp thuộc phân bố theo các vùng nh thế nào phụ thuộc vào đặc tính tự nhiên
của đất đai. Trong đó, các yếu tố địa hình, nông hoá, thổ nhỡng đóng vai trò
quyết định.
10
ở Việt Nam căn cứ vào các yếu tố tự nhiên của đất đai là chủ yếu, ngời
ta phân quỹ đất đai thành 7 vùng lãnh thổ. Đất Nhà nớc phân theo 7 vùng đó
nh sau:
* Vùng Trung du miền núi phía Bắc:
Đất nông nghiệp có 1.201.437 ha chiếm 11,67% so với tổng quỹ đất tự
nhiên của vùng. Đất nông nghiệp ở đây chủ yếu trồng cây hàng năm (lúa rẫy,
sắn, đậu, đỗ....). Phần lớn đất nông nghiệp ở vùng này là cây công nghiệp dài
ngày (chè, cà fê, ....) và cây ăn quả. Nhờ thành tựu phát triển sản xuất lơng thực
của cả nớc, nhờ các cơ sở hạ tầng của vùng đang từng bớc đợc củng cố và xây
dựng nên khả năng chuyển đổi cây trồng và khai thác nông nghiệp của vùng

Diện tích đất nông nghiệp là 1.029.375 ha, chiếm hơn 41,22% quỹ đất
của vùng. Vùng này chủ yếu là đất bazan màu mỡ thuận lợi cho phát triển các
cây công nghiệp dài ngày và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Vì vậy,
đây là một trong những vùng kinh tế trù phú, là miền đất có sức hấp dẫn đối với
những ngời làm nông nghiệp. Tuy nhiên, hiện tại trong vùng vẫn còn 35.087 ha
đất cha sử dụng, trong đó đất có khả năng nông nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể.
ĐâY là nguồn lực quý giá cần đợc khai thác.
* Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:
Đây là vùng đất nông nghiệp chiếm thành phần lớn đất nông nghiệp
2.620.238 ha trong tổng số 3.955.550 ha, chiếm 73,77% diện tích đất nông
nghiệp. Hệ thống đất đai của vùng này đợc hệ thống sông Cửu Long bồi tu phù
sa thờng xuyên nên rất màu mỡ. Vì vậy, đấy đợc coi là vựa lúa của cả nớc, vùng
có sản lợng lơng thực và sản lợng lơng thực hàng hoá lớn nhất trong cả nớc.
Bên cạnh đó tiềm năng về đất đai của vùng cũng còn rất lớn. Đất cha sử dụng
chủ yếu là đất nông nghiệp và đợc tập trung ở vùng Đồng Tháp Mời và khu Tứ
Giác Long Xuyên. Để khai thác tiềm năng này cần đầu t một cách đồng bộ cả
về kinh tế và xã hội, từ khai hoang cải tạo đất đến xây dựng đợc các kết cấu hạ
tầng kinh tế kỹ thuật. Giải quyết đợc các vấn đề đó việc khai thác mở ra rất lớn,
vùng sản xuất lúa hàng hoá sẽ đợc mở rộng.
2.2 Phân bố đất nông nghiệp theo cây trồng.
12
Trong tổng số 7.637.710 ha đất nông nghiệp của cả nớc, đất trồng cây
hàng năm có 5.553..889 ha, đất trồng cây lâu năm chiếm 1.449.607 ha. Còn lại
là đất đồng cỏ và đất mặt nớc có sử dụng vào nông nghiệp.
Trong đất trồng cây hàng năm, đất trồng lúa chiếm tỷ trọng lớn hơn cả.
Tổng diện tích trồng lúa năm 1994 là 4.230.077 ha chiếm 54,42% diện tích đất
nông nghiệp. Đất trồng lúa chủ yếu tập trung ở hai vựa lúa của cả nớc là trồng
lúa ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Đất trồng lúa của
Đồng bằng sông Hồng là 581.460 ha, của Đồng bằng sông Cửu Long là
1.957.977 ha chiếm 60,03% diện tích trồng lúa cả nớc. Đây không chỉ là vùng

sản xuất khác đa nông dân đi vào con đờng làm ăn tập thể.
Với các hợp tác xã dựa trên chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất nên chúng
ta đã làm nhanh và tốt hơn một số khâu thủy lợi, cải tạo và quy hoạch đồng
ruộng, ... trên thực tế ruộng đất lại bị lãng phí trong quản lý và sử dụng chế độ
sở hữu tập thể và mô hình hợp tác kiểu cũ đã làm cho nông dân không thiết tha
với ruộng đất lắm, không tạo ra động lực vật chất để thúc đẩy họ tích cực sản
xuất. Kiểu Cha chung không ai khóc dẫn đến kém hiệu quả, sản xuất bị trì trệ
do không nhận ra điểm bất hợp lý đó nên sau 1975 mô hình này lại áp dụng vào
miền Nam mà không tính đến sự khác nhau giữa nông nghiệp và nông thôn
miền Nam và miền Bắc. Vì quyền sở hữu ruộng đất trong điều kiện nền kinh tế
hàng hoá chứ không phải nền kinh tế tự cung tự cấp nh ở miền Bắc trớc khi hợp
tác hoá ruộng đất từ chỗ có chủ nhân cụ thể, trực tiếp có kinh nghiệm sản xuất
nay chuyển sang sở hữu tập thể dẫn đến phát triển nông nghiệp chậm chạp , trì
trệ cả khi coi nông nghiệp là hàng đầu. Từ thực tế Đảng ta đã dẫn thấy rằng cần
phải khắc phục mô hình kiểu cũ tìm tòi các bớc đi và hình thức thích hợp , phấn
đấu để thoát khỏi ràng buộc của các quan niệm lỗi thời.
Năm 1979, Nghị quyết hội nghị Trung ơng 6 đã cho phép xã viên mợn
đất làm vụ đông, khuyến khích nông dân tận dụng đất hoang để sản xuất, tạo
thêm sản phẩm cho xã hội. Năm 1981, Ban Bí th TW Đảng ra chỉ thị số 100 cho
phép áp dụng rộng rãi chế độ khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động thực
chất là đến hộ gia đình xã viên. Ruộng đất của tập thể song hộ gia đình đợc
giao đảm bảo nhận nhiều khâu trong canh tác có thể đầu t thêm công sức, vật t,
kỹ thuật để tăng sản lợng. Năm 1986, Đại hội VI đã đề ra đờng lối đổi mới
trong đó có đổi mới về quản lý, cơ chế khoán.
Với Nghị quyết 10 Bộ chính trị (4-1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp. Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân nhng nông dân đã đợc giao khoán
ruộng đất ổn định dài hạn trong khoảng 10-15 năm. Cùng với Nghị quyết 10
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status