Chất lượng sản phẩm thủy sản và một số giải pháp đối với nghành thủy sản Việt Nam hiện nay - Pdf 12

Đề tài: Chất lượng sản phẩm thủy sản và một số giải pháp đối với ngành thủy sản Việt
Nam hiện nay
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đã chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào nhiều tổ chức thương mại, kinh tế thế
giới và đặc biệt là WTO- tổ chức thương mại thế giới- một sân chơi mới mà
Việt Nam vừa trở thành thành viên thứ 150. Tham gia vào các sân chơi
chung, đặc biệt là WTO, chúng ta không những có cơ hội mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm mà còn được tiếp cận với những công nghệ tiên tiến, tiếp
thu và ứng dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, học hỏi những kinh
nghiệm quản lý của các tập đoàn kinh tế lớn nhằm rút ngắn khoảng cách giữa
nước ta với các nước phát triển trong khu vực. Đồng thời người tiêu dùng sẽ
được hưởng một thị trường đa dạng về sản phẩm, phong phú về chủng loại.
Mặt khác các doanh nghiệp Việt Nam không những phải đọ sức với các
doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị trường, sản phẩm không chỉ
được tiêu thụ trương nước mà còn có xu hướng xuất khẩu sang các nước khác
trên thế giới. Để tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh hiện nay,
các doanh nghiệp cần phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng, đảm bảo
an toàn và tiết kiệm chi phí, chấp nhận cạnh tranh tạo thêm giá trị cho sản
phẩm, mở rộng thị phần nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, khẳng
định vị thế của doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới.
Là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia, có tốc độ
tăng trưởng cao, có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn, ngành thủy sản ngày
càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Mở rộng quan
hệ thương mại quốc tế với hơn 80 nước và vùng lãnh thổ, ngành thủy sản đã
góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm
để Việt nam tham gia hội nhập vào khu vực và thế giới.
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập hóa hiện nay, để tồn tại và phát
triển, ngành thủy sản cần khẳng định hơn nữa vị trí của ngành trong nền kinh
tế. Với đặc điểm chính của ngành là cung cấp những sản phẩm thực phẩm cho

Đề tài: Chất lượng sản phẩm thủy sản và một số giải pháp đối với ngành thủy sản Việt
Nam hiện nay
PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
I. KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.1.Khái niệm chất lượng sản phẩm.
Có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm, mỗi cách tiếp
cận đều dựa trên những cơ sở khoa học và nhằm giải quyết những mục tiêu,
nhiệm vụ nhất định trong thực tế và hình thành nên một cách hiểu về chất
lượng sản phẩm.
Theo cách tiếp cận tuyệt đối của các nhà triết học thì giá trị sử dụng tạo
nên thuộc tính hữu ích của nó và đó chính là chất lượng sản phẩm. Theo quan
niệm này thì chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất hoàn hảo, tuyệt đối và
khó có thể áp dụng trong quản trị kinh doanh.
Theo cách tiếp cận sản phẩm: chất lượng sản phẩm được coi là đại
lượng mô tả những đặc tính kinh tế - kỹ thuật nội tại phản ánh giá trị sử dụng
và chức năng của sản phẩm, đáp ứng nhu cầu định trước cho sản phẩm. Theo
quan niệm này chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với số lượng các thuộc tính
kinh tế, kỹ thuật của sản phẩm - kỹ thuật nào thì có chất lượng ấy- không
quan tâm tới thị hiếu của người tiêu dùng nên thường dẫn đến sản xuất sản
phẩm với chất lượng cứng nhắc, được dùng nhiều trong nền kinh tế kế hoạch.
Do vậy không được người tiêu dùng đánh giá cao.
Theo quan điểm của các nhà sản xuất: chất lượng sản phẩm là sự hoàn
hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu - tiêu chuẩn,
quy cách đã được xác định trước. Định nghĩa này mang tính thực tế cao, đảm
bảo sản phẩm khi sản xuất ra đạt yêu cầu tiêu chuẩn đã đề ra từ trước, tạo cơ
sở thực tiễn cho hoạt động điều chỉnh các chỉ tiêu chất lượng. Tuy nhiên,
quan điểm này mới phản ánh mối quan tâm của người sản xuất tới những chỉ
tiêu chất lượng của sản phẩm mà lãng quên nhu cầu thực của người tiêu dùng
nên không được dùng nhiều trong sản xuất hiện nay.
Trong thời đại ngày nay, có rất nhiều người bán và cũng có rất nhiều

hiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu
dùng mong muốn”. Định nghĩa này được chấp nhận rộng rãi trong hoạt động
kinh doanh ngày này bởi nó phản ánh những nhu cầu của người tiêu dùng bao
gồm cả những mong muốn được nêu ra và những mong muốn tiềm ẩn. Chất
lượng theo ISO là sự thể hiện thống nhất giữa các thuộc tính nội tại khách
quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan của khách hàng.

4
Đề tài: Chất lượng sản phẩm thủy sản và một số giải pháp đối với ngành thủy sản Việt
Nam hiện nay
1.2. Đặc điểm của chất lượng sản phẩm.
Chất lượng với tư cách là đối tượng của quản trị thì chất lượng có các
đặc điểm:
Là một phạm trù kinh tế kỹ thuật nói lên tính hữu ích của sản phẩm.
Sản phẩm sản xuất ra nhằm phục vụ mục đích sử dụng của người tiêu dùng.
Do vậy, chất lượng sản phẩm được thay đổi tùy vào từng thời kỳ, thị hiếu tiêu
dùng cũng như sự thay đổi của trình độ khoa học công nghệ. Chất lượng
không phải là môt phạm trù bất biến, nó mang tính toàn cầu hóa và biến đổi
nhằm đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Như vậy chất lượng sản
phẩm là một phạm trù kinh tế - kỹ thuật – xã hội vận động và phát triển theo
sự phát triển của thời gian, không gian, mang cả hai sắc thái khách quan và
chủ quan.
Tính chất khách quan của chất lượng sản phẩm biểu hiện ở khẳng định
tính chất, đặc điểm nội tại thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản
phẩm, thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể. Chất lượng sản phẩm là sản phẩm của trình độ kỹ thuật với sự thay đổi về
kỹ thuật sản xuất cũng như cầu về sản phẩm, tất yếu chất lượng sản phẩm sẽ
thay đổi theo. Do vậy nâng cao chất lượng sẽ giúp doanh nghiệp giảm được
chi phí.
Tính chất chủ quan của chất lượng sản phẩm được thể hiện thông qua

người tiêu dùng tìm đến chất lượng “tin tưởng”. Tức là, họ dựa vào tiếng tăm
của doanh nghiệp cung cấp mà tin tưởng vào chất lượng của dịch vụ do doanh
nghiệp đó cung cấp.
Như vậy, với mỗi một loại sản phẩm khác nhau người tiêu dùng có các
cách đánh giá chất lượng khác nhau dựa trên cảm tính của người tiêu dùng, uy
tín của doanh nghiệp, hình thức của sản phẩm… Hơn nữa chất lượng của sản
phẩm còn phụ thuộc vào sự hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm.
1.3.2. Trên góc độ của nhà sản xuất
Chất lượng sản phẩm thường được đánh giá trên cả ba phương diện là
Marketinh, kỹ thuật và kinh tế. Trên cơ sở đó mà nhà sản xuất đánh giá chất
lượng sản phẩm thông qua các chỉ tiêu, thông số kinh tế kỹ thuật cụ thể. Đó
bao gồm các tiêu thức:

6
Đề tài: Chất lượng sản phẩm thủy sản và một số giải pháp đối với ngành thủy sản Việt
Nam hiện nay
Các thuộc tính kỹ thuật phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm.
Nhóm này đặc trưng cho các thuộc tính xác định chức năng tác dụng chủ yếu
của sản phẩm được quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cầu
tạo và đặc tính về cơ – lý - hóa của sản phẩm. Các yếu tố này được thiết kế
theo những tổ hợp khác nhau tạo ra chức năng đặc trưng cho hoạt động của
sản phẩm và hiệu quả của quá trình sử dụng sản phẩm đó.
Các yếu tố thẩm mỹ đặc trưng cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình
thức, dáng vẻ, kết cấu, kích thước, sự hoàn thiện, tính cân đối, màu sắc trang
trí, tính thời trang….
Tuổi thọ của sản phẩm. Đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản
phẩm giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế
trong một thời gian nhất định trên cơ sở đảm bảo đúng các yêu cầu về mục
đích, điều kiện sử dụng và chế độ bảo dưỡng quy định. Tuổi thọ là một yếu tố
quan trọng trong quyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng.

giống nhau được sản xuất bởi các nhà sản xuất khác nhau thì yếu tố dịch vụ đi
kèm đặc biệt và dịch vụ bán hàng và sau bán hàng trở thành nhân tố quan
trọng, ảnh hưởng tới quyết định tiêu dùng sản phẩm của khách hàng.
Trong mỗi sản phẩm các tiêu thức trên có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó
với nhau, nhưng vai trò của các tiêu thức là khác nhau, nó phản ánh đặc trưng,
chất lượng của từng loại sản phẩm đó. Vì vậy, khi đánh giá chất lượng sản
phẩm cần phải lựa chọn các tiêu chí quan trọng, cân đối giữa các yếu tố để
sản phẩm được đánh giá đúng chất lượng.
1.4. Vai trò của chất lượng sản phẩm
Trong môi trường toàn cầu hóa hiện nay, cạnh tranh trở thành một yếu
tố tất yếu mang tính quốc tế, các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh với các
doanh nghiệp trong nước mà còn cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
ngay tại sân nhà. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp buộc phải nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình mà chiến lược nâng cao chất
lượng sản phẩm là một trong những giải pháp trong môi trường hội nhập hiện
nay. Bởi chất lượng sản phẩm có vai trò rất quan trọng.
Chất lượng sản phẩm tạo ra sức hấp hẫn thu hút khách hàng. Mỗi sản
phẩm đều có những thuộc tính chất lượng khác nhau và vai trò của chúng
trong con mắt người tiêu dùng cũng khác nhau, nó tạo nên sự khác biệt sản
phẩm của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào sở thích và điều kiện tiêu dùng mà
khách hàng quyết định lựa chọn cho mình một sản phẩm thích hợp về đặc tính
kỹ thuật, màu sắc, mùi vị hay tính tiện lợi khi sử dụng sản phẩm. Nâng cao
chất lượng các thuộc tính sản phẩm sẽ tạo niềm tin, ấn tượng tốt cho khách

8
Đề tài: Chất lượng sản phẩm thủy sản và một số giải pháp đối với ngành thủy sản Việt
Nam hiện nay
hàng về sản phẩm. Nhờ đó uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp sẽ được nâng
cao, tạo ra sức hấp dẫn thu hút người tiêu dùng.
Trên thị trường có rất nhiều người bán, mỗi doanh nghiệp chỉ cho một

9
Đề tài: Chất lượng sản phẩm thủy sản và một số giải pháp đối với ngành thủy sản Việt
Nam hiện nay
an toàn thực phẩm bởi những người có thẩm quyền sức khoẻ cộng đồng, công
nghiệp thực phẩm và người tiêu dùng đã thúc đẩy chủ yếu trong việc áp dụng
hệ thống HACCP trong những năm gần đây. Việc áp dụng HACCP sẽ tạo ra
những thực phẩm không bệnh tật trên thế giới và gia tăng nhận thức về hiệu
quả kinh tế và sức khoẻ của thực phẩm không bệnh tật. HACCP đã được tiếp
nhận bởi người điều chỉnh và người mua chủ yếu tại các quốc gia châu ÂU,
Mỹ, Úc, Canada… Nhiều tổ chức như Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ,
Uỷ ban Tư vấn Quốc gia về Tiêu chuẩn Vi trùng học cho Thực phẩm, và Uỷ
ban Thực phẩm Codex WHO/FAO đã chứng nhận HACCP là hệ thống có
hiệu quả kinh tế nhất cho bảo đảm an toàn thực phẩm.
HACCP là một hệ thống các văn bản, các quan điểm kiểm tra để nhận
biết các mối nguy, các biện pháp phòng ngừa, các điểm kiểm soát quan trọng
và xây dựng một hệ thống giám sát. Mối nguy ở đây được định nghĩa là tác
nhân hoặc điều kiện sinh học, hoá học hoặc vật lý, thực phẩm có khả năng
gây ra hậu quả có hại cho sức khoẻ. Như mối nguy của thực phẩm là các
mảnh kim loại (thuộc vật lý), thuốc trừ sâu (thuộc hoá học) và chất gây ô
nhiễm thuộc vi trùng học như khuẩn pathogenic (thuộc sinh học). Nguy cơ
đáng kể hơn đối đầu với công nhiệp thực phẩm ngày nay là các chất ô nhiễm
thuộc vi trùng học như khuẩn Salmonelia, E.coli 0157:H7, lysteria, …
2.1. Mục đích và phạm vi áp dụng của HACCP
Mục đích của HACCP là cung cấp một công cụ đơn giản, thực tế để áp
dụng các phương pháp của hệ HACCP và thúc đẩy một sự đảm bảo về an
toàn thực phẩm trên toàn Châu Âu.
Những yêu cầu về an toàn thực phẩm được nhận biết rất rõ rằng và được
thống nhất chung về cơ bản trên toàn thế giới. Các nguyên lý của HACCP có
khả năng áp dụng cho tất cả các ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống,
trong việc phân phối và bán sản phẩm. Chúng có thể được áp dụng cho các sản

cấp chứng nhận phù hợp HACCP đặc biệt là với các doanh nghiệp chế biến
thực phẩm sẽ giúp đem lại lờng tin cho khách hàng thông qua dấu hiệu chứng
nhận. Đồng thời nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của doanh nghiêp
trên thị trường.

11
Đề tài: Chất lượng sản phẩm thủy sản và một số giải pháp đối với ngành thủy sản Việt
Nam hiện nay
PHẦN II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
I. VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN Ở VIỆT NAM.
I.1. Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia.
Từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu, ngành thủy sản
đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ
tăng trưởng cao, có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn và chiếm một vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Nếu như trong những năm 60 của thế kỉ XX, tổng sản lượng thủy sản ở
miền Bắc đạt trên dưới 200.000 tấn thì đến năm 1976- tổng sản lượng thủy
sản đạt 840.000 và đến năm 2001 là 2.434.700 tấn. Tổng sản phẩm thủy sản
hiện chiếm 21% trong nông- lâm- ngư nghiệp và chiếm hơn 4% GDP trong
nền kinh tế quốc dân. Năm 2005 tổng sản lượng đạt 3.408.000 tấn, kim ngạch
xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD tính tới ngày 5/12/2005.
Theo số liệu đã công bố của Tổng cục thống kê, GDP của ngành thủy
sản giai đoạn 1995- 2003 tăng từ 6.664 tỷ lên 24.125 tỷ đồng. Trong các hoạt
động của ngành, khai thác thủy sản giữ một vị trí rất quan trọng. Sản lượng
khai thác trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hàng
năm khoảng 7,7% (giai đoạn 1991- 1995) và 10% giai đoạn (1996- 2003).
Nuôi trồng thủy sản ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác thủy sản cả
về số lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất.
Biểu 1: Sản lượng thủy sản thời kì 2001-2005 ( đơn vị: 1000 tấn)

xác định có hể sử dụng để nuôi trồng thủy sản như sử dụng vật liệu chống
thấm để xây dựng công trình nuôi trên các vùng đất cát hoang hóa, chuyển đổi
mục đích sử dụng các diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả sang nuôi
trồng thủy sản… Nuôi biển là một hướng mở mới cho ngành thủy sản, đã có
bước khởi động ngoạn mục với các loài tôm hùm, cá giò, cá mú, trai ngọc…
với các hình thức nuôi lồng, bè.
Ngành thủy sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh
tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành thủy sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục
tăng, từ 2,9% năm 1995 lên 3,4% năm 2000 và đạt 3,93% năm 2003.
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản tương đương với các ngành
công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Điều đó chứng tỏ ngành thủy sản đang dần
chuyển từ sản xuất mang nặng tính nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh
theo hướng công nghiệp hóa.

13

Trích đoạn Báo tạp chí mạng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status