Báo cáo " Tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động theo Bộ luật lao động và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động " potx - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
20 Tạp chí luật học số 1/2003 ranh chấp lao động (TCLĐ) là hiện tợng
kinh tế - x hội tất yếu trong đời sống lao
động ở bất kì quốc gia nào. Điều này xuất phát
chủ yếu từ sự khác nhau (thậm chí đối lập nhau)
về lợi ích của hai bên chủ thể tham gia quan hệ
lao động. Trong quan hệ lao động, nếu lợi ích
của ngời lao động (NLĐ) là khoản tiền lơng
hoặc thu nhập tối đa và đợc làm việc trong điều
kiện lao động thuận lợi, đảm bảo an toàn và vệ
sinh tốt nhất thì ngời sử dụng lao động
(NSDLĐ) mong muốn sử dụng những lao động
có chất lợng cao mà chi phí về tiền lơng, về
điều kiện và môi trờng lao động thấp đến mức
có thể. Hơn nữa, quan hệ lao động thông thờng
là quan hệ tơng đối lâu dài cho nên trong quá
trình duy trì quan hệ, việc lúc này hay lúc khác

tranh chấp. Nhằm khắc phục vấn đề này, ngày
2/4/2002 tại kì họp thứ 11 Quốc hội khoá X đ
thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLLĐ (có hiệu lực thi hành kể từ 1/1/2003),
trong đó có nội dung về TCLĐ và giải quyết
TCLĐ. Tuy vậy, nhìn một cách tổng thể có thể
nhận xét rằng những bất cập trong một số quy
định hiện hành về TCLĐ và giải quyết TCLĐ
mặc dù đ đợc khắc phục về cơ bản (chủ yếu
bằng việc sửa đổi, bổ sung các điều 151, 153,
163, 164, 165, 166. 167 BLLĐ; ví dụ, vấn đề
mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
hoà giải viên lao động cấp huyện, của tòa án
nhân dân (TAND) đối với những tranh chấp
không nhất thiết phải qua hoà giải trớc tại cơ
sở ) nhng những tồn tại cha phải đ hết,
thậm chí còn phát sinh thêm một số vớng mắc
T

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội
TS. Đào thị hằng

*
nghiên cứu - trao đổi
Tạp c
hí luật học số 1/2003

thể) là NLĐ, tập thể lao động và NSDLĐ.
Nếu đối chiếu giữa khoản 1 và khoản 2 Điều
157 BLLĐ, có thể thấy rõ sự không đồng bộ của
các quy định này. Trong khi khoản 1 coi tranh
chấp trong quá trình học nghề cũng là TCLĐ thì
chủ thể tham gia tranh chấp này là ngời học
nghề và ngời (hoặc cơ sở) dạy nghề (theo quy
định tại chơng III BLLĐ) hoàn toàn không
đợc đề cập tại khoản 2. Tơng tự, Pháp lệnh
TTGQCTCLĐ cũng phiến diện khi quy định
tại khoản 1 Điều 1 những ngời có quyền yêu
cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
(quyền khởi kiện vụ án lao động) chỉ bao gồm
NLĐ, tập thể lao động, NSDLĐ và công đoàn
cấp trên của công đoàn cơ sở. Cũng nh vậy,
khoản 1 Điều 19 Pháp lệnh chỉ quan niệm NLĐ,
tập thể lao động và NSDLĐ là đơng sự (tham
gia tố tụng với t cách nguyên đơn, bị đơn hoặc
ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) mà
không bao gồm cả ngời học và dạy nghề trong
các tranh chấp về thực hiện hợp đồng học nghề
hoặc chi phí dạy nghề.
Rõ ràng pháp luật hiện hành đ có những
hạn chế nhất định khi quy định về TCLĐ. Bất
cập càng gia tăng khi Điều 166 BLLĐ đợc sửa
đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLLĐ (gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ
sung). Trong khi khoản 2 Điều 157 BLLĐ coi
TCLĐ cá nhân chỉ là tranh chấp giữa NLĐ với
NSDLĐ (doanh nghiệp, cơ quan có thuê

TCLĐ trớc khi đa ra tòa án nhân dân hoặc hội
đồng trọng tài lao động giải quyết phải đợc nghiên cứu - trao đổi
22 Tạp chí luật học số 1/2003

giải quyết trớc tại hội đồng hòa giải lao động
(HĐHGLĐ) hoặc hòa giải viên (HGV) nhng
không thành (bằng biên bản hoà giải không
thành), trừ một số trờng hợp đặc biệt.
HĐHGLĐ đợc thành lập trong các doanh
nghiệp sử dụng từ 10 NLĐ trở lên (với điều kiện
cần và đủ là ở đó phải có tổ chức công đoàn cơ
sở) và có thẩm quyền giải quyết các TCLĐ cá
nhân và tập thể xảy ra tại doanh nghiệp đó.
HGV do cơ quan lao động và x hội cấp huyện
cử ra, có thẩm quyền hoà giải các TCLĐ cá
nhân và tập thể xảy ra ở các doanh nghiệp sử
dụng dới 10 NLĐ, tranh chấp giữa ngời giúp
việc gia đình với NSDLĐ và tranh chấp về thực
hiện hợp đồng học nghề và chi phí dạy nghề.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện những quy định
nêu trên đ làm phát sinh một số vớng mắc:

Thực trạng này xuất phát từ nhiều lí do, trong đó
không loại trừ việc các TCLĐ bị ách tắc ngay
tại cơ sở vì có vấn đề về HĐHGLĐ nh đ
nêu trên. Điều này làm ảnh hởng không nhỏ
đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh
chấp, nhất là bên có quyền lợi chính đáng bị
xâm phạm. Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên,
Luật sửa đổi, bổ sung đ sửa đổi, bổ sung các
điều 163, 164, 165, 166 BLLĐ hiện hành liên
quan đến thẩm quyền và hoạt động của
HĐHGLĐ và HGV. Theo đó, HĐHGLĐ bắt
buộc phải đợc thành lập trong các doanh
nghiệp có tổ chức công đoàn cơ sở hoặc ban
chấp hành công đoàn lâm thời, không phụ thuộc
vào số lợng lao động mà doanh nghiệp đó sử
dụng (có thể có dới 10 NLĐ). Nếu vì lí do nào
đó mà đơn vị cha thành lập HĐHGLĐ thì các
bên tham gia TCLĐ cá nhân có thể yêu cầu
HGV giải quyết. Ngoài ra, trong quá trình giải
quyết TCLĐ cá nhân, nếu đ triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai mà một bên tranh chấp vẫn vắng
mặt không có lí do chính đáng nên không thể
tiến hành hoà giải đợc thì HĐHGLĐ hoặc
HGV lập biên bản hoà giải không thành làm cơ
sở cho bên kia có thể khởi kiện tiếp tục tại toà
án. Đây cũng là điểm mới mà pháp luật hiện
hành cha đặt ra để bảo vệ kịp thời quyền và lợi
ích hợp pháp của một bên tranh chấp khi bên
đối phơng cố ý vắng mặt nhằm trì hon dẫn
đến vô hiệu hoá quá trình giải quyết tranh chấp.

quyền yêu cầu TAND giải quyết mặc dù không
có biên bản hoà giải không thành.
Có thể nói những sửa đổi, bổ sung nêu trên
là hoàn toàn hợp lí nhằm bảo vệ kịp thời và đầy
đủ hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
tranh chấp. Tuy nhiên, lại là cha thoả đáng và
cha hoàn chỉnh khi việc sửa đổi, bổ sung các
quy định pháp luật hiện hành về HĐHGLĐ và
HGV trong Luật sửa đổi, bổ sung chỉ nhằm vào
lĩnh vực giải quyết TCLĐ cá nhân mà bỏ qua
lĩnh vực giải quyết TCLĐ tập thể, bởi các điều
164, 165, 166 BLLĐ (là đối tợng sửa đổi, bổ
sung lần này) chỉ quy định thẩm quyền và trình
tự giải quyết TCLĐ cá nhân mà không bao hàm
cả quy định về giải quyết TCLĐ tập thể. Khó có
thể tìm ra căn cứ để lí giải cho sự giới hạn
này. Chúng tôi cho rằng cần tiếp tục sửa đổi, bổ
sung các điều 170, 171 BLLĐ về quá trình giải
quyết TCLĐ tập thể tơng tự nh đối với TCLĐ
cá nhân nhằm đạt đến sự hợp lí và đồng bộ của
các quy định pháp luật về giải quyết TCLĐ nói
chung đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên trong TCLĐ tập thể.
3. Về thẩm quyền của tòa án nhân dân và
vấn đề giải quyết tranh chấp về BHXH
Điều 166 BLLĐ đợc sửa đổi, bổ sung (tại
điểm 46 Luật sửa đổi, bổ sung) theo hớng mở
rộng hơn phạm vi các TCLĐ cá nhân có thể yêu
cầu tòa án nhân dân giải quyết ngay mà không
nhất thiết phải qua hoà giải trớc tại cơ sở, trong

không thể có tổ chức công đoàn. Cuối cùng, liệu
có thể viện dẫn khoản 1 Điều 162 mà theo đó,
một trong những cơ quan có thẩm quyền giải
quyết TCLĐ cá nhân là HGV đối với những
nơi không có HĐHGLĐ cơ sở để tìm ra tổ
chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu
trên? Theo chúng tôi, xét về câu chữ của điều
luật thì dờng nh sự viện dẫn trên tạm có lí
nhng xét về mục đích của điều luật thì việc áp
dụng Điều 162 trong trờng hợp này là không
chuẩn xác và thiếu tính khoa học. Điều 162 chỉ
quy định (liệt kê) về các cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân mà không
nhằm mục đích quy định thẩm quyền của từng nghiên cứu - trao đổi
24 Tạp chí luật học số 1/2003

loại cơ quan đó. Thẩm quyền của HĐHGLĐ
đợc quy định cụ thể tại Điều 163, cũng nh
thẩm quyền của HGV (đối với TCLĐ cá nhân)
chỉ do Điều 165 quy định. Cũng thật khó lí giải
tại sao khoản 1 Điều 165 hiện hành có quy định

rõ và cũng không có văn bản nào hớng dẫn cụ
thể hơn về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
giữa NLĐ hoặc NSDLĐ với cơ quan BHXH (kể
cả Điều lệ BHXH) nhng việc phân định cách
giải quyết các tranh chấp về BHXH nh vậy
theo chúng tôi về cơ bản là hợp lí. Song Luật
sửa đổi, bổ sung (tại điểm 41) đ có sự sửa đổi,
bổ sung một số nội dung lên quan đến vấn đề
này. Theo đó, các tranh chấp giữa NLĐ đ nghỉ
việc theo chế độ với NSDLĐ hoặc với cơ quan
BHXH; giữa NSDLĐ với cơ quan BHXH do hai
bên thoả thuận; nếu không thoả thuận đợc thì
do TAND giải quyết. Ngoài ra, theo khoản 2
Điều 166 Luật sửa đổi, bổ sung (đ nêu trên)
các tranh chấp này còn có thể đợc TAND giải
quyết nếu có yêu cầu mà không nhất thiết phải
qua hoà giải trớc tại cơ sở. Từ việc sửa đổi, bổ
sung này, có một số vấn đề cần làm rõ sau đây:
- Các tranh chấp về BHXH giữa NLĐ đang
làm việc với cơ quan BHXH đợc giải quyết
theo trình tự thủ tục nào, vì tranh chấp này
không đợc đề cập tại khoản 2 Điều 151 luật
sửa đổi, bổ sung?
- Tranh chấp giữa NLĐ đ nghỉ việc theo
chế độ với NSDLĐ hoặc với cơ quan BHXH;
giữa NSDLĐ với cơ quan BHXH không đợc
giải quyết theo các quy định tại chơng XIV
BLLĐ (quy định về trình tự thủ tục giải quyết
TCLĐ) mà theo trình tự riêng. Trớc hết do hai
bên thoả thuận (không phải là hoà giải) và khi

25

NSDLĐ với cơ quan BHXH với nội dung cơ
quan BHXH đồng ý để NSDLĐ đóng bằng 12%
so với tổng quỹ lơng của những ngời tham gia
BHXH trong đơn vị (thay vì 15% theo quy
định)?
Rõ ràng điều này đang đặt ra những vớng
mắc cần đợc tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ. Theo
chúng tôi, việc phân định tranh chấp về BHXH
thành hai loại tranh chấp, đó là TCLĐ giữa NLĐ
với NSDLĐ; giữa NLĐ hoặc NSDLĐ với cơ
quan BHXH và việc giải quyết các tranh chấp
đó nh quy định hiện hành (khoản 2 Điều 151
BLLĐ hiện hành) về cơ bản là đúng hớng và
phù hợp. Tuy nhiên, trình tự, thủ tục giải quyết
loại tranh chấp có một bên tham gia là cơ quan
BHXH phải đựơc quy định cụ thể và phù hợp
hơn, trong đó cần chú ý đến chức năng, nhiệm
vụ của cơ quan đó.
BHXH Việt Nam là cơ quan đợc Nhà nớc
thành lập, đặt dới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ
tớng Chính phủ, sự quản lí nhà nớc của Bộ lao
động - thơng binh và x hội và các cơ quan
quản lí nhà nớc có liên quan, để giúp Thủ
tớng Chính phủ chỉ đạo công tác quản lí quỹ
BHXH và thực hiện các chế độ chính sách
BHXH theo pháp luật của Nhà nớc. Nhiệm vụ,
quyền hạn của BHXH Việt Nam đợc quy định
cụ thể trong Quy chế tổ chức và hoạt động của

NLĐ hoặc NSDLĐ trớc hết phải do cơ quan
BHXH (nơi đ ra quyết định về BHXH, thông
thờng là BHXH huyện hoặc tỉnh) giải quyết.
Trong trờng hợp không đồng ý với việc giải
quyết của cơ quan này, đơng sự có quyền
khiếu nại lên cấp trên của cơ quan BHXH đ ra
quyết định hoặc cũng có thể khởi kiện tại toà án.
Toà án giải quyết vụ án về BHXH đơng nhiên
cũng không thể giải quyết theo trình tự thủ tục
giải quyết các TCLĐ với thủ tục hoà giải. Nói
cách khác, quá trình giải quyết tranh chấp giữa
NLĐ hoặc NSDLĐ với cơ quan BHXH phải trải
qua hai giai đoạn là giai đoạn tiền tố tụng và
giai đoạn tố tụng, trong khi tranh chấp giữa
NLĐ với NSDLĐ về BHXH vẫn đợc giải quyết
theo trình tự, thủ tục giải quyết các TCLĐ thông
thờng bởi quan hệ giữa các chủ thể này không
mang yếu tố hành chính.
Tóm lại, tuy BLLĐ đ đợc sửa đổi, bổ
sung một số nội dung về TCLĐ và giải quyết
TCLĐ song dờng nh vẫn cha giải quyết
đợc triệt để những vớng mắc, bất cập còn
tiềm ẩn. Hi vọng bài viết sẽ góp một phần
nhỏ vào việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực
quan trọng này./

(1).Xem: Quyết định số 606/TTg ngày 26/9/1995 của
Thủ tớng Chính phủ).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status