Nghiên cứu trao đổi
26
Tạp chí luật học số 1/2003 1. Văn bản pháp luật đầu tiên của Hoa Kì
về chống bán phá giá là Luật chống bán phá
giá năm 1916 (The Antidumping Act of 1916
ADA 1916). ADA 1916 đặt ra việc buộc
các bên bán phá giá hàng hoá nớc ngoài tại
Hoa Kì phải bồi thờng tổn thất do họ gây ra
trên cơ sở bản án của Toà án tối cao liên
bang. Tuy vậy, các yêu cầu mà bên nguyên
đơn phải đáp ứng theo ADA 1916, đặc biệt là
yêu cầu phải chứng minh động cơ bán phá giá
của đối phơng, quả thực là quá khó thực
hiện. Điều đó đ khiến Nghị viện cân nhắc để
làm ra đạo luật mới thích hợp hơn. Năm 1921
Đạo luật mới chống bán phá giá đ đợc Nghị
viện thông qua (ADA 1921). Cho đến năm
1979, ADA 1921 là cơ sở pháp lí quan trọng
để Bộ ngân khố (The Department of the
Treasury) tiến hành điều tra về thực tiễn bán
phá giá đợc dẫn chiếu và về việc áp đặt thuế
chống bán phá giá đối với việc bán phá giá ở
ngày 1/7/1968.
Trong quá trình đàm phán ở Vòng Tokyo
(1973-1979), Điều VI của GATT 1947 đ
đợc sửa đổi, bổ sung và GATT/ADC 1967
do vậy cũng đợc điều chỉnh cho phù hợp.
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối
kháng đ đợc soạn thảo. Hiệp định về thực
hiện Điều VI của GATT liên quan đến các
biện pháp chống bán phá giá cũng đợc thảo
luận và đ đợc thông qua, có hiệu lực kể từ
ngày 1/1/1980.
(3)
3. Là thành viên của GATT, năm 1979
Hoa Kì đ thông qua Luật về các hiệp định
thơng mại (The Trade Agreements Act of
1979-TAA 1979). TAA 1979 đ chấp nhận
GATT/ADC 1967 (sửa đổi). Tiết I của TAA
1979 ghi nhận lại toàn bộ ADA 1921 và bổ
TS. Hoàng Phớc Hiệp
*
* Vụ hợp tác quốc tế
Bộ t pháp Nghiên cứu trao đổi
Tạp chí luật học số 1/2003
27
hại vật chất và về sự đe dọa thiệt hại vật chất
và một số quy định khác.
4. Tại vòng đàm phán Uruguay, bên cạnh
việc thông qua Hiệp định thành lập Tổ chức
thơng mại thế giới (WTO), các nớc đ
thông qua đợc hệ thống các hiệp định đa
biên về thơng mại quốc tế. Các hiệp định
này tiếp tục hoàn thiện những quy định trớc
đây của GATT, bổ sung nhiều quy định mới
trong thơng mại quốc tế, trong đó có GATS
và TRIPS, đa vào hệ thống các hiệp định này
hiệp định về việc thực hiện Điều VI của
GATT 1994. Theo quy định của các hiệp định
của WTO, các nớc thành viên của WTO
đơng nhiên phải là thành viên của Hiệp định
về việc thực hiện Điều VI của GATT 1994
(Hiệp định về chống bán phá giá 1994).
5. Pháp luật về chống bán phá giá hiện
hành của Hoa Kì đ đợc bổ sung tiếp tục bởi
Luật về các hiệp định của vòng đàm phán
Uruguay (The Uruguay Round Agreements
Act of 1994-URAA 1994). Luật này có hiệu
lực từ ngày 01/01/1995. URAA 1994 đ sửa
đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan
đến thiệt hại vật chất, sự đe dọa thiệt hại vật
chất, các tình tiết khủng hoảng, ngành công
nghiệp khu vực, các bên liên quan, cách tính
toán tổng hợp lợng hàng nhập khẩu từ các
nớc bị điều tra, mức độ đe dọa thiệt hại vật
chất và các quy định khác. URAA 1994 cũng
đ bị ITC kết luận ngay từ đầu là thiếu cơ
sở và khoảng 24% đơn kiện còn lại đ bị Bộ
thơng mại kết luận điều tra mà không đa
ra kết quả gì (và giải quyết vấn đề theo
hớng kí kết thoả thuận đình chỉ
(Suspension Agreement-SA) hoặc chấm dứt
điều tra và ban hành kết luận cuối cùng là bác
đơn kiện.
Riêng về phần chống bán phá giá, 20 năm
tài chính qua đ có 896 vụ kiện, năm 1996 có
số đơn kiện ít nhất (13 vụ), năm 1992 có số
đơn kiện nhiều nhất (89 vụ). Đ có 375 vụ
đợc khẳng định là có bán phá giá, chiếm
41,9% số vụ (chiếm 46,2% tổng giá trị đơn
kiện). Năm 2000 có 35 vụ kiện về bán phá giá
với tổng giá trị đơn kiện phá giá trong năm tài
chính là 0,73 tỉ USD. Qua điều tra, giải quyết
đơn kiện đ có 18 vụ (gần 50% số đơn kiện)
với tổng giá trị đơn kiện đến 0,49 tỉ USD đ
bị kết luận là có bán phá giá.
(5)
Mời nớc
đầu bảng trong các vụ kiện bán phá giá qua
20 năm đó là Nhật Bản (11,2%), Trung Quốc
(8,3%), Hàn Quốc (6,8%), CHLB Đức
(6,1%), Đài Loan (6,0%), Brazil (4,9%), Italia
(4,9%), Canađa (4,8%), Pháp (3,7%), Vơng
quốc Anh (3,7%). Các nớc khác, theo thống
kê của ITC, chiếm 39,6% số vụ việc còn lại.
bộ theo Lệnh điều tra số 731-TA-1012 tại trụ
sở ITC ở Washington, DC.
(7)
Ngày 8/8/2002,
ITC đ đa ra kết luận sơ bộ, theo đó Dựa
vào kết quả điều tra sơ bộ, ITC nhận thấy
ngành nuôi cá catfish của Mĩ có thể có nguy
cơ bị đe dọa bởi mặt hàng cá Basa fillets đông
lạnh nhập khẩu từ Việt Nam.
(8)
Dựa vào kết
luận sơ bộ này của ITC, Bộ thơng mại Hoa
Kì sẽ tiến hành điều tra trong thời hạn 115
ngày kể từ ngày ITC có kết luận sơ bộ (hoặc
trong vòng 160 ngày kể từ ngày thụ lí đơn
kiện), trừ trờng hợp phức tạp thì thời hạn
trên có thể đợc Bộ thơng mại kéo dài thêm
không quá 60 ngày nữa. Nh vậy, trong
trờng hợp vụ việc giản đơn thì đến ngày
5/12/2002, Bộ thơng mại sẽ có kết luận sơ
bộ về việc liệu cá Basa Fillets đông lạnh nhập
khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kì có bán phá giá
tại thị trờng Hoa Kì hay không. Nếu Bộ
thơng mại khẳng định sơ bộ là có bán phá
giá thì Bộ thơng mại sẽ tính biên độ phá giá
bình quân và sẽ ban hành lệnh để Cục hải
quan Hoa Kì tạm thu một khoản tiền bảo
chứng (bằng tiền mặt hoặc chứng khoán bảo
đảm) với ớc tính bằng mức thuế đối với số
trên mà Bộ thơng mại Hoa Kì sẽ đa ra kết
luận sơ bộ chậm nhất vào ngày 24/01/2003
(tức là 190 ngày kể từ ngày thụ lí vụ kiện).
Sau đó, Bộ thơng mại sẽ đa ra kết luận cuối
cùng trong thời hạn 75 ngày nh đ nói trên,
trừ trờng hợp Việt Nam chính thức đề nghị
kí thoả thuận SA (trớc ngày 20/02/2003) và
phía Hoa Kì chấp thuận kí thoả thuận SA
(dới dạng kí tắt trớc ngày 15/5/2003). Đối
với ITC, sau khi Bộ thơng mại có kết luận
bớc đầu khẳng định có bán phá giá và nếu
các bên không dàn xếp đợc vấn đề theo thoả
thuận SA nh đ nói trên thì ITC tiến hành
điều tra xác định cuối cùng về thiệt hại do
bán phá giá gây ra. Điều tra của ITC phải kết
thúc trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày Bộ
thơng mại có kết luận cuối cùng về việc bán
phá giá. Nếu việc xác định của ITC là chắc
chắn thì Bộ thơng mại sẽ ban hành Lệnh áp
đặt thuế chống bán phá giá đối với cá Basa
fillets đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam để
Cục hải quan Hoa Kì cỡng chế thi hành theo
quy định của Luật thuế quan. Quyết định của
Bộ thơng mại và ITC có thể bị Việt Nam
kháng kiện lên Toà án thơng mại quốc tế
của Hoa Kì đặt tại bang New York. Đối với
các nớc là thành viên của WTO thì quyết
định nói trên có thể trở thành đối tợng tranh
chấp theo quy định của WTO và đợc đa ra
xem xét, giải quyết theo cơ chế giải quyết