Nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách Quận Hai Bà Trưng Hà Nội - Pdf 12

Mở Đầu
Đất nớc ta đang bớc vào năm thứ mời sáu của quá trình đổi mới kể từ Đại
hội Đảng VI năm 1986. Trong những năm qua, mọi mặt đời sống kinh tế xã hội đ-
ợc cải thiện đáng kể, tạo cho đất nớc ta một diện mạo mới trong mắt bè bạn quốc
tế.
Trong những năm tới đây, phát triển kinh tế vẫn là quan điểm chủ đạo của
Đảng dựa trên nội lực là chính. Chúng ta đang đẩy mạnh cải cách, phát triển tài
chính nhằm tạo dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, cơ chế tài chính phù hợp
với thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ
chiến lợc là công nhgiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền
vững; giữ vững an ninh tài chính quốc gia trong phát triển và hội nhập. Mặt khác,
Đảng cũng chủ trơng phát triển toàn diện giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng
và miền núi, thu hẹp tối đa khoảng cách giầu nghèo.
Ngân sách nhà nớc với tính cách là nội lực tài chính để phát triển, trong
những năm qua đã khẳng định vai trò của mình đối với toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Nguồn vốn đầu t vào nền kinh tế hàng năm lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
Trên tinh thần phát triển kinh tế của Đại Hội Đảng IX, Ngân sách nhà nớc
hơn lúc nào hết hiểu rõ trách nhiệm, vai trò của mình trong tình hình mới - là
động lực của sự phát triển.
Với chủ trơng phát triển toàn diện của Đảng, cấp ngân sách Quận-Huyện
đang ngày càng thể hiện rõ chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình trên địa bàn
quận, huyện. Ngân sách Quận-Huyện là một cấp ngân sách trung gian, ở giữa
ngân sách cấp Tỉnh, Thành phố và ngân sách cấp Xã, Phờng. Chính vì vậy mà
Ngân sách Quận - Huyện cha thể hiện đợc vai trò của mình đối với kinh tế địa
phơng.
Hiện nay, trên cả nớc có 263 đơn vị cấp ngân sách Quận - Huyện. Vừa qua
đã có rất nhiều quan điểm, kiến nghị về việc tổ chức, đổi mới lại hệ thống hành
chính nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính qủyền. Mỗi phơng án
đều có những u điểm, hạn chế riêng. Tuy nhiên theo em, dù có thay đổi theo ph-
1
ơng án nào, Ngân sách nhà nớc phải đảm bảo hai nguyên tắc: Tập trung thống

bản chất, chức năng, vai trò của NSNN trong kinh tế thị trờng là hoàn toàn cần
thiết. Tuy nhiên, trớc hết cần phải thống nhất định nghĩa về NSNN để trên cơ sở
đó mới có thể nhìn nhận NSNN một cách đúng đắn hơn.
Pháp: NSNN là văn kiện đợc Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê
chuẩn mà trong đó, các ngiệp vụ tài chính (thu, chi ) của một tổ chức công (Nhà
nớc, chính quyền địa phơng, đơn vị công ) hoặc t ( doanh nghiệp, hiệp hội) đợc dự
kiến và cho phép.
Trung Quốc: NSNN là kế hoạch thu - chi tài chính hàng năm của Nhà nớc
đợc xét duyệt theo trình tự pháp định.
ở Việt Nam, ít nhất cũng có hai định nghĩa khác nhau về NSNN :
Giáo trình lý thuyết tài chính ( 2000- ĐH TC-KT Hà Nội ): NSNN là
phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử. NSNN đợc đặc trng bằng sự vận động của
các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
của Nhà nớc và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi Nhà nớc tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ
yếu.
3
Luật NSNN: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà n ớc rong dự
toán đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc .
Hầu hết các khái niệm đều quan niệm ngân sách là kế hoạch thu, chi đợc
xác định trong một thời gian xác định, thờng là một năm.
Pháp và Trung Quốc chú trọng đến khía cạnh pháp lý, chỉ rõ những yếu tố
căn bản, cụ thể để hiểu một cách thống nhất về NSNN, có lợi cho công tác điều
hành. Tuy nhiên, khái niệm có phạm vi hẹp, chỉ nhìn nhận ngân sách dới góc độ
tài chính, kế toán, pháp lý, cha chỉ ra đợc bản chất, chức năng, vai trò của ngân
sách. Đối với định nghĩa NSNN trong Giáo trình lý thuyết Tài chính mang tính
bác học, trừu tợng. Tuy nhiên cách diễn đạt dễ dẫn tới hiểu rằng mọi hoạt động tài
chính gắn liền với sự vận động của các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nớc thì đều
thuộc NSNN. Thực tế, các Nhà nớc thờng định ra nhiều quỹ tiền tệ tuy vẫn tập

3.Vai trò của NSNN .
Trong nền kinh tế thị trờng, vai trò của NSNN là đảm bảo nguồn tài chính
thực hiện chức năng Nhà nớc công quyền, duy trì sự tồn tại của thể chế chính trị,
là công cụ thúc đẩy tăng trởng, ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nớc,
bù đắp những khiếm khuyết của thị trờng, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi
trờng sinh thái.
3.1 Ngân sách tiêu dùng: Công cụ bảo đảm thực hiện chức năng Nhà nớc
công quyền và bảo vệ tổ quốc .
Nh đã trình bày ở trên, NSNN mang bản chất chính trị, có nghĩa là nó thực
hiện ý chí của giai cấp thống trị. Do vậy, NSNN phải đảm bảo hoạt động của bộ
máy hành chính, công bằng xã hội, duy trì, cải thiện cơ sở hạ tầng, giữ gìn an
5
ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội. Chính điều đó đã tạo nên bộ phận
ngân sách thờng xuyên ( bao gồm cả chi cho cơ sở hạ tầng) của mọi loại hình
ngân sách Nhà nớc.
3.2 Ngân sách phát triển: Công cụ thúc đẩy tăng trởng, ổn định và điều
khiển kinh tế vĩ mô của Nhà nớc.
Ngoài ngân sách đảm bảo chi thờng xuyên, quốc phòng, an ninh là ngân
sách can thiệp vào kinh tế. Nhà nớc cần phải tác động vào quá trình phát triển
kinh tế dù đó là kinh tế kế hoạch tập trung hay kinh tế thị trờng. Với ý nghĩa đó,
tiềm lực tài chính của Nhà nớc phải đủ mạnh đảm bảo cho Nhà nớc chủ động thực
hiện chính sách tài khoá nới lỏng hoặc thắt chặt, thực hiện kích cầu đầu t, tiêu
dùng nhằm thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, không một Nhà nớc nào
không sử dụng ngân sách để tác động vào nền kinh tế. Tuy nhiên trong thực tế,
vai trò công cụ thúc đẩy tăng trởng, ổn định, điều tiết vĩ mô của một Ngân sách
phát triển đã đợc nhận thức vận dụng rất khác nhau tuỳ thuộc quan niệm của mỗi
Nhà nớc, tuỳ theo bối cảnh kinh tế của mỗi thời kỳ.
Tất cả những điều đó thể hiện vị trí quan trọng của NSNN với t cách là một
công cụ tài chính vĩ mô sắc bén, nhạy cảm, hiệu quả để Nhà nớc can thiệp, điều

Thứ t, phân phối NSNN tác động đến cả cung và cầu của nền kinh tế gắn
liền với sự hình thành và sử dụng quỹ NSNN.
Thứ năm, Nhà nớc là chủ thể trong các quan hệ phân phối có liên quan đến
NSNN. Nhà nớc sử dụng tối đa quyền lực chính trị, quyền chủ sở hữu trong quá
trình phân phối NSNN.
Thứ sáu, về cơ bản, quá trình phân phối lại NSNN mang tính không hoàn
trả trực tiếp, không phát sinh nghĩa vụ vay trả nợ.
7
Các đặc điểm trên cho thấy phân phối NSNN làm tăng luồng tiền đầu t cho
sản xuất, tăng mức thu nhập của những ngời hởng lơng từ NSNN, tạo ra lợng cầu
mới cho nền kinh tế. Chính những đặc điểm này, phân biệt phân phối NSNN với
phân phối theo cơ chế cạnh tranh thị trờng hoặc phân phối theo mệnh lệnh của kế
hoạch hoá.
4.2 Chức năng giám đốc.
Giám đốc ở đây đợc hiểu là giám sát, đôn đốc, kiểm tra bằng tiền, tiến
hành một cách thờng xuyên, liên tục cùng với quá trình vận động của các đối tợng
phân phối NSNN. Giám đốc NSNN thông qua các nghiệp vụ thống kê, kế toán,
kiểm toán, thanh tra, kiểm tra tài chính, chế độ công khai tài chính ngân sách và
các phơng tiện thông tin đại chúng. Giám đốc NSNN đợc thực hiện cả ở tầm vĩ
mô và vi mô, cả trực tiếp và gián tiếp. Thông qua giám đốc NSNN, Nhà nớc kiểm
soát tình hình tài chính vĩ mô, Nhà nớc xem xét kết quả mức độ thực hiện chế độ,
hạn mức tại các cơ sở, đơn vị.
Thực hiện tốt chức năng giám đốc, một mặt, Nhà nớc đợc cung cấp những
hình ảnh đúng đắn, trung thực về thực trạng, quá trình diễn biến, xu hớng vận
động của NSNN. Mặt khác, trên cơ sở hiệu quả giám đốc, Nhà nớc tiếp tục vững
bớc hoặc có những điều chỉnh cần thiết trong điều hành NSNN, tiến tới các mục
tiêu chiến lợc đã xác định có hiệu quả.
5. Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nớc.
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp Ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau
và đợc tổ chức theo nguyên tắc nhất định.

Phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết tất cả các mối quan hệ giữa các
cấp chính quyền liên quan đến quản lý và điều hành NSNN.
7.1 Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
Thứ nhất, phân cấp quản lý NSNN phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã
hội của Nhà nớc.
Thứ hai, phân cấp quản lý NSNN đảm bảo ngân sách TW giữ vai trò chủ
đạo và tính độc lập, tự chủ của các cấp Ngân sách địa phơng.
Thứ ba, phân cấp quản lý NSNN phải phân định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi
giữa các cấp và ổn định phần trăm các khoản thu.
7.2 Nội dung phân cấp quản lý NSNN
Một là, phân cấp về các vấn đề liên quan đến chế độ của NSNN.
Hai là, phân cấp về các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ quản lý và điều
hành NSNN, trách nhiệm của các cơ quan chức năng.
Ba là, phân cấp về nội dung thu, chi Ngân sách.
8. Năm ngân sách và chu trình ngân sách
8.1.Năm ngân sách
Năm ngân sách chỉ khoảng thời gian mà trong đó dự toán thu, chi ngân
sách đã đợc phê chuẩn có hiệu lực thực hiện.
Thông thờng trên thế giới năm ngân sách có thời gian là 12 tháng nhng
khác nhau về thời điểm bắt đầu và kết thúc.
10
ở Việt Nam, năm ngân sách gồm 12 tháng, bắt đầu từ 1/1 đến 31/12 ( tính
theo năm dơng lịch ).
8.2 Chu trình ngân sách .
Chu trình ngân sách là quá trình tính từ khi bắt đầu hình thành nên dự toán
NSNN của một năm nào đó cho tới khi kết thúc.
Chu trình ngân sách gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Hình thành kế hoạch NSNN ( thu, chi )
Giai đoạn hai: Chấp hành NSNN ( thực hiện kế hoạch thu, chi )
Giai đoan 3: Quyết toán NSNN

nguồn thu và nhiệm vụ chi riêng. Đó là một lối đi đúng đắn trong quá trình phát
triển nền tài chính quốc gia. Trớc tiên, nó giúp cho Ngân sách cấp Tỉnh, TW giảm
đợc khối lợng công việc. Tiếp theo, nó giúp cho các cấp chính quyền có thể nắm
bắt đợc tình hình kinh tế nói chung và tài chính nói riêng từ cơ sở.
Ngân sách Quận -Huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữa
Ngân sách Quận -Huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn quận trong quá
trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của Quận. Mối quan hệ đó đợc điều
chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nớc XHCN. Đó là Nhà nớc của
dân, do dân, vì dân dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhà nớc Việt
Nam là Nhà nớc của công nhân và nhân dân lao động, bộ phận ngời chiếm tuyệt
đại đa số trong xã hội. Do vậy, lợi ích của Nhà nớc XHCN Việt Nam không có gì
hơn ngoài mong muốn đợc phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Có thể nói, việc Ngân sách Quận -Huyện trở thành một cấp ngân sách đã
làm cho bộ mặt NSNN mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốc gia
trở nên lành mạnh và hiệu quả hơn. Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua,
xét riêng ở cấp độ Quận,Huyện, tình hình kinh tế - tài chính có những bớc tiến
đáng kể. Ngoài ra, Ngân sách Quận -Huyện còn thể hiện bản chất chính trị của
Nhà nớc ta thông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo các chủ ch-
ơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc. Tuy nhiên, bên cạnh những u điểm đã pháy
12
huy đợc là một loạt những hạn chế cần khắc phục kịp thời, đòi hỏi sự quan tâm,
tâm huyết của các cá nhân, ban, ngành phối hợp cùng giải quyết.
2.Vai trò của Ngân sách Quận -Huyện
Nh đã nêu trong định nghĩa Ngân sách Quận -Huyện có vai trò của NSNN
trên địa bàn Quận, Huyện. Đó là vai trò đảm bảo chức năng Nhà nớc ; an ninh,
quốc phòng; thúc đẩy phát triển , ổn định kinh tế; bù đắp những khiếm khuyết thị
trờng, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng.
2.1 Ngân sách Quận -Huyện - bảo đảm thực hiện chức năng Nhà nớc,
bảo vệ an ninh trật tự cấp Quận Huyện.
Là một cấp chính quyền Quận, Huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ

có thể sử dụng công cụ này để điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Ngoài ra cấp Quận
-Huyện phải xây dựng cho mình một tiềm lực kinh tế riêng, đó là các doanh
nghiệp Nhà nớc do cấp Quận quản lý. Loại hình doanh nghiệp này phải đóng vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế Quận - Huyên.
2.3 Ngân sách Quận -Huyện - Phơng tiện bù đắp khiếm khuyết thị trờng,
đảm bảo công bằng xã hội, gìn giữ môi trờng.
Đây là vai trò không thể thiếu đối với Ngân sách mỗi quốc gia. Nó có tác
dụng xoa dịu nền kinh tế thị trờng. Nh chúng ta đã biết, kinh tế thị trờng là chạy
theo lợi nhuận bất chấp hậu quả. Do đó, một loạt các vấn đề xảy đến: Thất nghiệp,
hố ngăn cách giàu nghèo tăng, không quan tâm đến ngời già, trẻ em, ngời tàn tật,
lừa đảo, chiếm đoạt, môi trờng ô nhiễm... Những điều đó tạo ra cho nền kinh tế -
xã hội một vực thẳm phía trớc. Cấp Quận -huyện theo dõi các báo cáo tổng hợp từ
cấp xã, phờng phải có biện pháp giải quyết.
14
Ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất của ngời lao động, Quận
-Huyện phải thờng xuyên quan tâm đến đời sông văn hoá, tinh thần của quần
chúng, cải tạo các sân chơi, phơng tiện giải trí lành mạnh, tiến bộ. Các dịch vụ
công cộng nh giáo dục, y tế phải giảm đợc chi phí cho ngời dân, làm sao để ai
cũng đợc học hành, chăm sóc sức khoẻ đầy đủ.
3. Chức năng của Ngân sách Quận -Huyện
Ngân sách Quận -Huyện cũng có hai chức năng là phân phối và giám đốc.
3.1 Chức năng phân phối của Ngân sách Quận -Huyện
Thống nhất với chức năng phân phối tài chính nói chung, Ngân sách Quận -
Huyện đợc cụ thể hoá trong phạm vi phân phối Ngân sách của Quân, Huyện.
Phân phối Ngân sách Quận -Huyện không chỉ dừng lại ở khâu phân phối thu nhập
mà bao gồm cả phân phối các yếu tố đầu vào, cụ thể là phân bổ nguồn tài chính.
Nguồn tài chính phân phối là thu nhập mới sáng tạo ra, phần mà thuộc
Ngân sách Quận -Huyện gắn liền với khả năng thu, chi. Thông qua việc hạch toán
thu, chi mà Ngân sách Quận -Huyện thực hiện chức năng phân phối của mình với
các chủ thể khác của nền kinh tế. Tuy nhiên Ngân sách Quận -Huyện chỉ thực

phong phú, đặc biệt là nhạy cảm với các chính sách thu (thuế, phí, lệ phí...).
Thứ hai, các chính sách thu của Ngân sách có tác động đến các chính sách
quản lý kinh tế, tài chính khác. Dờng nh vị trí này trùng lắp vị trí trên, nhng
không, nó hoàn toàn khác. Các chính sách kinh tế, tài chính khác ở đây là thuộc
các lĩnh vực ngoài Ngân sách (kinh tế, tài chính của các tổ chức, doanh nghiệp...).
16
Do việc có ảnh hởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp nên NSNN có thể
can thiệp sâu vào doanh nghiệp.
4.1.2 Các quan điểm cần quán triệt khi xây dựng và thực hiện các chính
sách thu Ngân sách
Một là, các chính sách thu phải góp phần vào khuyến khích và phát triển
sản xuất kinh doanh, mở rộng lu thông hàng hoá và thúc đẩy cạnh tranh lành
mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Nh phần trên đã trình
bày, các đối tợng nộp thuế rất nhạy cảm với việc đánh thuế. Thế mà, việc thu thuế
là có giới hạn, cónghĩa là, thu bằng thuế chỉ đạt đợc kết quả tối đa tại một điểm
thuế suất nào đó.
Đây là hiện tợng thuế giết thuế, có nghĩa là với chủ trơng tăng thuế để
tăng thu Ngân sách, nhng đến khi thực hiện lại có tác động ngợc lại: Sản xuất
kinh doanh bị đình trệ, hiện tợng trốn thuế phát triển do tâm lý lời lao động.
Hai là, chính sách thu phải đảm bảo tâp trung quản lý hợp lý nguồn thu cho
Ngân sách, đồng thời bảo đảm mức sống hợp lý cho các đối tợng dân c dọ tác
động của chính sách thu. Theo quy định của Nhà nớc, tất cả các khoản đều đợc
tập trung vào Kho Bạc Nhà nớc cùng với sự phối hợp của Ban Tài Chính, cơ quan
thuế, Hải quan.
Ba là, chính sách thu phải đảm bảo công bằng xã hội cho các tầng lớp dân
c. ở đây bao gồm cả công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang.
Công bằng theo chiều dọc có nghĩa là đối tợng nào có khả năng nộp thuế nhiều
hơn phải nộp nhiều hơn. Công bằng theo chiều ngang có nghĩa là các đối tợng có
khả năng nộp thuế nh nhau sẽ phải nộp thuế nh nhau.
Bốn là, chính sách thu phải đảm bảo tính quần chúng. Do trình độ của các

tỉnh và Ngân sách Quận - Huyện và Ngân sách xã, thị trấn, ph ờng.
a) Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
18
b) Thuế nhà đất.
c) Tiền sử dụng đất.
d) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa Ngân sách cấp tỉnh
và Ngân sách TW, do tỉnh quy định trong phạm vi tỉnh đợc phân cấp.
e) Các khoản thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tài nguyên; lệ phí trớc bạ
nhà đất; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nớc thu vào mặt hàng bài lá;
vàng mã; hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trờng, mát-xa, karaokê, kinh
doanh gôn; bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh doanh ca-si-no; trò chơi bằng máy
giắc-pót; kinh doanh vé đặt cợc, đua ngựa, đua xe (Ngân sách địa phơng hởng
100%). Việc phân cấp cho Ngân sách các cấp ( tỉnh, huyện, xã ) do cấp tỉnh quy
định. Riêng tỷ lệ phần trăm phân chia thuế sử dụng đất nông nghiệp cho xã, thị
trấn tối đa là 100%, tối thiểu là 20%.
***) Đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Đợc phân chia thêm một phần
theo tỷ lệ phần trăm đối với lệ phí trớc bạ không kể lệ phí trớc bạ nhà đất phát
sinh nộp trên địa bàn và đợc tiến hành lập quỹ đầu t theo quy định của Chính phủ.
4.2 Nội dung chi của Ngân sách Quận Huyện
.
Nếu nh quá trình thu là quá trình tạo lập, hình thành Ngân sách thì chi
Ngân sách là quá trình sử dụng Ngân sách. Nó ngợc lại hoàn toàn với quá trình
thu nhng lại chịu sự điều khiển của quá trình thu ( Không thể chi nhiều trong khi
thu ít và ngợc lại ) đồng thời, lại tạo thêm nguồn thu ( Đầu t Ngân sách nhàn rỗi
vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh ).
Chi Ngân sách là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn
trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nớc.
4.2.1 Đặc điểm chi Ngân sách Quận -Huyện
Với t cách là một quá trình sử dụng quỹ NSNN, chi Ngân sách có các đặc
điểm sau:

20
+ Quốc phòng: Giáo dục quốc phòng; tuyển quân và đón tiếp quân nhân
hoàn thành nghĩa vụ; đăng ký quân nhân dự bị; huấn luyện dân quân tự vệ.
+ An ninh, trật tự và an toàn xã hội: Tuyên truyền giáo dục quần chúng bảo
vệ an ninh; hỗ trợ các chiến dịch giữ gìn an ninh; tổng kết phong trào bảo vệ
an ninh tổ quốc; hỗ trợ trật tự, an ninh cơ sở.
đ) Hoạt động của các cơ quan Nhà nớc cấp huyện.
e ) Hoạt động của cơ quan cấp huyện của ĐCS Việt nam.
g ) Hoạt động của cơ quan cấp huyện, của MTTQ Việt nam, Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, Hội CCB VIệt nam, Hội LHPN VN, Hội Nông Dân Việt nam.
h ) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp cấp Quận - Huyện
theo quy định của pháp luật.
i ) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
**) Chi đầu t phát triển:
- Chi đầu t xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo
phân cấp của tỉnh, thành phố.
- Chi đầu t xây dựng các trờng phổ thông quốc lập, các công trình phúc lợi
công cộng, điện chiếu sáng cấp thoát nớc, giao thông nội thị, an toàn giao thông
vệ sinh đô thị.
- Chi bổ xung cho Ngân sách cấp dới.
4.2.4 Cấp phát kinh phí, các khoản chi của Ngân sách Quận -Huyện
Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm đợc giao và dự toán Ngân sách quý; căn
cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, Phòng Tài chính- Vật giá tiến hành cấp
phát kinh phí theo nguyên tắc cấp trực tiếp đến các đơn vị sử dụng Ngân sách và
thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nớc cho ngời đợc hởng
Các hình thức cấp phất kinh phí:
a) Cấp phát bằng hạn mức kinh phí
Đối tợng cấp phát theo hình thức hạn mức kinh phí là các khoản chi thờng
xuyên của các đơn vị dự toán của NSNN , bao gồm :
- Các cơ quan hành chính Nhà nớc

g) Cấp phát và cho vay vốn đầu t XDCB :
22
Thực thiện theo quy trình quy định của Chính Phủ, Bộ Tài chính sẽ hớng
dẫn thêm.
h) Chi bằng hiện vật và ngày công lao động
Đối với các khoản chi Ngân sách bằng hiện vật: Căn cứ vào biên bản bàn
giao hiện vật, giá hiện vật đợc duyệt, cơ quan tài chính quy đổi ra đồng Việt nam
để làm lệnh ghi thu, ghi chi Ngân sách gửi Kho bạc Nhà nớc để hạch toán thu, chi
NSNN .
Đối với các khoản chi bằng ngày công lao động: Căn cứ giá ngày công lao
động đợc duyệt, cơ quan tài chính làm lệnh ghi thu, ghi chi gửi Kho bạc Nhà nớc
để hạch toán thu, chi Ngân sách
i) Cấp phát kinh phí uỷ quyền:
Trờng hợp cơ quan quản lý Nhà nớc cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý
Nhà nớc cấp dới thực hiện nhiệm vụ thuộc chức năng của mình thì phải chuyển
kinh phí từ Ngân sách từ cấp trên cho cấp dới để thực hiện nhiệm vụ đó. Hình
thức chuyển kinh phí chủ yếu bằng hạn mức kinh phí. Đối với các khoản chi nhỏ,
nội dung chi đã xác định rõ thì có thể chuyển kinh phí bằng hình thức lệnh chi
tiền.
k) Cấp phát cho các tổ chức chính trị-xã hội và tổ chức xã hội-nghề nghiệp:
- Đối với các tổ chức chính trị -xã hội:
+ Các tổ chức chính trị -xã hội đợc Ngân sách bảo đảm cân đối kinh
phí hoạt động theo quy định.
+ Sau khi đợc giao nhiệm vụ chi Ngân sách, từng tổ chức chính trị
-xã hội thực hiện phân bổ dự toán Ngân sách (Phần đợc NSNN cấp ) chi
tiết theo Mục lục NSNN hiện hành.
+ Cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí hàng quý cho các tổ
chức chính trị- xã hội theo quy trình cấp phát hạn mức kinh phí quy
định, trừ các trờng hợp đặc biệt thủ trởng cơ quan tài chính quyết định
cấp phát bằng lệnh chi tiền.

24
+ Ngân sách cân bằng khi tổng thu = tổng chi: Trờng hợp này ít xảy
ra.
Trong trờng hợp bội chi lớn sẽ có tác động xấu đến nền kinh tế và năm
Ngân sách tiếp theo. Thông thòng thâm hụt Ngân sách xảy ra do các nguyên nhân
sau:
Một là, do Quận - Huyện thực hiện một số chủ trơng, chính sách trong việc
quản lý kinh tế, quản lý tài chính. Mặc dù đã dự toán nhng do Quận - Huyện
không khảo sát hết các khoản chi nên khi thực hiện chính sách xuất hiên các
khoản chi vợt dự toán. Nguyên nhân này xuất phát từ khâu lập dự toán.
Hai là, do sự yếu kém trong quản lý và điều hành Ngân sách. Nguyên nhân
này là một vấn đề bức xúc hiện nay - Cải cách hành chính. Bộ máy hành chính
cồng kềnh, công tác thu chi phải qua nhiều cửa, cán bộ quản lý yếu kém, biến
chất, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu.
Ba là, do tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên. ở cấp Quận trực thuộc
thành phố Hà Nội nên các thiên tai ít xảy ra nhng không phải là không có: bão,
lụt, cháy, nổ... Để khắc phục nguyên nhân này cần có các khoản dự phòng Ngân
sách cho các vấn đề thiên tai.
Bốn là, do diễn biến của chu kì kinh doanh. Thông thờng chi Ngân sách
vận động ngợc chiều với chu kì kinh doanh. Khi chu kì kinh doanh đang ở giai
đoạn tăng trởng, phát triển thì chi Ngân sách lại ít, khi chu kì kinh doanh đang
suy thoái thì chi Ngân sách tăng vì phải bơm thêm vốn vào nền kinh tế.
Đối với hai nguyên nhân đầu mang tính chủ quan, xuất phát từ việc quản lý
Ngân sách. Do vậy, chúng ta phải lập dự toán thật chi tiết từ cơ sở, không ngừng
nâng cao trình độ, năng lực cán bộ quản lý, cải cách hành chính, cải tạo cơ sở hạ
tầng. Đối với nguyên nhân thứ ba và thứ t, chúng ta phải luôn luôn theo dõi diễn
biến, phân tích để có thể đa ra biện pháp phòng chống, khắc phục.
5.Nội dung quản lý Ngân sách Quận Huyện
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status