Nguyễn Văn Song. 2007. Tạp chí Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Số 10, từ trang 51-55; tháng 10 năm 2007
1
Ảnh hưởng của lãi suất ngân hàng tới tốc độ khai thác
tài nguyên thiên nhiên
TS. Nguyễn Văn Song - Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội TÓM TẮT
Lãi suất ngân hàng không chỉ ảnh hưởng tới tiết kiệm và đầu tư mà còn ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp tới tốc độ khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên (có thể tái tạo hoặc
không thể tái tạo). Bài viết sử dụng các mô hình toán học nhằm làm rõ thêm nguyên tắc, quy
luật ảnh hưởng của lãi suất ngân hàng tới tốc độ khai thác tài nguyên thiên nhiên, qua đó
làm cơ sở cho các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách có các định hướng, chiến
lược khai thác, sử dụng các loại tài nguyên nhằm phát triển kinh tế bền vững. Qua 3 mô
hình cụ thể với hai loại tài nguyên có thể tái tạo và không thể tái tạo, kết luận về ảnh hưởng
của lãi suất ngân hàng tới tốc độ khai thác tài nguyên thiên nhiên là đồng biến. Có nghĩa là,
khi lãi suất ngân hàng tăng các hãng sẽ tăng cường khai thác các loại tài nguyên thiên
nhiên, và khi lãi suất ngân hàng giảm các hãng sẽ làm chậm lại quá trình khai thác (giả
định các yếu tố khác không đổi).
Từ khoá: lãi suất ngân hàng, chiết khấu, lợi nhuận, tài nguyên có thể và không thể tái tạo.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đã và đang hội nhập với kinh tế thế giới, trong những năm tới, nền kinh tế thị
trường sẽ dần được hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hơn. Thị trường không những điều tiết
quá trình sản xuất (cung) quá trình tiêu dung (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ, mà thị
trường và các nhân tố của thị trường (thị trường hàng hoá, thị trường tài chính, thị trường lao
động) còn ảnh hưởng tới tốc độ khai thác tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia, của một
vùng và của toàn bộ nguồn tài nguyên thiên nhiên trên trái đất.
Tài nguyên thiên nhiên tựu chung có hai loại chính là tài nguyên có thể tái tạo (renewable
nguồn, đồng hoá CO
2
, vv…nếu giá trị sử dụng trực tiếp của rừng lớn hơn giá trị sử dụng
gián tiếp thì rừng sẽ được khai thác. Và ngược lại, nếu giá trị sử dụng gián tiếp lớn hơn giá
trị sử dụng trực tiếp thì rừng sẽ không được khai thác, mà là rừng bảo tồn, bởi vì nếu khai
thác gỗ toàn bộ các giá trị sử dụng gián tiếp khác của rừng sẽ mất theo (ví dụ: rừng đầu
nguồn, rừng bảo tồn…).
2.1.1 Mô hình sử dụng chiết khấu (Tietenberg, Thomas. H. 1988)
Bảng 1 minh hoạ cho mô hình khai thác gỗ sử dụng chiết khấu, trong đó cột 1 là số tuổi gỗ,
cột 2 là sản lượng gỗ, cột 3 là doanh thu từ bán gỗ, cột 4 là chi phí (bao gồm cả chi phí trồng
mới và chi phí chăm sóc, thu hoạch); cột 5 là lợi nhuận ròng (chưa chiết khấu), cột 6 là giá
trị hiện tại ròng (net present value) với tỉ lệ chiết khẩu là 2% năm.
Bảng 1: So sánh thời gian thu hoạch gỗ khi chiết khấu và không chiết khấu/1ha
Tuổi
Sản lượng
(m
3
)
Giá trị sản
lượng
(USD)
Chi phí
(USD)
Lợi nhuận ròng
chưa chiết khấu
và chi phí trồng mới là 1000USD/ha
Số liệu ở bảng 1 cho thấy, chỉ với tỉ lệ chiết khấu 2% năm, thời gian thu hoạch gỗ đã từ 100 năm
xuống còn 70 năm. Như vậy, qua ví dụ minh hoạ này cho phép chúng ta kết luận rằng lãi suất
ngân hàng (ảnh hưởng tới tỉ lệ chiết khấu) càng tăng thì thời gian thu hoạch, khai thác gỗ càng
ngắn lại.
2.1.2 Mô hình tìm khoảng thời gian khai thác tối ưu (John M.Harwick & Nancy
D.Olewiler. 1998).
Thời gian là một đầu vào quan trọng nhất trong hạch toán kinh doanh trồng rừng. Nó ảnh hưởng
tới chi phí cơ hội của đất đai, vốn và đặc biệt nó bị tác động mạnh của lãi suất cho các loại vốn
đầu tư cũng như lượng gỗ đang sinh trưởng như là một loại hàng hoá dự trữ (vốn bị tồn đọng).
Mô hình được xây dựng nhằm tìm khoảng thời gian khai thác gỗ tối ưu (ví dụ: 5, 10, 15, 20
năm). Mô hình này phù hợp với các rừng trồng lấy gỗ thương phẩm, gỗ cùng loại và cùng tuổi
(ví dụ: khai thác để sản xuất giấy ). Các điều kiện để xây dựng mô hình như sau:
Điều kiện 1) Đặt I = T
t
– T
0
= T
2
– T
1
= T
3
– T
2
= khoảng thời gian tối ưu cho khai thác rừng;
trong đó: T là thời gian (năm thứ t); Điều kiện 2) Chi phí cho việc kinh doanh và gìn giữ bao
gồm: Chi phí trồng mới, chi phí chăm sóc, chi phí thuê đất (hoặc chi phí cơ hội của đất; chi phí
khai thác; bảo quản dự trữ, chi phí vận chuyển. Và một chi phí quan trọng khác trong suốt các
năm chờ khai thác là lãi suất của vốn đầu tư nếu như tài nguyên rừng tồn tại; Điều kiện 3) Gọi
1
–T
0
là tương tự nhau trong các lần khai thác thì ta có tổng lợi ích là:
T
π
= [(P-C) V(T
1
– T
0
) e
- r (T1 – T0)
- D] + e
- r (T1 – T0)
[(P-C) V(T
1
– T
0
) e
- r (T2 – T1)
- D]
+ e
- r (T2 – T1)
[(P-C) V(T
1
– T
0
rW: là chi phí cơ hội của đất sau khi khai thác rừng bán đất mang tiền gửi vào ngân hàng hoặc
cho vay lấy lãi suất r.
Vậy vế phải của phương trình 1 là: Tổng chi phí cơ hội (Total oppotunity cost – TOC)
Chú ý: Với rừng chỉ khai thác trong một giai đoạn thì ta có r = V’(t)/V(t)
(2)
(1)
VMPT
TOC
Nguyễn Văn Song. 2007. Tạp chí Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Số 10, từ trang 51-55; tháng 10 năm 2007
4 20 I*
Hình 1. Khoảng thu hoạch gỗ tối ưu (I*) là giao điểm giữa TOC & VMPT
Dựa vào phương trình (1) và được thể hiện ở hình số 1 cho chúng ta thấy rằng: khoảng thời gian
thu hoạch tối ưu của rừng lấy gỗ là điểm ở đó tổng chi phí cơ hội (TOC) và giá trị sản phẩm
VMPT rW*
TOC
VMPT
TOC’
Nguyễn Văn Song. 2007. Tạp chí Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Số 10, từ trang 51-55; tháng 10 năm 2007
5
2.2 Ảnh hưởng của lãi suất ngân hàng tới tốc độ khai thác tài nguyên không thể tái tạo
(lấy than đá làm ví dụ).
Các loại tài nguyên không thể tái tạo bao gồm các loại khoáng sản nằm trong lòng đất, trong
ngắn hạn, các loại tài nguyên này không thể tái tạo. Vậy thì, câu hỏi đặt ra là các hãng khai thác
khoáng sản ứng xử như thế nào về mặt sản lượng khai thác khi lãi suất của ngân hàng thay đổi?
Để giải quyết thoả đáng được câu hỏi trên, chúng ta nghiên cứu mô hình với các điều kiện để
xây dựng mô hình như sau: Điều kiện 1) Hãng khai thác chấp nhận giá thị trường, hay nói cách
khác giá cả của tài nguyên khai thác mang bán là giá đã được quy định của thị trường vì quy mô
khai thác của cá nhân, hãng là rất nhỏ không thể làm thay đổi giá của thị trường; Điều kiện 2)
Người khai thác ước tính chính xác lượng tài nguyên trong lòng đất trong giai đoạn khai thác;
Điều kiện 3) Mỏ bao gồm tài nguyên có chất lượng như nhau (từ dưới lên trên); Điều kiện 4)
Chi phí khai thác sẽ tăng dần do khó khăn hơn, sâu hơn, khan hiếm hơn.
Trong nền kinh tế thị trường, hãng khai thác sẽ tối đa hoá lợi nhuận (
T
π
) không chỉ cho 1 năm t,
qCPq
r
qCPq −
+
++−
+
+−
+
+−=
π
(3)
Trong đó: P là giá của một đơn vị tài nguyên không thể tái tạo; C là chi phí khai thác;
qt là lượng khai thác tài nguyên không thể tái tạo của năm t. Chúng ta cũng cần chú ý rằng: Nếu
gọi Q là tổng lượng khoáng sản có trong lòng đất thì ta có hàm ràng buộc cho phương trình (3)
là: Q = q
1
+ q
2
+ + q
t
. Trong đó t là số năm khai thác có thể.
Từ phương trình (3) lấy đạo hàm riêng theo q
t
tìm điều kiện cần tối đa hoá lợi ích của hãng
(FOC), ta có phương trình sau:
( ) ( )
)(*
)1(
1
%
1
r
t
MCP
MCPMCP
t
tt
=
−
−
−
−
+
(5)
Phương trình (5) được gọi là luật Hottelling phần trăm lãi suất (Hottelling r percent rule). Các hãng
khai thác sẽ quyết định tăng cường khai thác, hay hạn chế khai thác nguồn tài nguyên không thể tái
tạo phụ thuộc vào lãi suất ngân hàng (r%). Vế trái của phương trình (5) là tốc độ tăng trưởng của lợi
nhuận đơn vị khai thác khoáng sản. Quy luật khai thác như sau:
Thứ nhất; nếu tỉ lệ tăng trưởng của lợi nhuận (vế trái của phương trình 5) lớn hơn r% hãng quyết
định giảm bớt tốc độ khai thác, vì nếu khai thác lấy tiền gửi vào ngân hàng chỉ được lãi suất r.
Trong khi đó để lại tài nguyên trong lòng đất khai thác giai đoạn sau có lãi hơn. Thứ hai; nếu tốc
độ tăng trường của lợi nhuận nhỏ hơn r, hãng quyết định tăng cường khai thác vì hãng so sánh
tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận đơn vị nhỏ hơn với lãi suất ngân hàng, hãng khai thác lấy tiền
gửi ngân hàng sẽ thu được lợi nhiều hơn. Ở đây ta có thể nhận thấy, lãi suất ngân hàng càng cao
Nguyễn Văn Song. 2007. Tạp chí Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Số 10, từ trang 51-55; tháng 10 năm 2007
6
thì các hãng khai thác tài nguyên không thể tái tạo càng tăng cường khai thác. Thứ ba; nếu tốc
Nội