Phân tích ảnh hưởng của lãi suất huy động tới hoạt động huy động vốn tại NHCT HK - Pdf 31

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lêi nãi ®Çu
Hoạt động huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn, một hoạt động cơ bản
của ngân hàng thương mại. Nguồn vốn chính là nền tảng cho sự phát triển của
ngân hàng, đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của
mỗi ngân hàng. Hoạt động này chính là cơ sở tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Vì thế, ngân hàng luôn phải quan tâm đến nâng cao chất lượng hoạt động huy
động vốn của mình.
Lãi suất huy động có tác động rất nhiều đến hiệu quả của hoạt động huy
động vốn. Mặt khác lãi suất huy động có tính quyết định đối với việc mở rộng
nguồn vốn, hay huy động một nguồn vốn mới. Với một chính sách lãi suất huy
động hợp lý ngân hàng có thể mở rộng hoạt động huy động vốn với chi phí tiết
kiệm, để từ đó mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Để làm rõ hơn tác động của lãi suất huy động tới hoạt động huy động vốn,
em xin trình bày bài viết : “ Phân tích ảnh hưởng của lãi suất huy động tới hoạt
động huy động vốn tại NHCT HK ’’ cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Mong muốn thông qua bài viết này học hỏi được thêm nhiều kiến thức và kinh
nghiệm trong quá trình thực tập.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian hạn hẹp và kinh nghiệm
thực tế chưa có nhiều, nên chuyên đề này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Em rất mong được sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn cùng các anh, các chị ở
phòng Khách hàng số 2 thuộc NHCT HK bài viết này được hoàn thiện hơn.
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn ! CHƯƠNG I: l·i suÊt huy ®éng vµ ho¹t ®éng huy ®éng
vèn cña ng©n hµng th¬ng m¹i
A. Lãi suất huy động và các vấn đề liên quan

khách hàng biết trước số lãi, tuy nhiên, có thể tạo ra rủi ro lãi suất khi lãi suất thị
trường thay đổi lớn. Lãi suất thả nổi thường được áp dụng trong quan hệ giữa các
tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hµng.
Lãi suất hỗn hợp: Là sự kết hợp giữa lãi suất thả nổi và lãi suất cố định: cố
định trong một số lần trả và thay đổi sau một số lần trả lãi. Ví dụ Ngân hàng
ĐT&PTVN cho vay 5 năm, thu lãi 3 tháng một lần. Ngân hàng áp dụng lãi suất
hiện hành cho năm thứ nhất ( cố định trong 1 năm ) và sẽ thay đổi lãi suất trong
từng năm tiếp theo. Lãi suất hỗn hợp thường được áp dụng cho các khoản huy
động trung và dài hạn.
1.2.3. Lãi suất huy động trần và sàn
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lãi suất trần là mức lãi suất cao nhất. Lãi suất sàn là mức lãi suất thấp nhất.
Thứ nhất, lãi suất trần và sàn có thể do ngân hàng Nhà nước đặt ra và bắt ngân hàng
thương mại phải tuân thủ để hạn chế các ngân hàng cạnh tranh đẩy giá tiền gửi lên
quá cao có thể gây ra khủng hoảng thanh khoản ( hoặc độc quyền hạ giá tiền gửi
gây tổn hại cho người tiết kiệm ), Ngân hàng Nhà nước qui định lãi suất trần và
sàn phản ánh sự can thiệp trực tiếp của ngân hàng Nhà níc vào chính sách lãi suất
của ngân hàng thương mại. Thứ hai, lãi suất trần và sàn do ngân hàng thương mại
đặt ra. Nếu ngân hàng đang áp dụng lãi suất thả nổi mà nhà quản lí cho rằng lãi suất
có xu hướng tăng ngân hàng có thể bán hợp đồng trần tiền gửi, tức là lãi suất tiền
gửi cao nhất mà ngân hàng có thể trả; nếu lãi suất có xu hướng giảm, ngân hàng bán
hợp đồng sàn lãi suất cho vay tức là lãi suất cho vay cao nhất mà khách hàng có thể
trả. Hợp đồng lãi suất này nhằm hạn chế rủi ro lãi suất đối với ngân hàng thương
mại.
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.4. Lãi suất thông thường và lãi suất ưu đãi

soát lãi suất thị trường như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi huy động, đưa ra
các mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất vay qua đêm,….
Mô hình cơ chế điều hành lãi suất chủ đạo trong thời gian tới:
+ Lãi suất vay qua đêm > mức lãi suất khác nhằm điều tiết và chỉ đạo mặt
bằng lãi suất thị trường, buộc các NHTM huy động trên thị trường tiền tệ.
+ Lãi suất tiền gửi qua đêm thường thấp.
+ Lãi suất thị trường mở giao động giữa lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất
tiền gửi qua đêm, điều này chi phối lãi suất đấu thầu.
+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng xoay quanh lãi suất thị trường mở giúp
NHNN kiểm soát được lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, mà lãi suất trên thị
trường liên ngân hàng là cơ sở xuất phát cho các NHTM xác định lãi suất đầu vào
và đầu ra cho khách hàng.
Cơ chế điều hành hệ thống lãi suất chủ đạo là sự tác động gián tiếp của lãi suất
cho vay qua đêm đến lãi suất huy động, cho vay của NHTM thông qua lãi suất
trung gian và nghiệp vụ thị trường mở và thị trương liên ngân hàng.
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tự do hoá lãi suất tạo cơ hội cho ngân hàng chủ động trong việc đề ra các mức
lãi suất trong quá trình hoạt động cho phù hợp với từng trường hợp, tõng đối
tượng và từng giai đoạn, nâng cao khả năng huy động vốn. Thêm nữa, việc thực
hiện tự do hoá lãi suất tạo sự linh hoạt, phát huy đúng tầm quan trọng của công cụ
lãi suất trong quản lí kinh tế, thúc đẩy khả năng huy động vốn và sử dụng vốn, gia
tăng đầu tư phát triển sản xuất kinh tế xã hội.
2.2. Chính sách lãi suất huy động vốn của ngân hàng thương mại
2.2.1. Nội dung
Huy động tiền gửi của các chủ thể trong nền kinh tế là kênh mà các ngân hàng
luôn tập trung khai thác triệt để, bởi đây là nguồn lực dồi dào cho các NHTM nếu
biết tận dụng năng lực, uy tín cuả mình để thu hút. Bên nguồn vốn trong bảng cân
đối tài sản của các NHTM, khoản mục tiền gửi là khoản mục có số lượng chiếm tỷ

khoản vốn này càng có xu híng cao hơn. Mục đích gửi tiền vào ngân hàng của
khách hàng không chỉ nhằm tiết kiệm mà còn nhằm hưởng các dịch vụ của ngân
hàng. Nếu với mục đích sử dụng các dịch vụ của ngân hàng cung cấp là chủ yếu
thì lãi suất không phải là yếu tố thu hút khách hàng gửi tiền. Vì vậy lãi suất loại
tiền gửi này thường thấp.
Thứ hai, là uy tín của ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động trên thị trường tài
chính phát triển có rất nhiều công cụ nợ khác nhau để có thể huy động vốn cho
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mình, vì vậy sự cạnh tranh về lãi suất để huy động tiền gửi từ nền kinh tế không
còn gay gắt nữa, mà chuyển sang cấc hình thức huy động khác để tiết kiệm chi phí
huy động của mình. Một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định chính sách lãi suất
huy động vốn của ngân hàng là uy tín của ngân hàng, độ an toàn của ngân hàng, vị
thế cạnh tranh của ngân hàng so với ngân hàng khác và các tổ chức kinh tế cũng
đang thu hút vốn từ nền kinh tế để đầu tư. Nếu ngân hàng có uy tín và khả năng
cạnh tranh tốt so với các đối thủ thì có thể trong tình huống mặt bằng lãi suất
chung đang có xu hướng gia tăng nhưng ngân hàng không cần phải gia tăng lãi
suất mà hoạt động huy động vốn vẫn không bị hạn chế. Nhờ uy tín và sự cạnh
tranh tốt của mình mà ngân hàng không cần có một chính sách cạnh tranh thu hút
vốn bằng cách đẩy lãi suất huy động vốn của ngân hàng mình lên cao hơn so với
mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường. Ví dụ, các ngân hàng ở New York,
London nhờ vào qui mô lớn và sức mạnh tài chính nên có thể thu hút tiền gửi ở
mức lãi suất bình quân thấp, trong khi lãi suất thông báo của các ngân hàng khác
thường cao hơn.
Thứ ba là căn cứ vào tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khi cân
đối giữa chi phí huy động nguồn với lợi nhuận đạt được khi dùng nguồn huy động
được đó đầu tư, cỏ thể ngân hàng sẽ chấp nhận huy động với lãi suất cao để đạt
được mục tiêu về lợi nhuận của mình. Có thể lấy ví dụ minh hoạ như sau: trường
hợp A, ngân hàng huy động với lãi suất là 5% được 5000 đơn vị tiền tệ, 5000 này

10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vọng nhận được từ ngân hàng. Những loại tiền gửi mà tiện ích thu được từ ngân
hàng càng cao thì lãi suất ngân hàng trả cho nguồn tiền gửi đó càng thấp.
3.2. Trong quá trình phát triển của thị trường tài chính nguồn cung ứng tiền
từ ngân hàng Trung ương, từ các tổ chức tài chính khác ngày càng có ý
nghĩa hơn đối với ngân hàng thương mại
Với môi trường này, ngân hàng thương mại xác định lãi suất huy động dựa
trên lãi suất gốc. Những lãi suất gốc quan trọng là lãi suất tái chiết khấu của ngân
hàng Trung ương ( Ngân hàng Nhà nước), lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
hoặc lãi suất trái phiếu ngắn hạn của chính phủ. Những ngân hàng lớn, ở các trung
tâm tài chính, thường lấy lãi suất này làm điểm xuất phát khi xác định lãi suất huy
động.
Lãi suất nguồn = Lãi suất gốc ( lãi suất tái chiết khấu + Tỷ lệ thu nhập
( nhóm nguồn) hoặc lãi suất liên ngân hàng , lãi kỳ vọng của
lãi suất trái phiếu chính phủ ) người gửi tiền
Ngân hàng sử dụng lãi suất gốc để xác định lãi suât trả cho các nguồn tiền gửi
ngắn hạn, Từ lãi suất gốc, ngân hàng đa dạng các tỷ lệ lãi suất khác nhau theo
nguyên tắc:
- Lãi suất bình quân thực dương, tương quan về an toàn và sinh lợi với các
hoạt động đầu tư khác như mua vàng, bất động sản, chứng khoán;
- Lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất cho vay cùng kì hạn;
- Lãi suất tỷ lệ thuận với kì hạn;
- Lãi suất tỷ lệ thuận với qui mô;
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Lãi suất tỷ lệ thuận với tính thanh khoản;
- Lãi suất tỷ lệ thuận với khả năng sử dụng của tiền gửi;
- Lãi suất tỷ lệ nghịch với độ an toàn của ngân hàng và các tiện ích của ngân

Tài sản Dư bình
quân
Lãi suất
bình quân
1 Tiền gửi thanh toán
2 Tiền gửi tiết kiệm
ngắn hạn
3 Tiền gửi tiết kiệm
trung
4 Tiền gửi tiết kiệm dài
5 Vay ngắn hạn
6 Nguồn khác
7 Vốn và quỹ
100
400
200
100
100
0
100
1 Tiền gửi và tiền mặt
2 Chứng khoán
3 Cho vay ngắn
4 Cho vay trung và
dài đối với DN
5 Liên doanh
6 Cho vay tiêu dùng
7 Tài sản khác
50
150

thuetruocnhapThu
=
Cho các khoản vay và liên doanh =
%53333,0
750
100*4
=

( gi s rng chng khoỏn khụng phi chu phõn b chi phớ , thu v thu nhp
rũng d tớnh ).
Lói sut cú th ỏp dng cho tit kim ngn hn l:
2,1785% - 0,2% - 0,5333% = 1,4542%
T lói sut bỡnh quõn, ngõn hng cú th phõn bit thnh cỏc lói sut ngn hn
khỏc nhau nh lói sut tit kim 12 thỏng, 6 thỏng, 3 thỏng
Ngõn hng cú th iu chnh lói sut cho phự hp vi mụi trng cnh tranh v
chin lc huy ng vn, trong mi tng quan vi cỏc lói sut khỏc trong ngõn
hng.
3.4. Mt s ngõn hng nh t giỏ trờn c s lãi sut ca ngõn hng ln
(ngõn hng trung tõm )
Sinh viờn: Lờ Hu Thanh Lp: Toỏn Ti chớnh 44
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuỳ trường hợp cụ thể mà lãi suất này có thể cộng thêm phần bù rủi ro của
ngân hàng nhỏ. Trong điều kiện thị trường xa cách, người gửi khó tiếp cận với
ngân hàng lớn, ngân hàng nhỏ đặt lãi suất huy động tương quan với lãi suất sinh
lời.
II. Một số vấn đề chung về lãi suất huy động

càng cao;
- Lãi suất phân biệt theo loại tiền;
- Lãi suất phân biệt theo mục đích gửi, theo mục đích huy động;
- Lãi suất phân biệt theo rủi ro của ngân hàng: Các ngân hàng nhỏ, hoặc
ngân hàng tư nhân lãi suất cao hơn các ngân hàng lớn, hoặc ngân hàng của
Nhà nước;
- Lãi suất phân biệt theo các dịch vụ đi kèm như tiết kiệm có thưởng, tiết
kiệm bảo hiểm lãi suất thấp hơn tiết kiệm khác;
- Lãi suất phân biệt theo qui mô …
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhìn chung, tiện ích mà ngân hàng cung cấp cho người gửi tiền và người cho
vay càng cao thì lãi suất càng thấp. Một số nguồn tiền lãi suất ngân hàng trả
bằng không và người gửi phải trả phí để được hưởng tiện ích của ngân hàng.
Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất Ngân hàng có nhiều
mức lãi suất danh nghĩa khác nhau tuỳ theo tính chất của từng khoản nợ, đó là các
mức lãi suất cá biệt.
Ví dụ: Lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ loại thời hạn 6 tháng là 0.55%; loại tiết
kiệm 12 tháng USD là 3% / năm … Trong quá trình cạnh tranh để mở rộng nguồn
tiền, các ngân hàng đều cố gắng tạo ra các ưu thế của riêng mình trong đó có ưu
thế về lãi suất cạnh tranh. Một ngân hàng có thể đưa ra lãi suất danh nghĩa cao hơn
ngân hàng khác, tức là đã tạo ra lãi suất cạnh tranh nhằm thu hút thêm nguồn tiền
mới. Tuy nhiên ngân hàng này cũng có thể tạo ra lãi suất cạnh tranh bắng các
phương pháp khác như trả lãi làm nhiều lần trong kì hoặc trả lãi trước. Khi trả lãi
nhiều lần trong kì, lãi suất tương đương (A) sẽ lớn hơn lãi suất danh nghĩa mà
ngân hàng cam kết trả.
A ( còn được kí hiệu NEC) = (1+i/n)
n


Với các lãi suất danh nghĩa trên, ta có thể tính lãi suất bình quân cho từng
nguồn trong 3 tháng, lãi suất bình quân của các nguồn tại một thời điểm hoặc
trong 3 tháng.
Lãi suất bình quân của các nguồn vào ngày 1/1:
LSBQ=
112,0
200
%)13*40(%)12*60(%)10*100(
=
++
tức là 11,2%
Lãi suất bình quân của nguồn ngắn hạn trong 3 tháng:
LSBQ=
10527,0
360
%)5,10*140(%)11*120(%)10*100(
=
++
tức là 10,527%
Lãi suất bình quân đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chênh lệch lãi
suất.
2. Rủi ro lãi suất
2.1. Khái niệm
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
Nguồn Số dư
1/1
Lãi
suất
1/1
Sè d

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Để huy động vốn của doanh nghiệp và dân cư, ngân hàng phải trả lãi. Khi tài
trợ, ngân hàng thu lãi. Như nhiều giá cả hàng hóa khác, lãi suất của các khoản cho
vay, tiền gửi, chứng khoán thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận
cho ngân hàng và ngược lại gây tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro lãi suất là khả năng
xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến gắn với thay đổi lãi suất và nhiều nhân tố
khác như cấu trúc và kỳ hạn của tài sản và nguồn, qui mô và kỳ hạn các hợp đồng
kỳ hạn ..
2.2. Nguyên nhân rủi ro lãi suất
(1)
Sự không phù hợp về kỳ hạn của các nguồn vµ chÕ ®é l·i suÊt cố định
trong các hợp đồng.
(2) Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng .
2.2.1. Sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản và chế độ lãi suất cố định
Sự không phù hợp về kỳ hạn nguồn và tài sản được đo bằng khe hở lãi suất
Khe hở lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn nhạy cảm lãi suất
Các tài sản và nguồn nhạy cảm thường là các loại mà số dư nhanh chóng
chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất đổi, ví dụ như khoản tiền gửi ngắn hạn, các
khoản cho và đi vay trên thị trường liên ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn của
chính phủ, các khoản cho vay ngắn hạn. Các loại ít nhạy cảm thuộc về tài sản và
nguồn trung và dài hạn với lãi suất cố định. Ví dụ, một khoản tiền göi tiết kiệm 3
tháng (100 tỷ) với lãi suất 10% /năm. Khi lãi suất thị trường thay đổi ( tăng hoặc
giảm ), thì khoản tiền này (100 tỷ) sẽ nhanh chóng chuyển sang lãi suất mới.
Ngược lại, với khoản tiết kiệm 3 năm, khi lãi suất thị trường thay đổi, chỉ một phần
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhỏ sắp đến hạn, hoặc mới gửi có khả năng chuyển sang lãi suất mới. Do ngân
hàng sử dụng lãi suất cố định đã tạo ra các tài sản và nguồn kém nhạy cảm với lãi
suất.

sản và nguồn được xác định lại lãi suất. Ví dụ, một nguồn tiền huy động hai năm,
với lãi suất 10% / năm, song đã duy trì được 1 năm 10 tháng. Vậy vào thời điểm
tính toán, nguồn này chỉ còn 2 tháng là đến hạn. Nếu lãi suất thị trường thay đổi,
nguồn này sẽ được đặt lại giá ( xác định lại lãi suất ).
Ngân hàng khó và không cần thiết duy trì sự phù hợp tuyệt đối giữa các nguồn
và các loại tài sản khác nhau trong mọi thời kỳ. Trước hết, kỳ hạn trên thường lµ
do khách hàng quyết định. Thứ hai, sự thay đổi của các loại lãi suất rất khác nhau
và mức độ nhạy cảm của nguồn và tài sản đối với lãi suất cũng khác nhau. Thứ ba,
sự khác biệt về nguồn và tài sản nhạy cảm có thể tạo thu nhập cao hơn cho ngân
hàng. Khi duy trì khe hở nhạy cảm khác không, nếu lãi suất thay đổi theo hướng
phù hợp, thu nhập của ngân hàng sẽ tăng lên.
Giả sử lãi suất thay đổi với mức độ nào đó không có lợi cho ngân hàng, mức
độ giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ tỷ lệ thuận với qui mô khe hở lãi suất.
2.3.2. Sự thay đổi của lãi suất thị trường
- Trong trường hợp ngân hàng đang duy trì khe hở lãi suất dương, tức là
ngân hàng dự đoán lãi suất sẽ tăng. Nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm cùng
tăng như nhau, ngân hàng sẽ có lợi; nếu chúng giảm xuống với cùng mức độ,
chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ giảm, làm giảm thu nhập từ lãi suất.
- Trong trường hợp ngân hàng đang duy trì khe hở lãi suất âm tức là ngân
hàng dự đoán lãi suất sẽ giảm. Nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm cùng tăng
với một mức độ, chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ giảm, làm giảm thu nhập từ
lãi suất. Như vậy, trạng thái tài sản và nguồn không phải là yếu tố duy nhất gây
nên rủi ro lãi suất. Trạng thái trên được kết hợp với thay đổi lãi suất ngoài mong
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
muốn của nhà quản lí ngân hàng sẽ gây nên rủi ro lãi suất. Do khả năng dự đoán
thay đổi lãi suất là có hạn trước thay đổi của môi trường kinh doanh, khe hở lãi
suất trở thành yếu tố đo rủi ro lãi suất tiềm năng. Nếu khe hở lãi suất càng lớn thì
rủi ro càng lớn.

Nếu lãi suất thị trương tăng thêm 1%, chênh lệch lãi suất của ngân hàng:

%2,1
200
100*%)6*80%5*120%7*120%6*80(
=
−−+
( số tuyệt đối là 2,4)
Khe hở nhạy cảm 80-120 =40
Vậy từ khe hở nhạy cảm ta có thể dự đoán tổn thất khi lãi suất thay đổi:
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Thu nhập từ lãi giảm (-) = Khe hở * Mức gia tăng
Hoặc tăng (+) nhạy cảm của lãi suất

Từ ví dụ trên ta có: Thu nhập từ lãi giảm (-) =40 *1% = -0,4( đơn vị )

Ch
ªnh lÖch l·i suÊt
=
loisantaiTong
suatlaicuaggiamuccamnhayhokhe
sinh
tan*Gi¶m (-) ,t¨ng céng (+)


20
10
50
150
4
2
6
7
Nguồn nhạy cảm
Trong đó:
- Tiền gửi thanh toán
- Tiềngửi có kỳ hạn ngắn
- Tiết kiệm ngắn
- Nguồn kém nhạy cảm
120
30
30
60
80
3
4
5
6
Sinh viên: Lê Hữu Thanh Lớp: Toán Tài chính 44
25

Trích đoạn Nhõn tố thuộc về bản thõn khỏch hàng Ước lượng mụ hỡnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status