Lời nói đầu
Đất nớc Việt Nam ta đã và đang trong thời kỳ đổi mới kinh tế đầy sôi động.
Công cuộc đổi mới này đợc bắt nguồn từ đại hội Đảng lần thứ VI( năm 1986). Đại
hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện cho nền
kinh tế, đa đất nớc thoát khỏi khủng hoảng và liên tục đạt đợc nhiều thành tựu rực
rỡ. Đóng góp vào thành công này có nhiều yếu tố nhng một bộ phận vô cùng quan
trọng không thể không kể đến đó là việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại. Điều này đợc thể hiện rõ nhất trong những năm gần đây, khi mà có nhiều
công ty, nhiều tập đoàn đầu t vào Việt Nam, đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế
đối ngoại và của các khu công nghiệp. Hơn nữa là việc Việt Nam đã, đang và
chuẩn bị gia nhập các liên kết kinh tế nh ASEAN, WTO, AFTA,
Xuất nhập khẩu là lĩnh vực cần thiết không thể thiếu đợc đối với bất kỳ
quốc gia nào. Để tăng trởng kinh tế nhanh chóng các quốc gia buộc phải đẩy
mạnh hoạt động xuất nhập khẩu bởi vì xuất khẩu sẽ thúc đẩy nền kinh tế trong nớc
còn nhập khẩu sẽ đảm bảo cho quá trình sản xuất đợc liên tục, có hiệu quả góp
phần mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng, từng bớc ổn định và nâng cao đời
sống của nhân dân.
Việt Nam tuy là một nớc giàu tài nguyên với Rừng vàng biển bạc nhng
vẫn cha đảm bảo đầy đủ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong nớc. Nắm đợc
tình trạng đó ngay từ ngày đầu thành lập, công ty TNHH Thành Long đã rất chú
trọng vào lĩnh vực nhập khẩu các linh kiện điện tử, máy tính, thông tin di động
Công ty đã đầu t rất lớn vào lĩnh vực này và biến nó thành ngành kinh doanh chủ
yếu của công ty nhằm cung cấp cho các hãng sản xuất ti vi, đặc biệt là hàng LG
SEL.
Việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty
TNHH Thành Long không những có ý nghĩa hết sức to lớn và có quyết định trực
tiếp đến sự tồn tại và phát triển của công ty mà còn rất quan trong đến công cuộc
phát triển và đổi mới của nền kinh tế nớc nhà. Chính vì thế, sau một thời gian thực
tập và tìm hiểu về các hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty TNHH Thành
Long em đã quyết định lựa chọn đề tài:
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu:
_ Tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng từng bớc công nghiệp hoá đất nớc. Bởi vì nhập khẩu đòi hỏi
sự đồng bộ về kỹ thuật nên tạo ra dây chuyền hiện đại kéo theo sự đổi mới trong
đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý, tạo ra kỷ luật lao động chặt chẽ trong đội ngũ
công nhân.
_ Tạo điều kiện mở rộng khả năng cung ứng đầu vào cho sản xuất, nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc. Đồng thời thông qua nhập khẩu hàng hoá các
quốc gia sẽ tham gia vào thị trờng cạnh tranh quốc tế, điều này bắt buộc các tổ
chức, cá nhân phải năng động, sáng tạo để theo kịp với sự phát triển chung của
toàn thế giới.
_ Làm đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, quy cách, mẫu mã từ đó dẫn
đến việc góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập khẩu máy
móc thiết bị, đầu t xây dựng là nơi thu hút hàng triệu lao động, vừa giải quyết
công ăn việc làm cho nhân dân, vừa hạn chế tệ nạn xã hội, đẩy mạnh sản xuất kinh
doanh.
_ Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát
3
triển nền kinh tế cân đối và ổn định. Thực tế cho thấy không có một quốc gia nào
trên thế giới có đợc nền kinh tế đầy đủ tất cả các loại hàng hoá mà không cần nhập
khẩu. Càng những nớc giàu, nớc hiện đại thì nhu cầu nhập khẩu các loại hàng hoá
càng cao. Thông thờng các quốc gia thờng có các chiến lợc phát triển kinh tế và
tập trung trọng điểm vào một số ngành có điều kiện tốt, còn các ngành khác thì
chỉ là bổ trợ. Do đó, vấn đề nhập khẩu để bổ xung cho các mặt thiếu sót của nền
kinh tế là điều tất yếu.
_ Phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ
chức, mỗi cán bộ tham gia hoạt động nhập khẩu. Thông qua hoạt động nhập khẩu
mà các luồng thông tin đợc khai thông, các mối quan hệ đợc sử dụng tích cực. Qua
các hoạt động nhập khẩu, giữa các quốc gia có sự giao lu, trao đổi về kinh tế, về
của doanh nghiệp, khắc phục đợc những hạn chế đem lại lợi nhuận cao cho doanh
nghiệp. Đây là phơng thức cho các doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh
doanh quốc tế.
3. Một số hình thức nhập khẩu chủ yếu:
Trong sự phát triển đa dạng chung của toàn thế giới thì hoạt động kinh
doanh quốc tế nói chung, hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng cũng phát
triển phong phú và đa dạng dới nhiều hình thức. Có thể kể ra một vài hình thức
nhập khẩu thông dụng đang đợc áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp nh sau:
3.1. Nhập khẩu trực tiếp
Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tự tính toán đầu t, nghiên cứu thị trờng, tính toán chi phí, ký kết và
thực hiện hợp đồng sao cho đúng với luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. ở
loại hình này, doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí, mọi rủi ro cũng nh phải chịu
trách nhiệm pháp lý về mọi hoạt động nhập khẩu của mình.
3.2. Nhập khẩu uỷ thác
Là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp có nhu cầu nhập
khẩu một loại hàng hoá nào đó nhng không có quyền tham gia quan hệ xuất nhập
khẩu trực tiếp và phải uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch
ngoại thơng tiến hành nhập khẩu hàng theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác
phải tiến hành đàm phán với đối tác nớc ngoài để làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá
theo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc hởng một phần thù lao gọi là lệ phí uỷ thác.
Bên uỷ thác vẫn phải tự mình nghiên cứu thị trờng, lựa chọn mặt hàng, đối tợng
5
giao dịch và chịu mọi chi phí liên quan.
3.3. Nhập khẩu liên doanh
Là hoạt động nhập khẩu trên cơ sở liên kết kinh tế tự nguyện giữa các
doanh nghiệp( Trong đó có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm
phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các biện pháp có liên quan đến hoạt
động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hớng có lợi cho cả hai
hoạt động lại xuất khẩu những hàng hoá đã nhập khẩu nhng cha qua chế biến ở n-
ớc nhập khẩu.
_ Quá cảnh hàng hoá
_ Xuất khẩu tại chỗ
_ Hiệp định thơng mại đặc biệt
II. Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
1. Hiệu quả kinh doanh
1.1. Khái niệm
Trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp đều phải xác định cho mình các
mục tiêu hoạt động kinh doanh cụ thể. Để đạt đợc mục tiêu đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự xây dựng cho mình một chiến lợc kinh doanh cụ thể thích hợp. Mục
tiêu bao trùm lâu dài của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. để đạt đợc
mục tiêu này, trớc hết mọi doanh nghiệp phải xác định tính toán sao cho sử dụng
các yếu tố đầu vào và đầu ra một cách hợp lý nhằm đạt đợc mục đích tối đa hoá lợi
nhuận. Nh vậy, hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền
với các yếu tố chi phí đầu vào và kết quả đạt đợc. Mọi khái niệm hiệu quả kinh
doanh đợc đa ra đều chỉ ra mối liên hệ giữa kết quả đạt đợc và chi phí đầu vào ở
những khía cạnh khác nhau.
Nh vậy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
nhằm phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nh: lao động, vốn, máy móc, thiết
bị, nguyên vật liệu, trong các hoạt động kinh doanh để đạt đ ợc các mục tiêu
kinh doanh mà doanh nghiệp đã xác định. Có thể biểu diễn khái niệm bằng công
thức sau:
7
H=K/C (1)
H: Hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
K: Là kết quả thu đợc từ các hoạt động đó
C: Tổng chi phí để đạt đợc kết quả đó
Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lợng các hoạt động sản xuất kinh
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh
_ Trớc hết đó là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Đây là vấn đề quyết
định sự sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Hiệu quả kinh doanh đợc
coi nh là một trong những công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của
mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết
việc sử dụng các nguồn lực đạt đợc ở trình độ nào mà nó còn cho phép các nhà
quản trị phân tích và tìm ra các nhân tố để đa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh có thể đợc hiểu là nhằm tạo ra
kết quả cao hơn trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng của kết quả
cao hơn so với tốc độ tăng của các nguồn lực đầu vào.
_ Nguồn lực xã hội là một phạm trù khan hiếm, càng ngày ngời ta càng sử
dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
phục vụ các nhu cầu khác nhau của con ngời. Trong khi các nguồn lực sản xuất xã
hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con ngời ngày càng đa dạng và tăng lên, do đó
đòi hỏi các nhà sản xuất kinh doanh phải biết tận dụng và sử dụng tiết kiệm tối đa
các nguồn lực đầu vào để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Để làm đợc điều đó
đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất
cái gì? sản xuất cho ai? Và sản xuất nh thế nào?. Bởi vì thị trờng chỉ chấp nhận
cho phép tồn tại những doanh nghiệp có quyết định sản xuất đúng loại sản phẩm
với số lợng và chất lợng hợp lý. Nếu doanh nghiệp xác định tốt ba câu hỏi trên thì
sản phẩm tạo ra của doanh nghiệp sẽ tiêu thụ tốt trên thị trờng, không lãng phí các
nguồn lực sản xuất. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng
cao hiệu quả kinh doanh là không thể thiếu đợc trong mỗi doanh nghiệp, nó thực
sự là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.
_ Trong điều kiện kinh tế thị trờng, môi trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt
do đó muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi
thế cạnh tranh, đó là chất lợng và sự khác biệt hoá. Để duy trì lợi thế về giá cả,
doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn các doanh nghiệp
9
10
_ Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận
_ Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh ngành
_ Hiệu quả kinh doanh tài chính và hiệu quả kinh doanh xã hội
3. Các nhân tố ảnh hởng đến nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu
3.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
3.1.1. Nguồn lao động của doanh nghiệp
Đây là một nhân tố rất quan trọng, có quyết định trực tiếp đến hiệu quả của
việc thực hiện các nhiệm vụ, công việc của công ty. Nếu công ty có đội ngũ cán
bộ có năng lực, có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình trong công việc thì sẽ đạt
hiệu quả kinh doanh cao. Để có đợc đội ngũ cán bộ có trình độ, tinh thần, ý thức
trách nhiệm cao,... thì buộc doanh nghiệp phải chăm lo đến việc đào tạo, bồi dỡng
và nâng cao trình độ chuyên môn của lực lợng lao động. Bố trí sắp xếp lao động cả
về cật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt là trong các hoạt động kinh doanh nhập khẩu,
khi mà các công việc có liên quan trực tiếp đến các vấn đề mang tính quốc tế với
sự khác biệt về ngôn ngữ, về văn hoá, thì việc đào tạo và nâng cao trình độ của
đội ngũ cán bộ công nhân viên lại càng phải đợc quan tâm. Đó là những nhiệm vụ
hàng đầu của mỗi doanh nghiệp để có thể tạo dựng một đội ngũ lao động có hiệu
suất cao, từng bớc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.1.2. Vốn kinh doanh nhập khẩu
Nếu công ty có nguồn vốn lớn( đặc biệt là vốn lu động) và ổn định thì sẽ
nắm bắt kịp thời cơ hội kinh doanh, có khả năng ký kết các hợp đồng lớn, khả
năng thanh toán tốt, tạo đợc uy tín với các đối tác. Thực tế cho thấy nhiều công ty
khi tham gia vào các hoạt động mang tầm cỡ quốc tế thì thờng gặp phải tình trạng
thiếu vốn trầm trọng do các hợp đồng thờng có giá trị lớn và thời hạn thanh toán
nhanh. Trong các hợp đồng kinh doanh nhập khẩu nói chung hay trong các hợp
đồng kinh tế nói riêng thì việc thiếu vốn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thờng bỏ lỡ
mất cơ hội kinh doanh do không chủ động. Mặt khác việc thiếu vốn sẽ dẫn tới việc
phải vay vốn từ nhiều phía và phải trả lãi xuất cho các khoản vay đó. Chính vì vậy
tốt, chiếm u thế trên thị trờng, đảm bảo tốt về chất lợng lẫn giá thành sẽ chiếm vị
trí cao trong thơng trờng và thu đợc nhiều lợi nhuận. Và ngợc lại doanh nghiệp
nào không có khả năng cạnh tranh tốt trong thơng trờng thì sẽ có lợi nhuận thấp,
kinh doanh không hiệu quả và dẫn tới tình trạng phá sản. Đặc biệt, đối với các
công ty tham gia các hoạt động kinh doanh quốc tế thì mức độ cạnh tranh càng
12
gay gắt, bởi vì đó là một thị trờng rất rộng lớn, nhiều chủng loại, mẫu mã đạp, giá
thành rẻ, Đứng tr ớc một hợp đồng nhập khẩu một loại hàng hoá nào đó, doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ xem nhập loại hàng hoá nào, mẫu mã, chất lợng và
giá cả ra sao, để từ đó có những chiến l ợc cụ thể nhằm cạnh tranh với các sản
phẩm cùng loại khác trên thị trờng.
Cạnh tranh đợc xét theo hai góc độ: Cạnh tranh trong nội bộ ngành trong n-
ớc và cạnh tranh với đối thủ nớc ngoài. Trong cùng một thời điểm nhất định, nếu
tồn tại nhiều doanh nghiệp cùng nhập khẩu một loại mặt hàng và tiêu thụ ở thị tr-
ờng nội địa thì sẽ ảnh hởng trực tiếp đến giá cả và khả năng tiêu thụ, do đó ảnh h-
ởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhà sản xuất nớc
ngoài khi thâm nhập vào thị trờng nội địa cũng trở thành một đối thủ cạnh tranh
lớn đối với doanh nghiệp trong nớc. Họ cạnh tranh bằng giá cả, chất lợng, mẫu
mã, uy tín nhằm thu hút khách hàng, từ đó tạo ra việc giảm doanh số tiêu thụ
của các doanh nghiệp nội địa.
Để đảm bảo cạnh tranh tốt nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
cho các doanh nghiệp nhập khẩu thì chính bản thân các doanh nghiệp phải không
ngừng nỗ lực vơn lên, tăng cờng khả năng cạnh tranh của mình với các đối thủ
trong và ngoài nớc. Muốn nh vậy thì ngay từ đầu, ngay từ khâu lựa chọn lĩnh vực
kinh doanh, doanh nghiệp nên có hớng lựa chọn đúng đắn và tìm hiểu kỹ càng để
có thể đa ra các biện pháp cạnh tranh vừa lành mạnh vừa có hiệu quả.
3.2.2. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là phơng tiện so sánh về mặt giá trị chi phí sản xuất của
doanh nghiệp với giá cả thị trờng thế giới và dẫn tới tác động tơng quan giữa giá
trạng giảm mức cầu của ngời tiêu dùng đối với hàng hoá nhập khẩu.
3.2.4.Hạn ngạch
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của nhà nớc về số lợng hoặc giá trị một
mặt hàng nào đó đợc nhập khẩu trong một thời gian nhất định( thờng là một năm).
Hạn ngạch nhập khẩu thờng đa đến tình trạng hạn chế số lợng nhập khẩu và ảnh h-
ởng đến giá nội địa của hàng hoá. Do việc hạn chế số lợng nhập khẩu của hạn
ngạch, các nhà sản xuất trong nớc sẽ thực hiện một quy mô sản xuất với hiệu quả
thấp hơn so với điều kiện thơng mại tự do. Đối với cả chính phủ và các doanh
nghiệp thì hạn ngạch sẽ giúp cho việc xác định trớc số lợng nhập khẩu.
Hạn ngạch nhập khẩu có tác động tơng đối giống với thuế quan nhập khẩu
tức là do hạn ngạch nên giá cả của hàng nhập khẩu sẽ tăng lên. Hạn ngạch có tác
động khác thuế quan ở hai điểm:
14
_ Thứ nhất, chính phủ sẽ bị thất thu ngân sách từ các khoản thuế nhập khẩu
do việc nhập khẩu một loại hàng hoá nào đó có giới hạn. Giá cả của hàng hoá
nhập khẩu tăng lên là do mức độ khan hiếm của hàng hoá trên thị trờng, ngời đợc
hởng lợi lại là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
_ Thứ hai, hạn ngạch có thể làm cho các doanh nghiệp kinh doanh nhập
khẩu biến thành những nhà độc quyền. Và do đó họ có thể áp dụng chế độ giá độc
quyền và hởng lợi nhuận không chính đáng.
Hạn ngạch làm hạn chế số lợng nhập khẩu của các doanh nghiệp. Với mức
cung thấp, giá cân bằng sẽ cao hơn trong điều kiện thơng mại tự do. Vì vậy, nếu
tính về kết quả thu đợc từ việc bán một đơn vị hàng hoá nhập khẩu ở thị trờng nội
địa thì các doanh nghiệp này có kết quả kinh doanh khá cao. Tuy nhiên, đó là xét
theo góc độ lợi ích trớc mắt, về lâu dài thì không có lợi cho doanh nghiệp vì quy
mô của doanh nghiệp không thể phát triển một cách tối đa đợc. Hạn ngạch cho
biết trớc số lợng hàng nhập khẩu, từ đó các doanh nghiệp có thể tự chủ đa ra các
chiến lợc kinh doanh cụ thể nhằm nâng cao đến mức tối đa hiệu quả kinh doanh
nhập khẩu của doanh nghiệp.
chính sách kinh tế đối ngoại cũng nh trong nớc.
Chính sách tài chính tín dụng cũng có ảnh hởng rất lớn đến các doanh
nghiệp nhập khẩu . Hệ thống tín dụng ở Việt Nam hiện nay đợc phát triển theo h-
ớng đa dạng hoá, đa thành phần. Hệ thống tín dụng này có thể đáp ứng mọi nhu
cầu về vốn của các thành phần kinh tế. Do đó, nếu tỷ lệ lãi xuất ổn định, hợp lý thì
sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mạnh dạn vay vốn đầu t để phát triển sản
xuất kinh doanh. Ngợc lại, nếu tỷ lệ lãi xuất của ngân hàng không ổn định sẽ
khiến cho các doanh nghiệp phải đắn đo trong việc vay vốn kinh doanh, dẫn đến lỡ
mất cơ hội kinh doanh, không phát triển.
Ngoài ra còn có rất nhiều các chính sách có ảnh hởng trực tiếp và gián tiếp
đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiêp trong nớc nói chung và các doanh
nghiệp nhập khẩu nói riêng nh: thuế quan, hạn ngạch, kế hoạch phát triển của
quốc gia,
Kết luận:
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải chịu ảnh hởng của rất nhiều
yếu tố. Các yếu tố này có ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
theo hai chiều tích cực và tiêu cực. Điều quan trong đối với doanh nghiệp là phải
hạn chế tối đa các ảnh hởng tiêu cực và phát huy triệt để các mặt tác động tích
16
cực.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là mục tiêu cao nhất mà các doanh
nghiệp hớng tới. Vì vậy nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực phấn đấu, phát
huy hết khả năng để đạt đợc mục tiêu đó.
4. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
4.1. Nhóm chỉ tiêu tổng hợp
4.1.1. Các chỉ tiêu phản ánh chất lợng
4.1.1.1. Hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
HNK= QNK/ CNK (1)
HNK= QNK- CNK (2)
TSLNNK= TLNNK/ VKDNK* 100%
Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu theo vốn kinh doanh nhập khẩu đợc tính bằng
cách lấy lợi nhuận từ các hoạt động nhập khẩu chia cho tổng vốn kinh doanh của
các hoạt động nhập khẩu. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận.
4.1.2. Các chỉ tiêu phản ánh số lợng
_ Tổng doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu
_ Tổng chi phí bỏ ra để thu đợc doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu
_ Tổng lợi nhuận từ các hoạt động nhập khẩu
Giá trị của các chỉ tiêu trên càng lớn thì hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
của doanh nghiệp càng cao và ngợc lại.
4.2. Nhóm chỉ tiêu bộ phận
4.2.1. Sức sinh lợi của vốn lu động trong các hoạt động kinh doanh nhập khẩu
MSL= DTNK/ VLĐBQ
18
Mức sinh lợi của vốn lu động trong các hoạt động kinh doanh nhập khẩu
của công ty đợc tính bằng cách lấy doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu chia cho
vốn lu động bình quân. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lu động trong các
hoạt động kinh doanh nhập khẩu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ.
4.2.2. Hiệu quả sử dụng vốn lu động(HVLĐ) của các hoạt động kinh doanh nhập
khẩu
HVLĐ= DT/ VLĐBQ
Chỉ tiêu này nhằm xác định tốc độ luân chuyển của vốn lu động trong các
hoạt động kinh doanh nhập khẩu
4.2.3. Năng suất lao động của các hoạt động nhập khẩu
_ NSLĐ theo doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu. Chỉ tiêu này đợc tính
bằng cách lấy tổng doanh thu chia cho số lao động trong cùng một thời điểm. Nó
cho biết vào thời điểm đó, một lao động của công ty sẽ tạo ra đợc bao nhiêu đồng
doanh thu.
sản xuất và buôn bán phần mềm tin học, môi giới thơng mại, đại lý mua bán ký
gửi hàng hoá, sản xuất, chế biến lơng thực, thực phẩm.
1. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của công ty:
1.1. Các mặt hàng linh kiện điện tử:
Các linh kiện điện tử mà công ty nhập về bao gồm: tụ điện gốm, cuộn từ tr-
20
ờng mành, cuộn từ trờng dò, điốt, bộ lọc kênh, bộ lọc hình, bộ lọc tiếng, mạch tích
hợp, điện trở, bóng bán dẫn, biến áp ngang, biến áp cuộn, biến trở, Ngoài ra còn
có một số mặt hàng nguyên chiếc nh: Máy chiếu LCD, Chuông báo động, Đây là
những mặt hàng kinh doanh chủ yếu của công ty, kim ngạch nhập khẩu của nó
hàng năm chiếm khoảng 50_80% tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty. Các mặt
hàng này đều có xuất xứ từ các công ty LG của các nớc ASEAN, trong đó thì lợng
hàng nhập từ các công ty của Hàn Quốc là chiếm đa số (năm 2003 chiếm 74,45%
tổng kim ngạch nhập khẩu).
1.2. Các mặt hàng linh kiện máy tính:
Mặt hàng này bao gồm: Các loại ổ cứng, ổ CD, ổ ghi VCD, ổ ghi DVD, ổ
VCD, ổ DVD, chủ yếu là các mặt hàng mang tính chất nguyên chiếc và khi nhập
về có thể xuất trực tiếp cho khách hàng.Về chủng loại mặt hàng này thì công ty
không chuyên sâu vào lĩnh vực máy tính mà chỉ nhập một số loại linh kiện thuộc
về máy vi tính và sau đó bán lại cho các đại lý điện tử tin học trên thị trờng, chính
vì thế mà kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này vẫn còn là những con số còn rất
khiêm tốn. Năm 2003 trị giá kim ngạch nhập khẩu của linh vực linh kiện máy vi
tính chỉ đạt 543.977 $ chiếm 16,25% tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2003.
1.3. Các mặt hàng điện thoại di động:
Bên cạnh đó trong năm 2003 công ty nhập khẩu thêm mặt hàng điện thoại
di động. Đây là một mặt hàng mà Hàn Quốc có thế mạnh do chất lợng cao, mẫu
mã đẹp, giá thành lại rẻ. Tỷ trọng kim ngach nhập khẩu của mặt hàng này khá lớn,
năm 2003 là 1.051.700 USD( chiếm 31,42%) trong tổng kim ngạch nhập khẩu của
công ty. Các loại điện thoại di động mà công ty nhập khẩu chủ yếu là của hãng LG
lớn nhất, thờng xuyên nhất là hai công ty LG của Hàn Quốc với kim ngạch nhập
khẩu( năm 2003) là: 2.495.091,84 USD chiếm 74,55% tổng kim ngạch nhập khẩu
năm 2003. Hiện tại quan hệ kinh doanh của công ty vẫn còn giới hạn trong bốn
quốc gia chính là: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Indonesia. Ngoài ra còn có
một số nớc khác nh: Trung Quốc, Đài Loan, Sinhgapore, tuy nhiên việc quan hệ
làm ăn còn nhỏ lẻ và không thờng xuyên
3. Một kết quả đạt đợc của công ty:
Sau hơn một năm thành lập và phát triển, công ty TNHH Thành Long đã đạt
đợc rất nhiều thành tựu trong việc nâng cao hiệu quả các hoạt động kinh doanh
nhập khẩu của mình. Điều này không những đợc thể hiện thông qua các chỉ tiêu
22
đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của công ty mà còn đợc thể hiện thông
qua việc tăng cả về chất lẫn về lợng của quy mô kinh doanh nhập khẩu của công
ty. Đặc biệt là trong năm 2003, khi mà Việt Nam đã và đang từng bớc gia nhập
AFTA. Trong thời kỳ này, bên cạnh việc không ngững tăng mạnh số lợng nhập
khẩu các mặt hàng truyền thống nh: Linh kiện điện tử, linh kiện máy tính công ty
còn tham gia kinh doanh thêm một số mặt hàng đang đợc phát triển trên thị trờng
trong nớc, đó là các loại điện thoại di động, các loại chuông báo động.
Có thể nói, kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty TNHH
Thành Long thật đáng khích lệ. Tổng doanh thu, tổng kim ngạch nhập khẩu, lợi
nhuận, nguồn thu cho ngân sách nhà nớc, không ngừng tăng. Chúng ta có thể
xem xét thông qua bảng sau:
Bảng 1 : Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Thành Long:
(Đơn vị: tỷ đồng)
Năm
Chỉ tiêu
2003 9 tháng 2004
Tổng doanh thu nhập khẩu 41,40 45,48
Nộp NSNN 4.75 5.26
các nhà cung cấp. Tất cả các nhà cung cấp của công ty đều là những công ty thuộc
khu vực ASEAN nên công ty đã tranh thủ nhận đợc sự ủng hộ của họ.
Tuy nhiên bên cạnh đó công ty còn gặp phải rất nhiều khó khăn do nhiều
nguyên nhân đem đến. Những khó khăn này đã gây rất nhiều trở ngại cho công ty
trong công tác nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Những khó khăn đó bao
gồm:
_ Một trong những khó khăn nổi bật của công ty là hiện tợng thiếu vốn, do
nguồn vốn của công ty còn nhiều hạn chế nên công ty còn phải dựa nhiều vào các
khoản vốn vay và từ đó dẫn đến tình trạng phải bỏ ra những khoản chi phí không
cần thiết. Ngoài ra việc huy động các nguồn vốn vay còn có nhiều khó khăn và
hạn chế do phải thực hiện các thủ tục rờm rà, điều này thờng xuyên dẫn đến các
tình trạng bỏ lỡ cơ hội kinh doanh của công ty.
_Chính sách và những quy định về pháp luật của nớc ta còn nhiều bất cập
cha đợc giải quyết kịp thời, sự hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính phủ
cha đợc thoả đáng.
24
_ Đội ngũ cán bộ tuy có sức trẻ và lòng nhiệt tình, song về kinh nghiệm thì
còn nhiều hạn chế. Nhất là trong hoạt động nhập khẩu và đối ngoại mà đây lại là
một trong những hoạt động chủ yếu của công ty. Chính vì thế mà công ty cha thể
phát huy hết những khă năng vốn có.
_ Công ty cha đáp ứng đợc các điều kiện cạnh tranh, đặc biệt là trong quá
trình đất nớc đang chuẩn bị gia nhập khu vực mậu dịch tự do AFTA. Hiện nay lộ
trình cắt giảm thuế gia nhập AFTA của nớc ta đang tiến hành từng ngày từng giờ,
điều này tạo điều kiện cho công ty trong những hợp đồng ngoại thơng, tuy nhiên
nó lại đòi hỏi công ty phải có một khả năng cạnh tranh rất cao, trong khi cơ sở vật
chất, khả năng về vốn của công ty còn nhiều khiêm tốn.
Với những khó khăn hạn chế trên, các hoạt động kinh doanh quốc tế của
công ty còn gặp phải rất nhiều khó khăn và nhiều khi không thể phát huy hết
những khả năng vốn có của mình.