luận văn:Giải pháp phát triển hoạt động TTKDTM tại chi nhánh NHNo&PTNT Nam Hà Nội pot - Pdf 12



1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Giải pháp phát triển hoạt
động TTKDTM tại chi nhánh
NHNo&PTNT Nam Hà Nội.”

2


3

phong phú và phức tạp và việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào thanh toán ở
nước ta còn yếu kém. Bởi vậy mà hoạt động TTKDTM ở các NHNTM hiện
nay còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ.
Từ thực tế trên và trước yêu cầu đổi mới của hệ thống ngân hàng
trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì việc hoàn thiện và phát triển hơn nữa
các hình thức TTKDTM là một yêu cầu cấp thiết đối với các NHTM Việt
Nam hiện nay. Từ luận điểm này tôi đã nghiên cứu đề tài:
“ Giải pháp phát triển hoạt động TTKDTM tại chi nhánh NHNo&PTNT
Nam Hà Nội”.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương chính:
Chương I: Hoạt động TTKDTM tại các NHTM.
Chương II: Thực trạng hoạt động TTKDTM tại chi nhánh NHNo&PTNT
Nam Hà Nội.
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động TTKDTM tại chi nhánh
NHNo&PTNT Nam Hà Nội.
Mặc dù đã hết sức nghiên cứu, sưu tầm tài liệu nhưng do thời gian có
hạn, kiến thức còn hạn chế nên khó tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được
sự góp ý của thầy cô giáo, cán bộ ngân hàng để bài viết được hoàn thiện hơn. 4

Chương I: HOẠT ĐỘNG TTKDTM TẠI CÁC NHTM.
của quá trình chu chuyển vốn được liên tục trong từng đơn vị sản xuất nói
riêng cũng như trong nền kinh tế nói chung.
Khâu thanh toán bị ách tắc thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn, các
mối quan hệ kinh tế bị phá vỡ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Thanh toán bằng tiền mặt có nghĩa là việc chi trả được thực hiện trực tiếp
bằng tiền mặt trong các quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán, hay sự
vận động của hàng hoá gắn liền với một khối lượng tiền tệ nhất định. Khi sản
xuất hàng hoá chỉ ở trong một phạm vi hẹp, nền kinh tế ở trình độ thấp, khối
lượng thanh toán nhỏ thì thanh toán bằng tiền mặt tỏ ra linh hoạt diễn ra ở
mọi lúc mọi nơi tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của người mua và người bán.
Khi sản xuất hàng hóa phát triển ở trình độ cao, trao đổi hàng hóa
không còn bó hẹp trong phạm vi một vùng nữa mà nó đã mở rộng ra phạm vi
toàn quốc và trên thế giới. Khối lượng sản phẩm sản xuất ra và tiêu thụ với
quy mô lớn, phạm vi rộng, việc thanh toán bằng tiền mặt sẽ không an toàn
làm tăng chi phí lưu thông (chi phí vận chuyển, in ấn, bảo quản, kiểm
đếm,…). Việc thanh toán bằng tiền mặt sẽ gây cản trở cho tốc độ chu chuyển
vốn, đồng thời tạo ra những khe hở không thể kiểm soát như tham ô, trốn thuế
trong kinh doanh.
Với những hạn chế nói trên thanh toán bằng tiền mặt trở nên không
còn phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu của một nền kinh tế hiện đại đòi
hỏi phải có một hình thức thanh toán mới là hình thức TTKDTM qua ngân
hàng.
Thanh toán không dùng tiền mặt là sự vận động của tiền tệ qua chức
năng phương tiện thanh toán giữa các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội
bằng cách trích chuyển vốn từ tài khoản của người phải trả sang tài khoản
của người thụ hưởng. Để có được hình thức thanh toán này thì khách hàng 6



NHTM là đơn vị thực hiện hoạt động TTKDTM. Với vai trò là trung
gian thanh toán trong nền kinh tế, Ngân hàng đưa ra các công cụ thanh toán
hữu ích đa dạng nhằm đáp ứng được nhu cầu thanh toán ngày càng lớn của
các chủ thể trong nền kinh tế. Ngân hàng thực hiện tốt hoạt động TTKDTM là
thúc đẩy nhanh quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy nhanh
quá trình tái sản xuất. Với sự trợ giúp của hệ thống ngân hàng, quan hệ thanh
toán trở nên đơn giản hơn rất nhiều đối với các đơn vị kinh doanh, họ sẽ
không tốn nhiều thời gian và chi phí cho sản xuất, không gian sản xuất được
mở rộng. Các đơn vị kinh doanh ở xa vẫn có thể tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh một cách dễ dàng mà không phải tốn nhiều thời gian và chi phí
cho hoạt động thanh toán của mình. Bằng việc áp dụng công nghệ hiện đại
với các mối quan hệ đa dạng của mình ngân hàng thực hiện thanh toán cho
một doanh nghiệp một cách nhanh chóng và an toàn. Các hoạt động thanh
toán như vận chuyển tiền, kiểm tra tiền để thanh toán nay không còn nữa mà
thay vào đó các đơn vị kinh doanh chỉ cần mở một tài khoản tại ngân hàng và
ký lệnh thanh toán khi cần thiết là mọi hoạt động thanh toán coi như đã hoàn
tất. Hơn nữa khoản tiền gửi của các đơn vị kinh tế, cá nhân tại ngân hàng
được an toàn và được hưởng lãi từ khoản tiền gửi đối với lãi suất tiền gửi
thanh toán.
Ngân hàng làm trung gian thanh toán đã làm giảm lượng tiền mặt lưu
thông , tiền mặt không bị vận chuyển qua lại nhiều lần từ đó làm tăng tuổi thọ
của tiền. làm giảm các chi phí in tiền vận chuyển và bảo quản tiền, các khoản
tiền nhàn rỗi được sử dụng để phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động TTKDTM
Hoạt động TTKDTM đã xuất hiện từ rất lâu. Lịch sử xuất hiện thanh
toán chuyển khoản đầu tiên ở nước Anh. Trước năm 1854 nước Anh phát
hành tờ giấy bạc 1000 bảng Anh trị giá bằng 7,3224 kg vàng để tiện cho các

9

 Hệ thống ngân hàng hoạt động với mạng lưới rộng khắp, số lượng nghiệp
vụ lớn, để kiểm soát theo dõi ngân hàng và khách hàng dễ dàng trong quá
trình thanh toán phải có sự thống nhất về quy trình thanh toán, loại hình
chứng từ, mẫu chứng từ,…giữa các ngân hàng. Khi khách hàng gửi chứng
từ thanh toán đến, kế toán giao dịch sẽ nhận biết đó là loại chứng từ nào,
của ngân hàng nào, việc thanh toán trở nên nhanh chóng hơn.
 Hoạt động thanh toán được kết thúc trên các tài khoản tại ngân hàng.
Nhưng nhiều lý do khác nhau mà việc kết thúc này không được trọn vẹn,
tức là sau khi ghi chép trên tài khoản còn có nhiều khách hàng từ chối
thanh toán. Sự từ chối gây ra nhiều rắc rối, gây ảnh hưởng đến khả năng
tài chính, kế hoạch sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế cá nhân trong xã hội.
1.1.3. Vai trò của hoạt động TTKDTM trong nền kinh tế.
Hiện nay TTKDTM có vai trò rất quan trọng đối với các thành phần kinh tế.
Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, mối quan hệ thương mại giữa các nước
ngày càng mở rộng, phát triển cả về khối lượng và chủng loại hàng hoá.
Chính vì vậy mà hoạt động TTKDTM là một hoạt động không thể tách rời với
hoạt động kinh tế, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của một quốc gia.
Vai trò của hoạt động TTKDTM thể hiện như sau:
1.1.3.1. Đối với Ngân hàng
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động TTKDTM có sự tách rời giữa sự
vận động của hàng hoá và tiền tệ, trong thời gian đó ngân hàng vẫn có thể tận
dụng được nguồn vốn nhàn rỗi từ hoạt động thanh toán, nhất là hình thức
thanh toán bằng séc bảo chi, thư tín dụng, ngân phiếu thanh toán khách hàng
phải ký quỹ tương ứng với giá trị của nó. Thanh toán qua ngân hàng tạo ra
một lượng vốn rất lớn cho hoạt động sản xuất. Ngân hàng phải trả lãi cho tiền



11
gian thanh toán với chi phí thấp, giúp các khách hàng an tâm, tập trung vào
hoạt động sản xuất kinh doanh làm tăng hiệu quả sản xuất của xã hội.
1.1.3.3. Trên phương diện quản lý vĩ mô của Nhà nước
Đố với nền kinh tế, việc tăng tỷ trọng TTKDTM sẽ làm giảm khối
lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí lưu thông, chi phí in
ấn, phát hành, kiểm đếm, bảo quản,… đồng thời giúp Ngân hàng Trung Ương
điều tiết lượng tiền cung ứng phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thông qua
chính sách tiền tệ thắt chặt hay mở rộng tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát
triển của nền kinh tế. NHTW làm trung tâm thanh toán của toàn bộ nền kinh
tế, nhưng không chỉ thực hiện nghiệp vụ thanh toán một cách đơn thuần mà
ngân hàng còn thực hiện kiểm soát quan hệ mua bán, quy trình sử dụng vốn,
việc chấp hành chế độ, nguyên tắc quản lý kinh tế của từng ngân hàng.
Có thể thấy thông qua hoạt động TTKDTM Chính phủ, NHTW thực
hiện tốt hơn chức năng quản lý kinh tế vĩ mô, điều tiết được lượng tiền lưu
thông trong nền kinh tế. Từ đó góp phần hạn chế lạm phát, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển, định hướng phát triển nền kinh tế theo sự quản lý của
Nhà nước.
Tóm lại hoạt động TTKDTM có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
thị trường, được thể hiện dưới mấy điểm sau:
− Một là TTKDTM tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội.
− Hai là TTKDTM đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn kinh doanh, đảm bảo sản
xuất lưu thông liên tục.
− Ba là TTKDTM tạo điều kiện tập trung nguồn vốn trong nền kinh tế làm
tăng nguồn vốn cho ngân hàng.
− Bốn là TTKDTM có vai trò cung cấp thông tin cho ngân hàng thực hiện
kiểm soát bằng đồng tiền.
13
- Thư tín dụng
- Phiếu thanh toán
- Thẻ thanh toán
Riêng về séc thanh toán ngày 09/05/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 30/CP về quy định sử dụng séc, NHNN đã ban hành thông tư hướng
dẫn quy chế phát hành và sử dụng cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng,
thông tư hướng dẫn có hiệu lực từ ngày 04/04/1997.
Trong các hình thức TTKDTM được quyết định ở số 22/QĐ-NH của
Thống đốc NHNN, ngân phiếu được coi là một hình thức TTKDTM. Tuy
nhiên theo quyết định số 425 ngày 17/12/1998 của Thống đốc NHNN thì
ngân phiếu thanh toán được xếp vào tài khoản loại 1, loại hoạt động ngân quỹ.
Mặt khác do đặc điểm của ngân phiếu thanh toán là do NHNN phát hành, có
thời hạn thanh toán và mệnh giá in sẵn trên từng tờ, vô danh, được chuyển
nhượng. Với đặc điểm này thì ngân phiếu thanh toán được sử dụng như tiền
mặt có thời hạn. Hơn nữa đối với bất kỳ hình thức TTKDTM nào người sử
dụng hình thức thanh toán đó phải có tài khoản tại ngân hàng. Có những
trường hợp khách hàng đến ngân hàng xin lĩnh ra bằng ngân phiếu thanh toán
thì nhân viên ngân hàng có thể trả lời: “Hiện nay chưa có ngân phiếu thanh
toán, xin khách hàng vui lòng lĩnh tiền mặt”. Sự từ chối này tương tự với việc
không có tiền mệnh giá lớn, đề nghị khách hàng vui lòng nhận tiền mệnh giá
bé. Như vậy thì hình thức thanh toán bằng ngân phiếu không phải là một hình
thức TTKDTM. Vì thế mà hiện nay các hình thức TTKDTM phổ biến bao
gồm 5 hình thức: Séc, UNT, UNC, thư tín dụng, thẻ.
1.2.1. Thanh toán bằng Séc
1.2.1.1. Khái niệm và quy định chung về sử dụng séc.
1) Khái niệm. 14

quá hạn, thời hạn để đổi séc quá hạn nói trên là 6 tháng kể từ ngày phát hành
tờ séc đã quá hạn.
Séc chỉ đủ điều kiện thanh toán khi nó đảm bảo các yếu tố sau:
- Tờ séc phải có đủ các yếu tố theo quy định, không được tẩy xoá, sửa chữa,
số tiền bằng số và bằng chữ phải khớp nhau, ghi rõ ngày tháng năm lập séc
và ký tên.
- Được nộp trong thời hạn hiệu lực thanh toán.
- Không có lệnh đình chỉ thanh toán.
- Chữ ký và dấu (nếu có) của người phát hành séc phải khớp đúng với mẫu
đăng ký tại ngân hàng.
- Không ký phát hành séc vượt quá thẩm quyền quy định tại văn bản uỷ
quyền.
- Các chữ ký chuyển nhượng (đối với séc ký danh) phải liên tục.
- Tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản đủ số dư để thanh toán.
Séc được hạch toán theo nguyên tắc “Nợ trước, có sau”. Các tờ séc
sau khi kiểm tra tính hợp lệ, có đủ tiền trên tài khoản tiền gửi thì ngân hàng
phải ghi nợ vào tài khoản người phát hành trước, ghi có vào tài khoản người
thụ hưởng sau.
3) Trách nhiệm của các bên tham gia sử dụng séc.
Tham gia sử dụng séc gồm 3 bên: người phát hành séc, ngân hàng
thanh toán séc, người thụ hưởng.
Đối với người phát hàng séc: Phải có tài khoản tiền gửi thanh toán tại
ngân hàng (nơi thanh toán hộ mình). Người phát hành không được ký khống
trên tờ séc và chỉ được phát hành trong số dư tài khoản tiển gửi của mình hoặc
số dư của sổ séc định mức đã lưu ký tại ngân hàng. Nếu phát hành séc quá số
dư lần một thì nhắc nhở và phạt tiền, lần hai thì phạt tiền đình chỉ phát hành
séc trong vòng 6 tháng, lần ba thì sẽ tước quyền phát hành séc. 16


17

ngân hàng làm thủ tục bảo chi trước khi giao cho khách hàng. Các bên khi
thực hiện các giao dịch mua bán sử dụng hình thức thanh toán bằng séc bảo
chi thường không tín nhiệm nhau về khả năng chi trả hoặc người trả tiền đã có
quyết định xử phạt của ngân hàng về việc phát hành séc thanh toán chuyển
khoản quá số dư thì người thụ hưởng có quyền yêu cầu người trả tiền sử dụng
séc bảo chi để thanh toán.
Thời hạn có hiệu lực tối đa của séc bảo chi là 15 ngày kể từ ngày bảo chi
séc. Phạm vi áp dụng séc bảo chi:
− Hai khách hàng có tiền gửi thanh toán tại cùng một chi nhánh ngân
hàng thương mại.
− Hai khách hàng có tài khoản tiền gửi tại hai chi nhánh NHTM cùng địa
bàn có tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp.
− Hai khách hàng có tài khoản tiền gửi tại 2 chi nhánh NHTM cùng hệ
thống, khác địa bàn.
• Quy trình thanh toán.
Tuỳ thuộc vào phạm vi thanh toán giữa các ngân hàng mà việc thanh toán
sẽ được thực hiện theo những quy trình nhất định.
Sơ đồ thanh toán séc bảo chi

Người ký phát séc
(Người mua)
Người thụ hưởng
(Người bán)
Ngân hàng phục vụ
người mua

Ngân hàng phục vụ

- Trường hợp thanh toán séc bảo chi giữa các khách hàng có tài khoản tại
hai chi nhánh NHTM cùng hệ thống, khác địa bàn.
(1) Đơn vị mua làm thủ tục bảo chi séc.
(2) Ngân hàng đồng ý bảo chi séc, giao cho người mua tờ séc và giấy báo nợ.
(3) Người mua giao séc cho người bán.
(4) Người bán mang tờ séc và BKNS tới ngân hàng của mình. 19
(5) Ngân hàng phục vụ người bán lập giấy báo liên hàng, hạch toán và
chuyển một liên giấy báo liên hàng + Séc sang ngân hàng phục vụ
người mua.
(6) Ngân hàng phục vụ người mua lập một liên BKNS báo nợ cho đơn vị
mua, sau khi ghi nợ vào tài khoản tiền gửi của đơn vị mua.
(7) Ngân hàng phục vụ người bán báo có cho đơn vị bán.
2) Séc định mức.
Về bản chất thì séc định mức chính là séc bảo chi, giữa hai loại séc này
có sự khác biệt sau: séc bảo chi là loại séc được ngân hàng đảm bảo khả năng
chi trả cho từng tờ séc, còn séc địng mức (séc trong sổ định mức) là loại séc
được ngân hàng bảo đảm khả năng chi trả cho cả một quyển séc. Khi phát
hành séc định mức sẽ có thuận lợi hơn cho người phát séc là tiết kiệm được
thời gian và chi phí giao dịch séc, người phát séc có độ tín nhiệm cao hơn.
Tuy nhiên séc định mức có nhiều tờ séc nên ngân hàng không thể kiểm soát
chính xác về số dư trên cả quyển séc. Mặt khác sổ séc định mức chỉ được
thanh toán cho cùng một người bán, với những hạn chế này thì hiện nay hầu
hết các ngân hàng không phát hành séc định mức.
• Các quy định riêng của séc định mức khác với séc bảo chi:
- Mức tối thiểu để mở sổ séc định mức là 20 triệu đồng.
- Sổ séc định mức có thời hạn hiệu lực tối đa là 30 ngày kể từ ngày mở
sổ séc định mức. Thời hạn hiệu lực của từng tờ séc trong sổ séc định

(Người bán)
Ngân hàng phục vụ
người mua

Ngân hàng phục vụ
người bán
(2)
(6)
(4)
(5)
(3)
(2’)
Giao hh, dịch vụ
(1) 21
(1) Người mua giao séc cho người bán
(2) Người bán mang tờ séc cùng BKNS đến ngân hàng yêu cầu thanh toán
(ngân hàng người bán, ngân hàng người mua cùng một chi nhánh).
(3) Ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ séc, số dư tài khoản
của khách hàng trích chuyển sang tài khoản của đơn vị bán. Ngân hàng
ký vào liên 3 BKNS trả lại người bán để làm biên lai nộp séc.
- Trường hợp các khách hàng có tài khoản ở các chi nhánh ngân hàng khách
nhau trên cùng địa bàn có tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp.
(1) Đơn vị mua ký phát séc cho đơn vị bán.
(2) Người bán nộp séc và bảng kê nộp séc vào ngân hàng phục vụ mình.
(3) Ngân hàng phục vụ người bán chuyển liên 1, liên 2, BKNS và tờ séc
cho ngân hàng phục vụ người mua, ký vào liên 3 BKNS gửi cho người
bán.

(5) Ngân hàng phục vụ người bán lập giấy báo liên hàng hạch toán, gửi
một liên giấy báo liên hàng sang ngân hàng phục vụ người mua.
(6) Ngân hàng phục vụ người bán hạch toán cho người thụ hưởng.
- Trường hợp các khách hàng mở tài khoản ở các chi nhánh ngân hàng khác
nhau, khác hệ thống và khác địa bàn thì việc chuyển tiền giữa hai ngân
hàng được thực hiện thông qua NHNN. Trong trường hợp này NHNN
đóng vai trò trung gian thanh toán giữa các NHTM.
5) Séc cá nhân.
Séc cá nhân được áp dụng đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi đứng
tên cá nhân tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và các khoản
thanh toán khác. Séc cá nhân được thanh toán trong các phạm vi sau:
- Các khách hàng có tài khoản tại cùng một chi nhánh ngân hàng.
- Các khách hàng có tài khoản tại 2 chi nhánh ngân hàng khác nhau, các chi
nhánh này có tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp. 23
Hiện nay theo quy định của ngân hàng, séc cá nhân có số tiền trên 5 triệu
đồng, người phát séc phải đến ngân hàng nơi mở tài khoản để làm thủ tục bảo
chi séc. Thời hạn hiệu lực tối đa của séc cá nhân là 10 ngày kể từ ngày phát
hành séc.
• Quy trình, thủ tục thanh toán séc cá nhân được tiến hành giống như séc
chuyển khoản.
1.2.2. Thanh toán bằng UNC.
UNC là một lệnh yêu cầu của chủ tài khoản uỷ nhiệm cho ngân hàng
phục vụ mình trích tiền trên tài khoản tiền gửi của mình để thanh toán cho
người thụ hưởng.
UNC được sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc chuyển
tiền. Nó được áp dụng rộng rãi trong thanh toán, khi sử dụng hình thức thanh
toán bằng UNC, người bán hoàn toàn tín nhiệm người mua về thanh toán tiền

(2) Ngân hàng phục vụ người mua gửi một liên báo nợ cho người mua sau
khi hạch toán, ghi nợ cho đơn vị mua.
(3), (4) Tuỳ theo 2 ngân hàng cùng hệ thống hay khác hệ thống mà ngân
hàng phục vụ người mua áp dụng một trong hai trường hợp sau:
+ Lập chứng từ thanh toán bù trừ với ngân hàng phục vụ người bán có
tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố hoặc lập chứng từ
Đơn vị mua Đơn vị bán
NH phục vụ
người mua
NH phục vụ
người bán
Thanh toán giữa
các ngân hàng
(1) (2)
(3) (4)
(5)
Giao hh, dịch vụ 25
thanh toán liên hàng với ngân hàng trong cùng hệ thống để ngân hàng này
ghi có vào tài khoản người bán.
+ Lập chứng từ thanh toán qua tài khoản tại ngân hàng nhà nước.
(5) Ngân hàng phục vụ người bán ghi có cho tài khoản người bán và báo có.
1.2.3. Thanh toán bằng UNT.
UNT là giấy tờ thanh toán do người bán lập để uỷ thác cho tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ một số tiền ở người mua tương ứng với
giá trị hàng hoá, dịch vụ đã cung ứng.
UNT được áp dụng trong giao dịch thanh toán giữa những người sử
dụng dịch vụ thanh toán có mở tài khoản trong nội bộ tổ chức cung ứng dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status