1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý
ngân sách huyện trên địa bàn huyện Bắc
Sơn, tỉnh Lạng Sơn hiện nay.” 2
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt. Các
điều kiện kinh tế, xã hội được cải thiện đáng kể, cuộc sống nhân dân ngày một
khởi sắc, diện mạo đất nước ngày một vững bước đi lên.
Có được điều đó là do Đảng, Nhà nước đã có một chính sách phát triển
đúng đắn hợp lý gắn liền với thời cuộc. Trong đó phải kể tới quan điểm phát
thiện trong đổi mới công tác quản lý ngân sách huyện là một nhiệm vụ luôn
được quan tâm
.
Xuất phát từ vấn đề này, trong thời gian thực tập tại phòng tài chính – kế
hoạch huyện Bắc Sơn, Tỉnh Lạng Sơn, với những kiến thức đã đựơc tiếp thu ở
nhà trường cùng với sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo cô giáo đặc biệt là cô
giáo Phan Thị Hạnh cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ phòng tài chính – kế
hoạch đã hướng dẫn em tập trung tìm hiểu và phân tích tình hình quản lý ngân
sách huyện trên địa bàn huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn với đề tài: “Hoàn thiện
công tác quản lý ngân sách huyện trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng
Sơn hiện nay.”
Mục đích của đề tài là thông qua nghiên cứu tình hình quản lý ngân sách
huyện trên địa bàn huyện nhằm tìm ra những giải pháp thiết thực góp phần củng
cố tăng cường công tác quản lý ngân sách huyện trên địa bàn huyện Bắc Sơn
được tốt hơn.
Đề tài được trình bày theo nội dung sau:
Chương 1: Ngân sách nhà nước và sự cần thiết phải quản lý ngân sách
nhà nước huyện trong điều kiện hiện nay.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách huyện trên địa bàn
huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua.
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách
huyện trên địa bàn huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới.
4
Qua việc nghiên cứu đề tài, em đã lĩnh hội được nhiều kiến thức mới về
quản lý ngân sách nói chung và ngân sách huyện nói riêng, cả về lý luận và thực
tiễn tuy nhiên không tránh khỏi sai sót do trình độ còn hạn chế.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Phan Thị
Hạnh; sự giúp đỡ của các cô, chú Phòng KH - Tài Chính-Thương mại Huyện
Bắc Sơn để em hoàn thành chuyên đề này.
phép”.
6
Còn ở Trung Quốc: “ngân sách nhà nước là kế hoạch thu - chi tài chính
hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”.
Ở Việt Nam, ít nhất cũng có những nghĩa khác nhau về ngân sách nhà
nước:
Giáo trình quản lý tài chính công: ngân sách nhà nước là dự toán hàng năm
về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động cho nhà nước và sử dụng các
nguồn tài chính đó nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước do Hiến
pháp quy định.
Giáo trình quản lý tài chính nhà nước:ngân sách nhà nước là một phạm trù
kinh tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hoá
- tiền tệ. Nói một cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng
hoá tiền tệ như những điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh tồn tại của kinh tế
hàng hoá tiền tệ những điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh tồn tại của ngân
sách nhà nước. Hai tiền đề nói trên xuất hiện rất sớm trong lịch sử, nhưng thuật
ngữ ngân sách nhà nước lại xuất hiện muộn hơn, vào buổi bình minh của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Thuật ngữ này chỉ các khoản thu và các
khoản chi của nhà nước để thể chế hoá bằng pháp luật thực hiện quyền lập pháp
về ngân sách nhà nước ( quyết định về các khoản thu, các khoản chi, tổng số thu,
tổng số chi ) còn quyền hành pháp giao cho chính phủ thực hiện. Trong thực tế
vai trò điều hành ngân sách của chính phủ rất lớn nên còn thuật ngữ “ngân sách
chính phủ “ mà thực ra là nói tới “Ngân sách nhà nước”.
Giáo trình lý thuyết tài chính: “ngân sách nhà nước là phạm trù kinh tế và
phạm trù lịch sử. Ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng sự vận động của các
nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của
nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối
các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ
yếu”.
chỉnh.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công ( năm 1945) Nhà nước ta đã thực
hiện quyền lực về ngân sách nhà nước đã có nhữung chính sách mang tính chất
8
cách mạng triệt để, như sắc lệnh về việc bãi bỏ thuế thân, hình thành hệ thống
thuế mới với quan điểm giảm bớt gánh nặng thuế khoá cho dân nghèo. Tiếp theo
đó là hàng loạt các biện pháp nhằm khẳng định quyền lực về tài chính và củng
cố ngân sách của nhà nước Việt Nam, như phát hành tiền kim khí ( ngày 1-12-
1946) và giấy bạc Việt Nam (ngày 3 - 2- 1946); đặt ra “ Quỹ Độc lập” nhằm huy
động vốn cho ngân sách nhà nước. Nói chung trong giai đoạn kháng chiến (
1946 – 1954) thì vấn đề huy động và chi tiêu của ngân sách nhà nước đều nhằm
mục đích phục vụ kháng chiến thắng lợi. Đến năm 1967 chế độ phân cấp quản lý
ngân sách ra đời. Hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm: ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương( các tỉnh, thành phố ở phía Bắc). Như vậy cách mạng
tháng Tám thành công đến năm 1967 chỉ có một ngân sách nhà nước.
Năm 1972 Nhà nước ban hành “điều lệ ngân sách xã” ngân sách xã được
xây dung nhưng chưa được tổng hợp ngân sách nhà nước.
Năm 1978 Chính phủ ra quyết định số 108/CP ngân sách địa phương được
phân thành hai cấp: ngân sách tỉnh ( thành phố) và ngân sách huyện( quận).
Với nghị quyết 138/HĐBT ( ngày 19 – 11- 1983) ngân sách xã được tổng
hợp vào ngân sách nhà nước và hệ thống ngân sách nhà nước gồm bốn cấp:
- ngân sách trung ương
- ngân sách tỉnh, thành phố
- ngân sách huyện ( quận, thị xã).
- ngân sách xã ( phường, thị trấn).
Nhằm phù hợp với điều kiện mới của đất nước trong thời kỳ mới, ngày 20
– 03- 1996 Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua
luật Ngân sách nhà nước. Luật này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 1997.
Theo đó thì hệ thống ngân sách nước ta được chia ra làm bốn cấp:
trường Đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn các công trình trọng điểm, các
cơ sở kinh tế then chốt để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, để có thêm những sản
10
phẩm chủ lực tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật làm chỗ dựa cho các ngành các
thành phần kinh tế trong phát triển kinh tế. Kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn
định tiền tệ giá cả thị trường, góp phần ổn định và phát triển sản xuất, ổn định
đời sống nhân dân.
1.1.3.3 Vai trò của ngân sách nhà nước trong việc ổn định chính trị bảo
vệ thành quả cách mạng
Vai trò của ngân sách nhà nước trong phân phối tổng sản phẩm xã hội,
trong ổn định và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện
cho ổn định chính trị thông qua ngân sách nhà nước bảo đảm các nhu cầu và
điều kiện để không ngừng hoàn thiện bộ máy nhà nước, phát huy vai trò của bộ
máy nhà nước trong việc quản lý mọi lĩnh vực của đất nước, bảo đảm an ninh,
quốc phòng, bảo vệ và phát triển những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp
cách mạng.
1.1.3.4 Vai trò kiểm tra của ngân sách nhà nước
Thông qua ngân sách nhà nước kiểm tra quá trình phát triển kinh tế quốc
dân, cũng như các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm thúc đẩy, phát
hiện, khai thác tiềm năng kinh tế, kiểm tra bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản nhà
nước, chống thất thoát lãng phí, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về ngân sách
nhà nước, kỷ luật tài chính, bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động tài chính.
Ngoài ra ngân sách đảm bảo chi thường xuyên, quốc phòng, an ninh là
ngân sách can thiệp vào kinh tế. Nhà nước cần phải tác động vào quá trình phát
triển kinh tế dù đó là kinh tế kế hoạch tập trung hay kinh tế thị trường. Với ý
nghĩa đó, tiềm lực tài chính của Nhà nước phải đủ mạnh đảm bảo cho Nhà nước
chủ động thực hiện chính sách tài khoá nới lỏng hoặc thắt chặt, thực hiện kích
cầu đầu tư, tiêu dùng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, không một Nhà nước nào
tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN. Cùng với đà đổi
mới của nền kinh tế đất nước, ngân sách huyện cũng được xác định lại vai trò,
12
nhiệm vụ của mìmh. Cụ thể, ngày 27 /11 /1989 HĐBT đã ra nghị quyết số 186
/HĐBT vè phân cấp quản lý ngân sách địa phương trong đó có Ngân sách
Huyện. Ngày 16 /2 /1992 HĐBT ban hành Nghị quyết số 186 / HĐBT sửa đổi
bổ sung nghị quyết186 / HĐBT ngày 27/11/1989.
Kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khoá IX khẳng định: huyện là một cấp chính quyền
có hgân sách, ngân sách huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địa phương
thuộc hệ thống ngân sách nhà nước.
Như vậy, ngân sách huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của ngân sách nhà nước trên phạm vi địa bàn huyện.
Khảo sát quá trình hình thành ngân sách huyện, ta có thể thấy ngân sách
huyện từ một cấp dự toán đã trở thành một cấp ngân sách có nguồn thu và nhiệm
vụ chi riêng. Đó là một lối đi đúng đắn trong quá trình phát triển nền tài chính
quốc gia. Trước tiên, nó giúp cho Ngân sách cấp tỉnh, trung ương giảm được
khối lượng công việc. Tiếp theo, nó giúp cho các cấp chính quyền có thể nắm
bắt được tình hình kinh tế nói chung và tài chính nói riêng từ cơ sở.
Ngân sách huyện mang bản chất của ngân sách nhà nước, đó là mối quan
hệ giữa ngân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá
trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện, mối quan hệ đó được
điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
Việt Nam. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của công nhân và nhân dân lao
động, bộ phận người chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội. Do vậy, lợi ích của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam không có gì hơn ngoài mong muốn được phục
vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Có thể nói, việc Ngân sách Huyện trở thành một cấp ngân sách đã làm cho
bộ mặt ngân sách nhà nước mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốc
động tốt mà vẫn tiết kiệm, hiệu quả.
Trong các chức năng của Nhà nước, chức năng đảm bảo an ninh trật tự,
quốc phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là công cụ quyền lực của Nhà
nước, nhằm bảo vệ ý chí của Nhà nước, tạo điều kiện an toàn để Huyện phát
14
triển mọi mặt. Để đảm bảo cho chức năng đặc biệt này, Ngân sách Huyện cần
phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, có các khoản dự phòng hợp lý.
1.2.2.2Ngân sách Huyện công cụ thúc đẩy, phát triển ổn định kinh tế
Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính của cấp tỉnh, cấp trung ương,
cấp Huyện cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết , định
hướng. Một trong những công cụ đắc lực là Ngân sách. Sẽ không có một cơ câú
kinh tế ổn định, phát triển nếu bỏ qua công cụ này. Các Huyện phải căn cứ vào
thế mạnh của địa phương mình để định hướng, hình thành cơ cấu kinh tế, kích
thích phát triển. Đồng thời các Huyện phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư, hỗ trợ
về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.
Thuế là một phương tiện đắc lực trong điều tiết vĩ mô kinh tế, Huyện có
thể sử dụng công cụ này để điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Ngoài ra cấp Huyện phải
xây dựng cho mình một tiềm lực kinh tế riêng, đó là các doanh nghiệp Nhà nước
do cấp Huyện quản lý. Loại hình doanh nghiệp này phải đóng vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế Huyện
1.2.2.3 Ngân sách Huyện phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường,
đảm bảo công bằng xã hội, gìn giữ môi trường.
Đây là vai trò không thể thiếu đối với Ngân sách mỗi quốc gia. Nó có tác
dụng xoa dịu nền kinh tế thị trường. Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường là
chạy theo lợi nhuận bất chấp hậu quả. Do đó, một loạt các vấn đề xảy đến: Thất
nghiệp, hố ngăn cách giàu nghèo tăng, không quan tâm đến người già, trẻ em,
người tàn tật, lừa đảo, chiếm đoạt, môi trường ô nhiễm Những điều đó tạo ra
cho nền kinh tế - xã hội một vực thẳm phía trước. Cấp huyện theo dõi các báo
cáo tổng hợp từ cấp xã, phường phải có biện pháp giải quyết.
1.2.3.1.2 Các quan điểm cần quán triệt khi xây dựng và thực hiện các chính
sách thu ngân sách
Một là, các chính sách thu phải góp phần vào khuyến khích và phát triển
sản xuất kinh doanh, mở rộng lưu thông hàng hoá và thúc đẩy cạnh tranh lành
mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Như phần trên đã
trình bày, các đối tượng nộp thuế rất nhạy cảm với việc đánh thuế. Thế mà, việc
thu thuế là có giới hạn, cónghĩa là, thu bằng thuế chỉ đạt được kết quả tối đa tại
một điểm thuế suất nào đó. Đây là hiện tượng “thuế giết thuế, có nghĩa là với
chủ trương tăng thuế để tăng thu Ngân sách, nhưng đến khi thực hiện lại có tác
động ngược lại: Sản xuất kinh doanh bị đình trệ, hiện tượng trốn thuế phát triển
do tâm lý “lười lao động”.
Hai là, chính sách thu phải đảm bảo tâp trung quản lý hợp lý nguồn thu cho
Ngân sách, đồng thời bảo đảm mức sống hợp lý cho các đối tượng dân cư dọ tác
động của chính sách thu. Theo quy định của Nhà nước, tất cả các khoản đều
17
được tập trung vào Kho Bạc Nhà nước cùng với sự phối hợp của Ban Tài Chính,
cơ quan thuế, Hải quan.
Ba là, chính sách thu phải đảm bảo công bằng xã hội cho các tầng lớp dân
cư. ở đây bao gồm cả công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang.
Công bằng theo chiều dọc có nghĩa là đối tượng nào có khả năng nộp thuế nhiều
hơn phải nộp nhiều hơn. Công bằng theo chiều ngang có nghĩa là các đối tợng
có khả năng nộp thuế như nhau sẽ phải nộp thuế như nhau.
Bốn là, chính sách thu phải đảm bảo tính quần chúng. Do trình độ của các
đối tượng nộp thuế là khác nhau, thậm chí chênh lệch rất lớn, việc đưa ra một
chính sách thuế quá khó hiểu, phức tạp là một sai lầm. Bởi vì chi phí cho việc
tuyên truyền, giải thích chính sách thu đó sẽ rất lớn. Khi đó, chính sách thu có
khi lại phản tác dụng. Do đó, nội dung chính sách thu phải đơn giản, dễ hiểu, dễ
thực hiện, dễ dàng được chấp nhân.
1.2.3.1.3 Các khoản thu của Ngân sách Huyện
(Ngân sách địa phương hưởng 100%). Việc phân cấp cho Ngân sách các cấp (
tỉnh, huyện, xã ) do cấp tỉnh quy định. Riêng tỷ lệ phần trăm phân chia thuế sử
dụng đất nông nghiệp cho xã, thị trấn tối đa là 100%, tối thiểu là 20%.
1.2.3.2 Nội dung chi của Ngân sách Huyện
Nếu như quá trình thu là quá trình tạo lập, hình thành Ngân sách thì chi
Ngân sách là quá trình sử dụng Ngân sách. Nó ngược lại hoàn toàn với quá trình
thu nhưng lại chịu sự điều khiển của quá trình thu ( Không thể chi nhiều trong
khi thu ít và ngược lại ) đồng thời, lại tạo thêm nguồn thu ( Đầu tư Ngân sách
nhàn rỗi vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh ).
19
Chi Ngân sách là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn
trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà
nước.
* Đặc điểm chi Ngân sách Huyện
Với tư cách là một quá trình sử dụng quỹ NSNN, chi Ngân sách huyện có
các đặc điểm sau:
Một là, chi tiêu Ngân sách luôn gắn liền với các nhiệm vụ kinh tế, chính trị,
xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm trong mỗi thời kỳ. Đặc điểm này có thể nhìn ra
từ vai trò của Ngân sách và bản chất Ngân sách Nhà nước. Ngân sách Nhà nước
mang bản chất chính trị, duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, ổn định phát
triển kinh tế, đảm bảo xã hội ổn định, phát triển.
Hai là, tác dụng của các khoản chi Ngân sách bao giờ cũng được xem xét ở
tầm vĩ mô bởi vì thông thường, những khoản chi Ngân sách sẽ phát huy tác dụng
trong phạm vi nhất định. Việc chi tiêu Ngân sách Huyện phải phát huy được tác
dụng trong phạm vi Huyện.
Ba là, tính hiệu quả của các khoản chi được thể hiện toàn diện trên các mặt
kinh tế, chính trị, xã hội. Đặc điểm này là biểu hiện mối quan hệ giữa tài chính
với kinh tế, chính trị, xã hội.
1.2.3.2.2 Một số yêu cầu cần đạt được trong quá trình chi Ngân sách.
**) Chi đầu tư phát triển:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo
phân cấp của tỉnh, thành phố.
- Chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông quốc lập, các công trình phúc
lợi công cộng, điện chiếu sáng cấp thoát nước, giao thông nội thị, an toàn giao
thông vệ sinh đô thị.
21
- Chi bổ xung cho Ngân sách cấp dưới.
* Cấp phát kinh phí, các khoản chi của Ngân sách -Huyện
Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được giao và dự toán Ngân sách quý;
căn cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, Phòng Tài chính- Vật giá tiến hành
cấp phát kinh phí theo nguyên tắc cấp trực tiếp đến các đơn vị sử dụng Ngân
sách và thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người được hưởng
Các hình thức cấp phất kinh phí:
a) Cấp phát bằng hạn mức kinh phí
Đối tượng cấp phát theo hình thức hạn mức kinh phí là các khoản chi
thường xuyên của các đơn vị dự toán của NSNN , bao gồm :
- Các cơ quan hành chính Nhà nước
- Các đơn vị sự nghiệp hoạt động dưới hình thức thu đủ , chi đủ hoặc gán
thu - bù chi.
- Các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề
nghiệp thường xuyên được NSNN cấp kinh phí.
b) Cấp phát bằng hình thức lệnh chi tiền
Đối tượng cấp phát theo hình thức lệnh chi tiền là các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế - xã hội không có quan hệ thường xuyên với Ngân sách , các khoản
giao dịch của Chính Phủ với các tổ chức và cá nhân nước ngoài; các khoản bổ
sung từ Ngân sách cấp trên cho Ngân sách cấp dưới và một số khoản chi đặc
biệt khác theo quyết định của thủ trưởng cơ quan tài chính .
c) Chi cho vay của Ngân sách Huyện
Đối với các khoản chi bằng ngày công lao động: Căn cứ giá ngày công lao
động được duyệt, cơ quan tài chính làm lệnh ghi thu, ghi chi gửi Kho bạc Nhà
nước để hạch toán thu, chi Ngân sách
i) Cấp phát kinh phí uỷ quyền:
Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản
lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ thuộc chức năng của mình thì phải
chuyển kinh phí từ Ngân sách từ cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ
đó. Hình thức chuyển kinh phí chủ yếu bằng hạn mức kinh phí. Đối với các
khoản chi nhỏ, nội dung chi đã xác định rõ thì có thể chuyển kinh phí bằng hình
thức lệnh chi tiền.
k) Cấp phát cho các tổ chức chính trị-xã hội và tổ chức xã hội-nghề nghiệp:
- Đối với các tổ chức chính trị -xã hội:
+ Các tổ chức chính trị -xã hội được Ngân sách bảo đảm cân đối kinh phí
hoạt động theo quy định.
24
+ Sau khi được giao nhiệm vụ chi Ngân sách, từng tổ chức chính trị -xã hội
thực hiện phân bổ dự toán Ngân sách (Phần được ngân sách nhà nước cấp ) chi
tiết theo Mục lục NSNN hiện hành.
+ Cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí hàng quý cho các tổ chức
chính trị- xã hội theo quy trình cấp phát hạn mức kinh phí quy định, trừ các
trường hợp đặc biệt thủ trưởng cơ quan tài chính quyết định cấp phát bằng lệnh
chi tiền.
- Đối với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp thuộc đối tượng
được Nhà nước tài trợ kinh phí theo quy định:
+ Cấp phát theo hình thức hạn mức kinh phí như các tổ chức chính trị -xã
hội nếu là tài trợ thường xuyên.
+ Cấp phát theo hình thức lệnh chi tiền nếu được tài trợ đột xuất theo mục
tiêu cụ thể.
1.2.4 Sự cần thiết phải tăng cường ngân sách huyện trong điều kiện hiện
trong thời hạn quy định:
-Thu phí, lệ phí
-Thu thuế Hộ kinh doanh không cố định
-Các khoản thu ở địa bàn xã, nơi không có điểm thu của Kho bạc Nhà
nước.
*Hoàn trả các khoản thu Ngân sách Huyện .
Các trường hợp được trả thu Ngân sách là:
+Thu không đúng chính sách, chế độ.
+Trả lại đối tượng nộp theo chính sách của Nhà nước .
Việc hoàn trả các khoản thu Ngân sách được thực hiện theo các nguyên tắc
sau: