luận văn:Chủ động hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam - Pdf 12


1
 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Chủ động hội nhập kinh tế thế
giới của Việt Nam.”
2
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 8
PHẦN NỘI DUNG 9
I . SỰ CẦN THIẾT HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT 9
1. VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LÀ MỘT XU THẾ TẤT YẾU
CỦA SỰ PHÁT TRIỂN . 10
1.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ MỚI KHI VIỆT NAM TIẾN HÀNH HỘI NHẬP CÙNG THẾ
GIỚI 10
1.2 BỐI CẢNH KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY . 13

TẾ THẾ GIỚI . 30
2.1 VIỆT NAM CÓ SỰ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ , XÃ HỘI TƯƠNG ĐỐI
CAOTRONG VÙNG . 30
2.2VỊ TRÍ ĐỊA LÍ CHÍNH TRỊ VÀ ĐỊA LÍ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG
VÙNG ĐÔNG NAM Á . 31

4
2.3 QUY MÔ DÂN SỐ LỚN THỨ 2 TRONG VÙNG , LAO ĐỘNG TRẺ CHIẾM ĐA
SỐ , CÓ TRÌNH ĐỘ VĂN HOÁ , CÓ KHẢ NĂNG KHÁ KHI THAM GIA HỘI
NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI 31
2.4NÔNG NGHIỆP NHIỆT ĐỚI ĐƯỢC ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT
ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ CHIẾM VỊ THẾ CAO TRONG XUẤT
KHẨU NÔNG SẢN . 32
2.5 VIỆT NAM CÒN CÓ LỢI THẾ CỦA MỘT NƯỚC ĐI SAU . 32
VỚI NHỮNG LỢI THẾ ẤY VIỆT NAM ĐANG TỪNG BƯỚC BỨT PHÁ TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG
THÀNH TỰU NHẤT ĐỊNH ĐÁNG KHÍCH LỆ . NHỮNG THÀNH CÔNG BƯỚC
ĐẦU CỦA VIỆT NAM CÀNG KHẲNG ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LÀ ĐÚNG ĐẮN , LÀ ĐIỀU TẤT YẾU CỦA
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ . 33
3. KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU HỘI NHẬP VÀO NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI . 33
3.1 TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM . 33
3.2 THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN . 35
A/ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM –ASEAN NGÀY CÀNG ĐƯỢC MỞ RỘNG .
36
B/ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM –CHÂU ÂU NGÀY CÀNG THẮT
CHẶT 37
C/ QUAN HỆ VIỆT- MỸ NGÀY CÀNG ĐƯỢC CẢI THIỆN . 38

5

TRỌNG KHAI THÁC CÁC NGUỒN LỰC TRONG NƯỚC, SỬ DỤNG NGUỒN LỰC
NƯỚC NGOÀI, NHẰM HỖ TRỢ, BỔ SUNG, THÚC ĐẨY KHAI THÁC CÓ HIỆU
QUẢ NGUỒN LỰC TRONG NƯỚC 46
2.4 TIẾP TỤC ĐỔI MỚI ĐỂ NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ, HƯỚNG DẪN CỦA
NHÀ NƯỚC TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ 47
2.5 PHẢI XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO
DỤC, ĐÀO TẠO. 47
KẾT LUẬN 49

7
8
PHẦN MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hoá đang là một xu thế tất yếu của thơì
đại. Cho dù đâu đó trên trái đất này vẫn diễn ra những cuộc biểu tình chống
toàn cầu hoá, nhưng chúng ta không thể phủ nhận vai trò tích cực của nó trong
quá trình phát triển . Để tham gia vào quá trình toàn cầu hoá các nước phải tích
cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới . Trong quá trình này các nước có nền kinh
tế phát triển vững mạnh sẽ chiếm ưu thế hơn , nhưng đây cũng chính là con
đường nhanh nhất , thuận lợi nhất để đưa các nước kém phát triển từng bước bắt
kịp với nền kinh tế thế giới . Một đất nước muốn phát triển kinh tế , thoát khỏi

PHẦN NỘI DUNG
I
. Sự cần thiết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt

10

Nam

1.
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu của sự
phát triển .

1.1 Bối cảnh quốc tế mới khi Việt Nam tiến hành hội nhập cùng thế giới
Tiến vào thế kỷ XXI Việt Nam đang thực hiện đường lối kinh tế và chiến
lược phát triển mà đại hội Đảng lần IX đã chỉ rõ : “ Đẩy mạnh công nghiệp hoá ,
hiện đại hoá đất nước , xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa đất nước ta trở
thành một nước công nghiệp ” ; “ Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực , nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế ,

thế giới bước sang một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức . Do tác động của
cách mạng KH-CN ,của sự phân công lao động quốc tế , do vai trò và tầm hoạt
động mới của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia , quá trình quốc tế hoá
nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiêù sâu
trên hai cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá , đưa đến sự chuyển biến nhanh
chóng của thể chế kinh tế thế giới , đưa nền kinh tế thế giới bước vào cạnh tranh
toàn cầu đẩy mạnh việc tìm kiếm sự hợp tác trong cạnh tranh . Tình hình đó đòi
hỏi một sự hợp tác ngày càng sâu rộng , từ đó tạo nên thế phụ thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia dù lớn hay nhỏ , dù phát triển hay không phát triển . Rõ ràng
trong khung cảnh quốc tế hiện nay khi mỗi quốc gia đều tập trung mọi nỗ lực của
mình vào xây dựng kinh tế phát triển đất nước thì hợp tác kinh tế để phát triển đã
trở thành một yêu cầu khách quan không thể thiếu .Trong lịch sử phát triển của
xã hội có lẽ chưa bao giờ lại có một sự hợp tác để phát triển rộng rãi , đan xen và
nhiều tầng cấp như hiện nay . Nền kinh tế ngày càng phát triển hơn thì những
quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới cũng ngày càng phát triển hơn tạo
nên một xu thế nổi bật trong quan hệ quốc như trong nghị quyết đaị hội VIII đã
nhận định :
<<
Các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế , coi phát triển kinh tế
có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia .
Các quốc gia lớn ,nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết
khu vực , liên kết quốc tế về kinh tế , thương mại
>>
.
Những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng và
mạnh mẽ của quá trình liên kết khu vực , liên kết toàn cầu về kinh tế . Đó là sự ra
đời của các tổ chức hợp tác kinh tế như ASEAN và khu vực mậu dịch tự do
AFTA , khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA , liên minh Châu Âu EU , tổ
chức hợp tác kinh tế Châu á Thái Bình Dương , hội nghị á-Âu ASEM Các tổ


13

tăng thêm khoảng cách giàu nghèo .Vì thế trên thế giới vẫn diễn ra những cuộc
biểu tình chống toàn cầu hoá của những nước nghèo . Nhưng với thể chế hợp tác
đa phương giữa các nước thành viên , các nước kém phát triển có khả năng đấu
tranh để tạo lập những luật chơi công bằng bình đẳng để bảo vệ lợi ích của mình
, đồng thời tranh thủ những ưu đãi hợp lí cho mình phát triển nhằm tạo điều kiện
thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo giữa các nước phát triển và chậm phát triển
chứ không bị động theo sau .
Trong tình hình quốc tế nói trên , bất cứ một nước nào muốn không bị gạt ra
ngoài lề của dòng chảy phát triển đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung ,
điều chỉnh chính sách giảm dần hàng rào thuế quan , làm cho việc trao đổi hàng
hoá , luân chuyển vốn , lao động , công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi thế giới
ngày càng thoáng hơn . Việt Nam không phải là một ngoại lệ , vấn đề là phải
chọn tiến trình hội nhập sao cho phù hợp với hoàn cảnh và quá trình phát triển
cuả từng nước .
1.2 Bối cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay .
Đứng trước sự phát triển vượt bậc của thế giới về kinh tế và KH-CN Việt Nam
vẫn là một trong những nước được xếp vào loại nghèo nhất thế giới . GDP bình
quân đầu người còn thấp , chưa thoát khỏi ranh giới nghèo khổ , máy móc thiết
bị công nghệ thuộc tất cả các ngành , các lĩnh vực trong nền kinh tế trong nền
kinh tế nước ta còn thấp hơn mức trung bình thế giới từ 1 đến 3 thế hệ công nghệ
, do đó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm , giá thành và khả năng cạnh tranh
trên thị trường . Trong khi đó xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế đang phát huy
những vai trò tích cực của nó , mở ra những cơ hội cho những nứơc kém phát
triển và đang phát triển như Việt Nam . Để có thể đưa đất nước phát triển lên
thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu , thì chỉ có con đường duy nhất là tham
gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài phát
huy nội lực phát triển đất nước . Thực tế đã chứng minh không thể có một nước


lập , chủ quyền bình đẳng và cùng có lợi .
>>

15

Đại hội VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục cụ thể hoá các luận điểm nêu trên .
Gần đây đại hội IX lại nhấn mạnh rằng:
<<
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực , nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế

bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN , bảo vệ lợi ích dân tộc , an
ninh quốc gia , giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc , bảo vệ môi trường
>>
Đã xác định được hội nhập nền kinh tế thế giới là một yêu cầu khách quan,
nhưng Đảng cũng khẳng định là phải xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự
chủ và chủ động hội nhập . Chúng ta nhất quán chủ trương đa phương hoá , đa
dạng hoá , tranh thủ hội nhập kinh tế quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của nước ta ,
giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế . Bởi có một bất lợi rất lớn trong quá trình hội
nhập toàn cầu hoá đó là toàn cầu hoá tạo ra nguy cơ làm mất đi độc lập tự chủ
của một quốc gia dẫn đến sự phụ thuộc về chính trị . Vì thế độc lập tự chủ kinh
tế là nền tảng đảm bảo sự bền vững của độc lập tự chủ về chính trị . Độc lập tự
chủ thực chất là mỗi nước tự lựa chọn con đường và mô hình phát triển của mình
, tự quyết định các chủ trương , chính sách kinh tế xã hội , tự đề ra mục tiêu
chiến lược và kế hoạch cho từng thời kỳ và các biện pháp thực hiện mục tiêu đó .
Độc lập tự chủ hoàn toàn không có nghĩa là đóng cửa với thế giới .Quan niệm
độc lập tự chủ theo kiểu tự cấp tự túc , xây dựng cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh ,
hướng nội đã đựơc kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới , cũng như kinh
nghiệm của bản thân chúng ta chứng minh là không phù hợp với xu thế chung

Những năm trước đây thương mại của Việt Nam chủ yếu giao dịch với Liên
Xô và các nước XHCN Đông Âu . Từ sau 1990 thương mại đã chuyển hướng
mạnh sang thị trường khu vực Đông Nam á và Đông Bắc á . Khi cuộc khủng
hoảng tài khu vực bùng nổ lượng cầu của khu vực bị giảm sút , chúng ta đã chủ
động mở cửa ra thị trường mới , nhất là thị trường EU và Bắc Mỹ . Sản phẩm
của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã có chất lượng cao nên tỉ trọng xuất
khẩu rất cao góp phần nâng cao năng suất xuất khẩu của nền kinh tế . Hội nhập
kinh tế đã tạo nên những mỗi quan hệ kinh tế chính trị chằng chịt đan xen phụ
thuộc lẫn nhau góp phần nâng cao vị thế quốc tế và tạo điều kiện để Việt Nam
tham gia bình đẳng trong các giao lưu và quan hệ kinh tế quốc tế . Đặc biệt tham
gia hội nhập khu vực và quốc tế cho phép tạo dựng , củng cố và sử dụng tốt

17

những cơ sở pháp lí cần thiết như : chế độ tối huệ quốc (MFN) , đối xử quốc gia
(NT) và cơ chế giải quyết tranh chấp để đấu tranh chống bị phân biệt đối xử ,
bảo vệ quyềnvà lợi ích của mình trong các quan hệ kinh tế đối ngoại . Tham gia
hội nhập kinh tế ta còn tranh thủ và khai thác những quy chế , điều kiện ưu đãi
mà phần lớn các thể chế quốc tế dành cho các nước chậm phát triển và đang phát
triển để bảo đảm hội nhập có hiệu quả vừa bảo hộ hợp lí và phát triển vững chắc
các ngành sản xuất của Việt nam .
2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tạo
điều kiện kinh tế phát triển nhanh .
Hội nhập kinh tế thế giới Việt Nam có cơ hội mở rộng thu hút các nguồn vốn
nước ngoài tăng thêm nguồn lực cho phát triển , nhất là khi tích luỹ nội bộ còn
thấp và phần thực huy động vào tích luỹ chỉ dưới 20% GDP , chỉ tương ứng tốc
độ tăng trưởng 4-5% của khu vực nông thôn . Muốn tăng trưởng nhanh cần bổ
xung thêm vốn từ nước ngoài dưới nhiều hình thức
ODA, FDI và các khoản huy động vốn gián tiếp và vay nợ . Tham gia hội nhập
kinh tế quốc tế là cơ hội để thị trường nước ta được mở rộng điều này sẽ hấp dẫn

như cá biển đã được chuyển giao công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm nên
có điều kiện xuất sang các thị trường khó tính như Mỹ và Tây Âu .
2.4 Hội nhập kinh tế là điều kiện thuận lợi để tiến hành đào tạo và nâng cao
chất lượng quản lí .
Với số dân trên 80 triệu người , nguồn nhân lực của ta khá dồi dào. Nhưng
nếu không hội nhập quốc tế thì việc sử dụng trong nước sẽ bị lãng phí kém hiệu
quả . Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội để nguồn nhân lực của nước ta khai
thông giao lưu với các nước . Ta có thể thông qua hội nhập để xuất khẩu lao
động thông qua các hợp đồng gia công chế biến hàng xuất khẩu . Đồng thời tạo

19

điều kiện nhập khẩu lao động kỹ thuật cao ,các công nghệ mới , các phát minh ,
sáng chế mà ta chưa có . Thông qua các dự án ODA sẽ góp phần quan trọng
trong đào tạo nguồn nhân lực . Mặt khác , yêu cầu cao của các dự án FDI sẽ thúc
đẩy học hỏi , tự rèn luyện của người lao động để nâng cao trình độ tay nghề và
cũng nâng cao chất lượng cán bộ quản lí .
Những cơ hội mà Việt Nam sẽ nhận được thông qua hội nhập càng khẳng
định đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay đây là con đường đúng đắn để phát
triển đất nước .Tuy nhiên bên cạnh những cơ hội , trên con đường hội nhập và
phát triển cũng có không ít những khó khăn thách thức sẽ đến với chúng ta .
Chúng ta phải xác định rõ được những khó khăn thách thức đó để giữ vững thế
chủ động trong tiến trình hội nhập .

II . Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1. Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập
1.1 Hiện trạng nền kinh tế Việt Nam

chọn những công nghệ tiên tiến của thế giới đặc biệt trong các ngành bưu chính
viễn thông và tử nhưng vẫn còn rất nhiều ngành có thiết bị công nghệ lạc hậu
từ 2- 5 thế hệ so với các doanh nghiệp cùng ngành trong nước , trong khu vực và
trên thế giới . Nhiều công nghệ lạc hậu 40-50 năm nhưng vẫn chưa được thay thế
.Công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất chất lưọng của sản phẩm , giúp
các doanh ngiệp có thể cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường . Tuy nhiên do nguồn
vốn bị hạn chế không cho phép các doanh nghiệp tự mình đổi mới cũng như áp
dụng những trang thiết bị công nghệ kỹ thuật tiên tiến . Vì thế trong quá trình
chuyển giao công nghệ nhập các máy móc thiết bị vào trong nước xảy ra tình
trạng các doanh nghiệp thường nhập các máy móc thiết bị đã quá lạc hậu có khi
đến gần 100 năm . Thế nên sau khi sử dụng một thời gian ngắn đã giảm năng
xuất , gây ô nhiễm môi trường , giảm năng lực sản xuất , lại gây cản trở cho sự

21

phát triển . Đây là một thách thức to lớn đối với nền kinh tế Việt Nam vì trong
quá trình hội nhập kinh tế Việt nam sẽ dần cắt giảm và xoá bỏ nhũng biện pháp
bảo hộ sản xuất dưới các hình thức thuế quan và phi thuế quan , kinh tế và phi
kinh tế , hàng hoá nước ngoài sẽ dễ dàng lưu thông trên thị trường Việt Nam .
Nếu Việt nam không nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ , đổi mới cơ chế
quản lí , nâng cao chất lượng hàng hoá , hạ giá thành sản phẩm thì có hàng loạt
các doanh nghiệp sẽ phá sản gây nên hậu quả nguy hại về kinh tế và xã hội .
b/ Nước ta có nguồn lực lao đông dội dào nhưng chất lượng lao động kém
thiếu công nhân lành nghề .
Nước ta được xếp vào hàng các quốc gia có trình độ học vấn cao nhưng
do xuất phát điểm là nước nông nghiệp lạc hậu , tiếp theo đó là những năm dài
nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ quan liêu bao
cấp , nên đã để lại hậu quả nặng nề về đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế cũng như
đội ngũ người lao động . Chúng ta thường nói nhiều đến nặng xuất lao động xã
hội , đến hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp . Tất cả những

ngành công nghiệp mới có 26% các doanh nghiệp chiếm lĩnh được thị trường
tron g nước . 58,5% số doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường nhưng chưa vững
chắc còn 14,3% số doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng cạnh tranh ngay
trên thị trường trong nước . So với hàng nhập khẩu hàng hoá của ta thua kém cả
về chất lượng và giá cả mà biểu hiện rõ nhất là ở giá cả . Ví dụ đường RS của ta
giá xuất xưởng là 340-400 $ / tấn nhưng giá nhập khẩu chỉ có 260-300$/ tấn .
Như vậy giá nhập còn rẻ hơn giá xuất xưởng của ta 20-30% . Giá sắt thép trong
nước sản xuất bình quân 300$/ tấn nhưng nhập khẩu chỉ có 285$/ tấn , giá xi
măng của Việt Nam 840 nghìn đồng /tấn trong khi nhập của Thái Lan chỉ có 630
nghìn . Hay thể hiện rõ nhất là trong vòng hai năm trở lại đây hàng xe máy
Trung Quốc đã làm rối loạn cả thị trường Việt Nam với một ưu điểm mà xe máy
sản xuất trong nước chưa làm được đó là giá cả rất rẻ hợp với túi tiền của người

23

lao động . Qua những ví dụ nhỏ trên càng chứng tỏ để hàng hoá của ta có thể
đứng vững trên thị trường thì nhất thiết phải đổi mới công nghệ nâng cao chất
lượng và giảm giá thành của sản phẩm . Đó là một thách thức to lớn đối với các
doanh nghiệp Việt Nam .
Trong khi đó hiện nay nước ta mới chỉ có 23,8% số doanh nghiệp đã có
hàng xuất khẩu , 13,7% có triển vọng xuất khẩu , còn lại 62,5% số doanh nghiệp
hoàn toàn không có khả năng xuất khẩu . Tuy nhiên đến nay hàng xuất khẩu của
Việt Nam chủ yếu là sản phẩm thô chưa được chế biến hoặc chỉ được sơ chế .Ví
dụ dầu thô chiếm 17,5% kim ngạch xuất khẩu (KNXK) , gạo chiếm 9% KNXK ,
cà phê chiếm 5% , hải sản chiếm 8,5% KNXK Còn các sản phẩm công nghiệp
chế biến nhất là các sản phẩm chất lượng cao còn ít , sức cạnh tranh yếu . Trong
khi đó các giá cả các mặt hàng nguyên vật liệu và sơ chế lại bấp bênh , hay bị tác
động xấu bất lợi cho các nước xuất khẩu . Ta có thể thấy rõ điều này qua sự sụt
giảm giá hàng loạt các sản phẩm nông sản như cà phê , tiêu xuất khẩu trên thế
giới . Giá cà phê đã xuống đến mức thấp nhất trong tháng 11,12 năm 2001 vừa

điều hành xuất nhập khẩu còn yếu kém nên thị trường khoảng 50% sản phẩm của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không xuất khẩu mà cung ứng trên
thị trường nội địa , và đây là việclàm đã gây nhiều khó khăn cho các doanh
nghiệp trong nước trong việc tiêu thụ sản phẩm . Điều này dẫn đến vốn đầu tư
chưa thực sự góp phần tăng thêm tiềm lực xuất khẩu cũng như làm tăng khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và chưa đẩy nhanh được khả năng
thâm nhập thị trường thế giới của hàng Việt Nam , gây lãng phí trong việc sử
dụng nguồn vốn này .
Trong luật thuế có quy định áp dụng giá tính thuế tối thiểu với 15 nhóm
mặt hàng do nhà nước quản lí . Việc áp dụng này chưa phù hợp với quy định
quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ phải cam kết thực hiện khi gia nhập AFTA và
WTO cũng như trong hiệp định thương mại Việt – Mỹ . Đó là quy định của hoạt

25

động xác định giá hải quan theo GATT . Luật thuế xuất nhập khẩu cũng quy
định một số loại hàng hoá chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh quốc
phòng , nghiên cứu khoa học , giáo dục được xét miễn giảm thuế nhập khẩu .
Tuy nhiên trên thực tế rất khó xác định rạch ròi các loại hàng hoá này vì thế vừa
làm cho thủ tục xét miễn giảm thuế phức tạp nhưng vẫn không bảo đảm được sự
chính xác , chặt chẽ dẫn tới lợi dụng trốn thuế . Trong tổ chức thực hiện luật
thuế xuất khẩu , nhập khẩu cũng có nhiều bất cập như việc tính thuế đôi lúc còn
tuỳ tiện ở các cửa khẩu biên giới , công tác quản lí nhiều khi còn buông lỏng
cộng với tình trạng đánh thuế quá cao một số mặt hàng nhập khẩu dẫn đến tình
trạng nhập lậu gia tăng , hàng lậu lấn át hàng ngoại làm cho sản xuất trong nước
không thể cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài gây thiệt hại nhiều cho các doanh
nghiệp .
Những năm đổi mới vừa qua nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc hoàn
thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu . Điều đó đã góp phần tích cực thúc đẩy
xuất nhập khẩu , điều tiết tiêu dùng . Tuy vậy thuế xuất nhập khẩu hiện hành còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status