Phần mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hoá đang là một xu thế tất yếu của thơì
đại. Cho dù đâu đó trên trái đất này vẫn diễn ra những cuộc biểu tình chống
toàn cầu hoá, nhng chúng ta không thể phủ nhận vai trò tích cực của nó trong
quá trình phát triển . Để tham gia vào quá trình toàn cầu hoá các nớc phải tích
cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới . Trong quá trình này các nớc có nền
kinh tế phát triển vững mạnh sẽ chiếm u thế hơn , nhng đây cũng chính là con
đờng nhanh nhất , thuận lợi nhất để đa các nớc kém phát triển từng bớc bắt kịp
với nền kinh tế thế giới . Một đất nớc muốn phát triển kinh tế , thoát khỏi tình
trạng đói nghèo , tụt hậu so với thế giới thì không còn con đờng nào khác là
phải chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới .
ở Việt Nam từ những bài học qua những thành công cũng nh những
thất bại của những nớc xã hội chủ nghĩa đi trớc và của chính mình , Đảng và
nhà nớc ta cũng đã sáng suốt lựa chọn con đờng mở cửa hội nhập cùng thế giới
, hợp tác và cùng phát triển . Chúng ta đang dần từng bớc hội nhập vào nền
kinh tế thế giới để nhằm đa đất nớc thoát khỏi sự đói nghèo và tụt hậu với thế
giới , nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trờng quốc tế . Trong giai đoạn
hiện nay , vấn đề hội nhập nền kinh tế thế giới là một vấn đề mang tính chiến
lợc luôn đợc bàn đến trong các hội nghị , diễn đàn , luôn đợc sách báo , phơng
tiện thông tin đại chúng nhắc tới.Vấn đề đó thực sự không chỉ là mối quan tâm
chung của các nhà quản lí , riêng cấp ,ban,ngành, lĩnh vực nào mà là mối quan
tâm chung của tất cả mọi ngời.
Chủ động hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam thực sự là một
đề tài lớn có ý nghĩa rất quan trọng. Với phạm vi một đề án và những hạn chế
trong năng lực của em thực sự không thể nói hết đợc một vấn đề rộng lớn nh
vậy và chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót. Em rất mong thầy sẽ đóng góp ý kiến
giúp em bổ sung những thiếu sót đó để đề tài phong phú hơn.
Em xin trân thành cảm ơn thầy !
Sinh viên
Nguyễn An Thuỷ.
trng
>>
có quy mô lớn hơn
<<
nền kinh tế thực
>>
nhiều lần . Cơ cấu lao động theo
các ngành nghề có sự thay đổi sâu sắc xuất hiện nhiều nghề mới , những nghề
với sự đan kết của nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ (KH- CN). Đồng thời đa
thế giới bớc sang một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức . Do tác động của
cách mạng KH-CN ,của sự phân công lao động quốc tế , do vai trò và tầm hoạt
động mới của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia , quá trình quốc tế
hoá nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và
chiêù sâu trên hai cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá , đa đến sự chuyển biến
nhanh chóng của thể chế kinh tế thế giới , đa nền kinh tế thế giới bớc vào cạnh
tranh toàn cầu đẩy mạnh việc tìm kiếm sự hợp tác trong cạnh tranh . Tình hình
đó đòi hỏi một sự hợp tác ngày càng sâu rộng , từ đó tạo nên thế phụ thuộc lẫn
nhau giữa các quốc gia dù lớn hay nhỏ , dù phát triển hay không phát triển .
Rõ ràng trong khung cảnh quốc tế hiện nay khi mỗi quốc gia đều tập trung
mọi nỗ lực của mình vào xây dựng kinh tế phát triển đất nớc thì hợp tác kinh
tế để phát triển đã trở thành một yêu cầu khách quan không thể thiếu .Trong
lịch sử phát triển của xã hội có lẽ cha bao giờ lại có một sự hợp tác để phát
triển rộng rãi , đan xen và nhiều tầng cấp nh hiện nay . Nền kinh tế ngày càng
phát triển hơn thì những quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới cũng
ngày càng phát triển hơn tạo nên một xu thế nổi bật trong quan hệ quốc nh
trong nghị quyết đaị hội VIII đã nhận định :
<<
Các nớc dành u tiên cho phát
triển kinh tế , coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng c-
ờng sức mạnh tổng hợp của quốc gia . Các quốc gia lớn ,nhỏ tham gia ngày
cầu ; cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan đã lan khắp ASEAN năm
1997 ...Trong quá trình này , những nớc có nền kinh tế mạnh thờng thu đợc lợi
nhiều hơn còn những nớc yếu dễ bị thua thiệt , bởi toàn cầu hoá mở rộng thị tr-
ờng diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt , song là cuộc chạy đua không cân sức .
Những nớc có tiềm lực lớn , có điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh quốc tế sẽ
tìm cách khai thác quá trình toàn cầu hoá và cài đặt lợi ích của họ dờng nh
tăng thêm khoảng cách giàu nghèo .Vì thế trên thế giới vẫn diễn ra những
cuộc biểu tình chống toàn cầu hoá của những nớc nghèo . Nhng với thể chế
hợp tác đa phơng giữa các nớc thành viên , các nớc kém phát triển có khả
năng đấu tranh để tạo lập những luật chơi công bằng bình đẳng để bảo vệ lợi
ích của mình , đồng thời tranh thủ những u đãi hợp lí cho mình phát triển
nhằm tạo điều kiện thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo giữa các nớc phát
triển và chậm phát triển chứ không bị động theo sau .
Trong tình hình quốc tế nói trên , bất cứ một nớc nào muốn không bị gạt ra
ngoài lề của dòng chảy phát triển đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung ,
điều chỉnh chính sách giảm dần hàng rào thuế quan , làm cho việc trao đổi
hàng hoá , luân chuyển vốn , lao động , công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi thế
giới ngày càng thoáng hơn . Việt Nam không phải là một ngoại lệ , vấn đề là
phải chọn tiến trình hội nhập sao cho phù hợp với hoàn cảnh và quá trình phát
triển cuả từng nớc .
1.2 Bối cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay .
Đứng trớc sự phát triển vợt bậc của thế giới về kinh tế và KH-CN Việt Nam
vẫn là một trong những nớc đợc xếp vào loại nghèo nhất thế giới . GDP bình
quân đầu ngời còn thấp , cha thoát khỏi ranh giới nghèo khổ , máy móc thiết
bị công nghệ thuộc tất cả các ngành , các lĩnh vực trong nền kinh tế trong nền
kinh tế nớc ta còn thấp hơn mức trung bình thế giới từ 1 đến 3 thế hệ công
nghệ , do đó ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm , giá thành và khả năng cạnh
tranh trên thị trờng . Trong khi đó xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế đang phát
huy những vai trò tích cực của nó , mở ra những cơ hội cho những nứơc kém
phát triển và đang phát triển nh Việt Nam . Để có thể đa đất nớc phát triển lên
kinh tế với tất cả các quốc gia , tất cả các tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn
trọng độc lập , chủ quyền bình đẳng và cùng có lợi .
>>
Đại hội VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục cụ thể hoá các luận điểm nêu
trên . Gần đây đại hội IX lại nhấn mạnh rằng:
<<
Chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực , nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế
bảo đảm độc lập tự chủ và định hớng XHCN , bảo vệ lợi ích
dân tộc , an ninh quốc gia , giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc , bảo vệ môi trờng
...
>>
Đã xác định đợc hội nhập nền kinh tế thế giới là một yêu cầu khách quan,
nhng Đảng cũng khẳng định là phải xây dựng đợc một nền kinh tế độc lập tự
chủ và chủ động hội nhập . Chúng ta nhất quán chủ trơng đa phơng hoá , đa
dạng hoá , tranh thủ hội nhập kinh tế quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của nớc ta ,
giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế . Bởi có một bất lợi rất lớn trong quá trình
hội nhập toàn cầu hoá đó là toàn cầu hoá tạo ra nguy cơ làm mất đi độc lập tự
chủ của một quốc gia dẫn đến sự phụ thuộc về chính trị . Vì thế độc lập tự chủ
kinh tế là nền tảng đảm bảo sự bền vững của độc lập tự chủ về chính trị . Độc
lập tự chủ thực chất là mỗi nớc tự lựa chọn con đờng và mô hình phát triển của
mình , tự quyết định các chủ trơng , chính sách kinh tế xã hội , tự đề ra mục
tiêu chiến lợc và kế hoạch cho từng thời kỳ và các biện pháp thực hiện mục
tiêu đó . Độc lập tự chủ hoàn toàn không có nghĩa là đóng cửa với thế giới
.Quan niệm độc lập tự chủ theo kiểu tự cấp tự túc , xây dựng cơ cấu kinh tế
hoàn chỉnh , hớng nội đã đựơc kinh nghiệm của nhiều nớc trên thế giới , cũng
nh kinh nghiệm của bản thân chúng ta chứng minh là không phù hợp với xu
thế chung của thời đại và không có hiệu quả , đẩy đất nớc vào tình trạng chậm
động mở cửa ra thị trờng mới , nhất là thị trờng EU và Bắc Mỹ . Sản phẩm của
khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đã có chất lợng cao nên tỉ trọng xuất khẩu rất
cao góp phần nâng cao năng suất xuất khẩu của nền kinh tế . Hội nhập kinh tế
đã tạo nên những mỗi quan hệ kinh tế chính trị chằng chịt đan xen phụ thuộc
lẫn nhau góp phần nâng cao vị thế quốc tế và tạo điều kiện để Việt Nam tham
gia bình đẳng trong các giao lu và quan hệ kinh tế quốc tế . Đặc biệt tham gia
hội nhập khu vực và quốc tế cho phép tạo dựng , củng cố và sử dụng tốt những
cơ sở pháp lí cần thiết nh : chế độ tối huệ quốc (MFN) , đối xử quốc gia (NT)
và cơ chế giải quyết tranh chấp để đấu tranh chống bị phân biệt đối xử , bảo vệ
quyềnvà lợi ích của mình trong các quan hệ kinh tế đối ngoại . Tham gia hội
nhập kinh tế ta còn tranh thủ và khai thác những quy chế , điều kiện u đãi mà
phần lớn các thể chế quốc tế dành cho các nớc chậm phát triển và đang phát
triển để bảo đảm hội nhập có hiệu quả vừa bảo hộ hợp lí và phát triển vững
chắc các ngành sản xuất của Việt nam .
2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng đầu t nớc ngoài vào Việt Nam tạo
điều kiện kinh tế phát triển nhanh .
Hội nhập kinh tế thế giới Việt Nam có cơ hội mở rộng thu hút các nguồn
vốn nớc ngoài tăng thêm nguồn lực cho phát triển , nhất là khi tích luỹ nội bộ
còn thấp và phần thực huy động vào tích luỹ chỉ dới 20% GDP , chỉ tơng ứng
tốc độ tăng trởng 4-5% của khu vực nông thôn . Muốn tăng trởng nhanh cần
bổ xung thêm vốn từ nớc ngoài dới nhiều hình thức
ODA, FDI và các khoản huy động vốn gián tiếp và vay nợ . Tham gia hội nhập
kinh tế quốc tế là cơ hội để thị trờng nớc ta đợc mở rộng điều này sẽ hấp dẫn
các nhà đầu t . Họ sẽ mang vốn công nghệ vào nớc ta , sử dụng lao động và tài
nguyên vốn có của nớc ta , làm ra các sản phẩm trên thị trờng khu vực và thế
giới với các u đãi mà nớc ta có . Đây cũng là cơ hội thúc đẩy các doanh nghiệp
trong và ngoài nớc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả hơn . Tham gia hội
nhập kinh tế quốc tế là một nhân tố quan trọng buộc các doanh nghiệp Việt
Nam chấn chỉnh tổ chức quản lí sản xuất , đổi mới công nghệ nắm bắt thị tr-
ờng , tăng cờng khả năng cạnh tranh của hàng hoá để đứng vững trong cuộc
động thông qua các hợp đồng gia công chế biến hàng xuất khẩu . Đồng thời
tạo điều kiện nhập khẩu lao động kỹ thuật cao ,các công nghệ mới , các phát
minh , sáng chế mà ta cha có . Thông qua các dự án ODA sẽ góp phần quan
trọng trong đào tạo nguồn nhân lực . Mặt khác , yêu cầu cao của các dự án
FDI sẽ thúc đẩy học hỏi , tự rèn luyện của ngời lao động để nâng cao trình độ
tay nghề và cũng nâng cao chất lợng cán bộ quản lí .
Những cơ hội mà Việt Nam sẽ nhận đợc thông qua hội nhập càng khẳng
định đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay đây là con đờng đúng đắn để phát
triển đất nớc .Tuy nhiên bên cạnh những cơ hội , trên con đờng hội nhập và
phát triển cũng có không ít những khó khăn thách thức sẽ đến với chúng ta .
Chúng ta phải xác định rõ đợc những khó khăn thách thức đó để giữ vững thế
chủ động trong tiến trình hội nhập .
II . Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1. Những thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập
1.1 Hiện trạng nền kinh tế Việt Nam
a/ Thách thức to lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt khi bớc vào hội nhập
kinh tế thế giới là hiện trạng yếu kém của nền kinh tế . Nền kinh tế Việt Nam
còn nghèo nàn lạc hậu , còn tụt hậu khá xa so với thế giới nhất là về thu nhập
bình quân đầu ngời và trình độ công nghệ .
Trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài khốc liệt và cơ chế quản lí kinh
tế tập trung bao cấp , Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế với
một xuất phát điểm thấp . GDP bình quân đầu ngời còn thấp , cha thoát khỏi
ranh giới nghèo đói . Năm 2001 thu nhập bình quân đầu ngời ~400 $ bằng chỉ
tiêu các nớc nghèo nhất thế giới do liên hợp quốc đặt ra .
So với nhiều nớc trong tổ chức kinh tế mà ta đã và sẽ tham gia thì thu nhập
bình quân đầu ngời của Việt Nam cha bằng 1/3 của Inđo và Philipin , bằng 1/9
của Thái lan , bằng 1/15 của Malayxia , cha bằng 1/100 của Singapo . Mặt
khác tỉ lệ tiết kiệm trong nền kinh tế thấp , tích luỹ và đầu t cha cao mà còn ở
cả cơ cấu ngành của nền kinh tế , trình độ phát triển lực lợng sản xuất , công
nghệ sản xuất còn thấp so với các nớc trong khu vực và trên thế giới .
mới cơ chế quản lí , nâng cao chất lợng hàng hoá , hạ giá thành sản phẩm thì
có hàng loạt các doanh nghiệp sẽ phá sản gây nên hậu quả nguy hại về kinh tế
và xã hội .
b/ Nớc ta có nguồn lực lao đông dội dào nhng chất lợng lao động kém thiếu
công nhân lành nghề .
Nớc ta đợc xếp vào hàng các quốc gia có trình độ học vấn cao nhng do
xuất phát điểm là nớc nông nghiệp lạc hậu , tiếp theo đó là những năm dài nền
kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ quan liêu bao cấp ,
nên đã để lại hậu quả nặng nề về đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế cũng nh đội
ngũ ngời lao động . Chúng ta thờng nói nhiều đến nặng xuất lao động xã hội ,
đến hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp . Tất cả những
điều đó đều có nguyên nhân chung là thiếu những nhà quản lí giỏi , những
doanh nhân có tài , những ngời lao động tinh thông công việc .
Dân số nớc ta trên 80 triệu ngời trong đó có trên 50 triệu ngời lao động từ
15 tuổi trở nên nhng tỷ lệ qua đào tạo nghề nghiệp và chuyên môn kỹ thuật rất
thấp . Theo kết quả điều tra dân số 1/4/1999 thì tại thời điểm điều tra chỉ có
7,6% dân số từ 13 tuổi trở lên có bằng cấp về một trình độ chuyên môn kỹ
thuật nào đó , tức là đã qua trờng lớp đào tạo . Trong đó 2,3% là công nhân kỹ
thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng cấp , 2,8% có trình độ trung học chuyên
nghiệp , 0,7% cao đẳng , 1,7% đại học và 0,1% có trình độ sau đại học . Đây
là một tỷ lệ quá thâp , trong khi những ngời không có bằng cấp chuyên môn
kỹ thuật lại chiếm đến 92,4% . Cơ cấu đào tạo bất hợp lí nên tình trạng nhiều
thầy, thiếu thợ trong nền kinh tế có xu hớng ngày càng trầm trọng . Sinh viên
ra trờng không có việc làm , nhng các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp