Hàm lợng lipid và các acid béo trong sữa của
phụ nữ cho con bú ở một số x vùng đồng bằng
sông hồng - Việt Nam
Nguyễn Xuân Ninh
Khoa Vi chất dinh dỡng-Viện Dinh dỡng
Hàm lợng lipid và 38 acid béo trong sữa của 194 bà mẹ cho con bú ở một số xã nông
thôn, vùng đồng bằng sông Hồng-Việt Nam đợc xác định bằng phơng pháp sắc ký khí,
những kết quả đa ra có thể sử dụng nh một bộ số liệu quy chiếu về thành phần sữa mẹ
mà Bảng thành phần dinh dỡng thực phẩm Việt Nam hiện nay cha có, nhằm ứng dụng
tính toán khẩu phần của trẻ em Việt Nam. Kết quả cũng cho thấy thành phần lipid của sữa
mẹ, đặc biệt là các acid béo trong sữa dao động khác nhau giữa các vùng, giữa các cá thể,
có thể liên quan tới số lợng và chất lợng lipid của khẩu phần. Một số acid béo cha no
cần thiết (C18:1 acid oleic; C18:2 acid linoleic; C18:3 acid linolenic) có một hàm lợng khá
cao trong sữa mẹ Việt Nam.
I. Đặt vấn đề
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ trong
những tháng đầu sau khi sinh, sữa mẹ cung
cấp đủ các chất dinh dỡng, với tỷ lệ cân
đối, sữa mẹ còn đảm bảo vệ sinh, có chứa
một lợng kháng thể giúp cho trẻ chống
đợc một số bệnh nhiễm trùng. Một số
công trình nghiên cứu gần đây cho thấy
những trẻ đợc bú sữa mẹ đầy đủ sẽ ít bị
mắc các bệnh mãn tính và rối loạn chuyển
hoá khi trởng thành. Chính vì vậy Tổ chức
Y tế thế giới và UNICEF đã khuyến nghị
cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu
tháng đầu [1].
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy
nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định hàm
lợng lipid, thành phần các acid béo trong
sữa của bà mẹ cho con bú ở vùng Đồng
bằng sông Hồng, làm số liệu qui chiếu cho
thành phần dinh dỡng thực phẩm Việt
Nam.
69
II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
Phụ nữ cho con bú trong năm đầu tiên,
thuộc 8 xã đồng bằng sông Hồng
Tiêu chuẩn lựa chọn: đẻ thờng, đang
cho con bú, không bị mắc các bệnh nhiễm
trùng cấp tính, chấp nhận cho lấy mẫu sữa
và hỏi phiếu.
Mẫu nghiên cứu đợc ớc tính theo tỷ lệ
thiếu VA tiền lâm sàng ở bà mẹ cho con bú
(50% có VA trong sữa thấp, với = 0,05;
= 0,1). Cỡ mẫu đợc tính là 190, nếu dự
tính mỗi xã có khoảng 25-30 bà mẹ đang
cho con bú trong năm đầu tiên, 8 xã với số
dân trung bình 6-8 nghìn dân đã đợc chọn.
Dựa theo danh sách và sổ theo dõi tiêm
phòng, xác định các bà mẹ có con trong
năm đầu tiên, viết giấy mời tới trạm y tế xã
khám kiểm tra sức khoẻ, thời gian khám từ
8 đến 10 giờ sáng. Khi tới trạm y tế, các bà
mẹ đợc ngồi nghỉ 5 phút, uống một cốc
1. Lipid toàn phần
Bảng 1: Nồng độ Lipid toàn phần
(g/L) trong sữa mẹ Việt Nam theo x
nghiên cứu
X n
X SD
Min Max
1 24
34,214,2
13,4 73,5
2 25
32,114,5
16,0 63,5
3 25
36,114,8
16,9 72,2
4 24
34,515,4
9,4 61,2
5 24
37,316,8
17,5 84,1
6 25
38,216,6
17,4 72,8
7 22
33,312,7
16,2 68,7
8 25
33,212,3
0,110,05
C10:0
1,710,52
C12:0
9,132,83
C13:0
0,030,01
C14:0
10,513,83
C14:1 n-5
0,160,07
C15:0
0,210,11
C15:1 n-5
0,080,03
C16:0
21,972,51
C16:1t n-7
0,480,09
C16:1 n-7
4,131,24
C17:0
0,260,10
C17:1 n-7
0,300,14
C18:0
4,510,88
C18:1t n-9
0,100,04
C18:1 n-9
0,080,05
C22:1 n-9
0,050,01
C22:4 n-6
0,140,04
C22:5 n-6
0,080,04
C24:0
0,040,02
C22:5 n-3
0,190,06
C22:6 n-3
0,270,14
C24:1 n-9
0,030,02
Bảng 3: Thành phần (%) các acid béo
xếp theo các nhóm khác nhau
Nhóm các axits béo
X SD
6:0-14:0
21,497,25
Acid béo bão hoà
48,6210,93
Acid béo có 1 nối đôi
37,686,80
AGPI n-6
12,003,37
AGPI n-3
1,711,02
AGPI, LC n-6
71
Bảng 4: So sánh thành phần acid
béo(%, X
SD) của sữa mẹ Việt Nam với
sữa mẹ Công gô và Burkina [7].
Việt Nam
n =196
Công
Gô
n=100
Burkina
n =99
Tổng LC n-3
0,76 0,34 1,20
0,43
0,44
0,17
Tổng LC n-6
1,71 0,48 1,18
0,25
1,90
1,25
AGPI n-3
1,71 1,02 2,390,
68
0,90,3
18:2n-
6/18:3n-3
bão hoà
48,62
10,93
52,86
7,09
51,647,
02
AGPI = Acid béo nhiều nối đôi cha bo
hoà; LC = mạch dài trên18 C
IV. Bàn luận
Đã có một số nghiên cứu ở Việt Nam
phân tích về lipid, đờng, năng lợng, d
lợng thuốc trừ sâu trong sữa của phụ nữ
Việt Nam, tuy nhiên cha có nghiên cứu
nào phân tích các acid béo cần thiết (38
loại) trong sữa. Nghiên cứu của chúng tôi
đã đa nồng độ của 38 acid béo trong sữa
mẹ làm số liệu tham khảo cho nghiên cứu
khác hoặc ứng dụng trong tính toán về
thành phần dinh dỡng.
Về lipid toàn phần, bảng thành phần
dinh dỡng Việt Nam (năm 2000) đa ra
thành phần của sữa mẹ (code 10003): lipid
là 30g/L [6], thấp hơn so với số trung bình
mà chúng tôi tìm thấy trên đây, có thể do
nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào sữa
trong năm đầu, nên thành phần lipid có cao
hơn. Lipid là thành phần quan trọng cung
cấp năng lợng của sữa mẹ, bởi vậy rất có
gián tiếp cho thấy một chế độ ăn của ngời
mẹ giàu gluxít, tạo ra một quá trình tổng
hợp các acid béo ở tuyến sữa.
Nghiên cứu phân tích về mối quan hệ
giữa các thực phẩm tiêu thụ, với thành phần
acid béo trong sữa mẹ, sự phát triển thể lực
và trí tuệ của trẻ là cần thiết, góp phần tìm
ra những khẩu phần phù hợp, tạo nên sữa
mẹ có chất lợng tốt hơn. Những vấn đề
này cần đợc tiếp tục nghiên cứu trong thời
gian tới.
72
V. Kết luận
1. Thành phần lipid và 38 acid béo trong
sữa của 194 bà mẹ cho con bú ở vùng nông
thôn, đồng bằng Sông Hồng-Việt Nam đợc
xác định bằng phơng pháp sắc ký khí, có
chính xác cao. Những kết quả đa ra có thể
sử dụng nh một bộ số liệu quy chiếu về
thành phần sữa mẹ mà Bảng thành phần
dinh dỡng thực phẩm Việt Nam hiện nay
cha có, nhằm ứng dụng tính toán khẩu
phần của trẻ em Việt Nam.
2. Kết quả cũng cho thấy thành phần
lipid của sữa mẹ, đặc biệt là các acid béo
trong sữa dao động khác nhau giữa các
vùng, giữa các cá thể, liên quan tới số lợng
và chất lợng lipid của khẩu phần.
3. Những nghiên cứu về phân tích về mối
suburban and urban populations in North
Vietnam. Asia PAcific Clin Nutr 9(2): 62-66.
6. Kim NT (1986). Thành phần sữa mẹ
và sự phát triển của trẻ. Mối liên quan giữa
khẩu phần ăn, số lợng và chất lợng sữa.
Luận án tiến sỹ Y học, Hà Nội.
7. Rocquelin G, Dop MC, Mbemba et al.
(1996). Etat de nutrition lipidiques des
enfants cogolais ages de 5 mois et vivant
en milieu urbain(Brazzaville). Report
detude du Laboratoire de nutrition
tropicale, Centre ORSTOM de Monpellier,
France.
8. Shils ME (1994). Average values for
triglycerides, faaty acids in selected foods.
In: modern nutrition in health and disease;
8th edition. Eds. by ME Shils, JA Olson, M
Shike; Lea & Febiger Uublishing, USA. pp.
A 100-A104.
9. Thuý PV, Ladodo KS. (2000). Số
lợng sữa và hàm lợng một số vi chất,
chất độc trong sữa mẹ. Trong: một số công
trình nghiên cứu về dinh duỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm. Biên tập: Khôi HH,
Khẩn NC, Lâm NT. Nhà XBY học Hà Nội;
tr. 140-148.
10. WHO collaborative study team
(2000). Effect of breastfeeding on infant
and child mortality due to infectious
diseases in less developped countries: a