Báo cáo thực tập: Đề tài: “Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng” - Pdf 12


Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
1

Đề tài: “Xây dựng hệ thống quản lý bán
sách qua mạng” Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
2

MỞ ĐẦU
Thế giới ngày nay đã có nhiều tiến bộ mạnh mẽ về công nghệ thông tin
(CNTT) từ một tiềm năng thông tin đã trở thành một tài nguyên thực sự, trở thành
sản phẩm hàng hoá trong xã hội, tạo ra một sự thay đổi to lớn trong lực lượng sản
xuất, cơ sở hạ tầng, cấu trúc kinh tế, tính chất lao động và cả cách thức quản lý
trong các lĩnh vực của xã hội.
Với sự phát triển Internet nó được xem là một trong những thành tựu khoa học
kỹ thuật vĩ đại trong lịch sử loài người và là nguồn tài nguyên thông tin lớn nhất, đa
dạng nhất của thế giới hiện nay.
Internet giúp mọi người có thể trao đổi thông tin trong sinh hoạt hàng ngày,

thiếu xót, em mong nhận được nhiều ý kiến đánh giá và nhận xét của quý thầy cô.
Nội dung của đề tài bao gồm:
Chương 1: Tìm hiểu về thương mại điện tử và Internet.
Chương 2: Khảo sát thực tế.
Chương 3: Phân tích và thiết kế hệ thống.
Chương 4: Phân tích thiết kế cơ sở dữ liệu.
Chương 5: Môi trường cài đặt và thiết kế giao diện.

Hà nội, ngày 30 tháng 05 năm 2008
SV thực hiện: Đoàn Duy Thường

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
4

CHƯƠNG 1
TÌM HIỂU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ INTERNET

điện tử và các Site bán hàng điện tử. Mô hình B2C sử dụng cho hình thức kinh
doanh không có chứng từ. Người tiêu dùng vào Web site của công ty, chọn mặt
hàng cần mua, cung cấp thông tin cá nhân, chọn hình thức thanh toán điện tử, các
hình thức vận chuyển hàng hóa… Khi đó người dùng coi như đã đặt hàng xong, chỉ
chờ hàng hóa đến. Tại phần quản lý của công ty sẽ có chương trình xử lý thông tin
mua bán tự động, kiểm tra thông tin khách hàng về hình thức thanh toán, cách vận
chuyển hàng hóa
1.1.3.2. Mô hình B2B
Mô hình B2B (Business to Business) áp dụng trong qui trình buôn bán giữa các
tổ chức, giữa các doanh nghiệp. Trong mô hình B2B trên Internet vấn đề quan trọng
nhất là trao đổi các thông tin thương mại có cấu trúc và mua bán tự động giữa hai hệ
thống khác nhau. Mô hình B2B áp dụng cho hình thức kinh doanh có chứng từ giữa
các công ty, các tổ chức, giữa công ty mẹ và các công ty con, giữa các công ty trong
cùng hiệp hội… Khi sử dụng mô hình B2B cần phải có kiểm chứng được khách
hàng và bảo mật thông tin mua bán thông qua chữ ký điện tử của công ty, tổ chức.
1.1.4. Các hình thức thanh toán
Có 4 hình thức thanh toán: thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán bằng gửi thư
bảo đảm (chuyển phát nhanh thông qua bưu điện), thanh toán bằng chuyển khoản
(máy ATM), thanh toán bằng thẻ tín dụng.
+ Thanh toán bằng tiền mặt: Đây là phương thức thanh toán truyền thống và là
phương thức thanh toán chủ yếu ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên trong tương lai
hình thức này sẽ dần dần bị thay thế bởi 3 hình thức sau đây.
+ Thanh toán bằng gửi thư bảo đảm (chuyển phát nhanh): Khách hàng có thể
gửi tiền bằng hình thức bảo đảm thông qua Bưu điện tại gần nơi khách hàng sinh
sống. Ở Việt Nam hình thức này cũng phổ biến, nó rất thuận lợi, nhanh chóng vừa
chính xác vừa an toàn.

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc


Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
7
 Giảm chi phí giao dịch.
 Giúp thiết lập và củng cố quan hệ quốc tế.
 Tạo điều kiện sớm tiếp cận “kinh tế số hóa”.
1.2. Internet
1.2.1. Định nghĩa Internet
Internet là một mạng máy tính liên kết nhiều mạng máy tính khác nhau trên
phạm vi toàn thế giới, để các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, công ty và cá nhân
trao đổi cung cấp thông tin trên hầu hết các lĩnh vực
1.2.2. Một số dịch vụ trên Internet
1.2.2.1. Thư điện tử
Dịch vụ E-mail có thể dùng để trao đổi thông tin giữa các cá nhân với nhau, các
cá nhân với tổ chức và giữa các tổ chức với nhau. Email là một dịch vụ “lưu trữ -
chuyển tiếp”, tức là không cần phải có sự kết nối tức thời giữa máy gửi và máy
nhận thư. Nội dung thông tin gửi đi dùng trong thư điện tử không chỉ có văn bản
(text) mà còn có thể ghép thêm các văn bản đã được định dạng, đồ họa, âm thanh
Các dạng thông tin này có thể hoà trộn, kết hợp với nhau thành một tài liệu phức
tạp. Lợi ích chính dịch vụ thư điện tử là thông tin gửi đi nhanh và rẻ.
1.2.2.2 WWW
Đây là khái niệm mà người dùng Internet quan tâm nhiều nhất hiện nay. Web là
một công cụ, hay đúng hơn là một dịch vụ của Internet, Web chứa thông tin bao
gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh và thậm chí cả video được kết hợp với nhau
Nhờ có Web nên dù không phải là chuyên gia, mọi người có thể sử dụng Internet
một cách dễ dàng. Phần mềm sử dụng để xem Web gọi là trình duyệt (Browser).
Một trong những trình duyệt thông thường hiện nay là Navigator của Netcape, tiếp
đó là Internet Explorer của Microsoft.

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc
9CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HỆ THỐNG
2.1. Hiện trạng kinh doanh của nhà sách.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu hiểu biết trên tất cả các lĩnh vực của con
người ngày càng được nâng cao. Đáp ứng yêu cầu này, ở Việt Nam nhiều nhà sách
xuất hiện, nhưng đa số các cửa hàng bán sách hiện nay đều tổ chức kinh doanh theo
phương thức truyền thống gồm các qui trình cơ bản sau:
 Nhập sách từ các nhà cung cấp: lập đơn đặt mua, gửi đơn đặt mua, nhận sách
từ nhà cung cấp, lưu sách vào kho, thanh toán, quảng cáo và trưng bày sách
mới
 Bán sách: trưng bày sách lên các giá sách theo loại.
 Qui trình đăng ký mua sách hay ký kết: được thực hiện khi có sự tiếp xúc
trực tiếp giữa hai bên hoặc qua điện thoại.
 Thanh toán theo phương thức truyền thống: bằng tiền mặt.
Chính phương thức kinh doanh này đã trực tiếp dẫn đến những khó khăn
sau:
 Cửa hàng phải tốn một diện tích rất lớn cho việc trưng bày sách.
 Khi khách hàng có nhu cầu mua sách thì thường họ phải mất rất nhiều thời
gian để tìm kiếm sách.

lợi. Hệ thống phải có hai URL riêng, một URL giành cho khách hàng và một URL
cho nhân viên của nhà sách cập nhật dữ liệu hệ thống: cập nhật sách, nhân viên,
khách hàng, nhà cung cấp, theo dõi đơn hàng và trả lời thư của khách hàng.
2.2.2. Yêu cầu
Hệ thống phải phải đáp ứng các yêu cầu sau:
 Khách hàng có thể xem, mua bất cứ cuốn sách nào trong kho.
 Đơn hàng, thư hỏi đáp kiến nghị của khách hàng phải được bảo mật.
 Thanh toán tiền khi giao nhận sách.
 Kiểm tra độ tin cậy của khách hàng phải thông qua những thông tin do khách
hàng đăng ký và dựa vào địa chỉ giao nhận sách, sau đó liên hệ qua Email
hoặc qua điện thoại.

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc 11
 Hai URL giành cho khách hàng và nhân viên của nhà sách phải khác nhau.

2.3. Mô hình nghiệp vụ của hệ thống
Mô hình nghiệp vụ là một mô tả các chức năng nghiệp vụ của một hệ thống và
những mối quan hệ bên trong giữa các chức năng đó cũng như các mối quan hệ của
chúng với môi trường bên ngoài.
Một trong những thể hiện của mô hình nghiệp vụ là biểu đồ ngữ cảnh hệ thống
và biểu đồ phân rã chức năng.
Muốn xác định mô hình nghiệp vụ của hệ thống thì trước hết ta phải xác định
được các tác nhân của hệ thống:
Tác nhân của hệ thống có thể là một người, một nhóm người, một tổ chức hay
một hệ thống khác, và có tương tác với hệ thống về mặt thông tin (nhận hay gửi dữ
liệu).
Tác nhân của hệ thống bán sách qua mạng bao gồm:
 Khách hàng: Là những người trực tiếp sử dụng hệ thống để tra cứu sách và

- Quy trình và phân đoạn các bước tiến hành;
- Các công cụ và cách thức mô hình hoá;
- Cách tiếp cận (hướng chức năng, hướng dữ liệu, trên xuống, dưới lên, )
Phương pháp phân tích có cấu trúc bao gồm các hoạt động: khảo sát, phân tích,
thiết kế, xây dựng và cài đặt chương trình. Đặc trưng mới của phương pháp này là
các hoạt động có thể hoạt động một cách song song. Mỗi hoạt động có thể cung cấp
những sửa đổi phù hợp cho một hoặc nhiều hệ thống trước đó. Trong phân tích có
cấu trúc cách tiếp cận cấp tiến cho phép các hoạt động khảo sát, phân tích, thiết kế,
xây dựng và cài đặt chương trình được tiến hành một cách song song. Chính ưu
điểm này đã làm cho phương pháp phân tích có cấu trúc ngày càng được phát triển
hơn.
Có nhiều công cụ được sử dụng trong quá trình phân tích và thiết kế hệ thống
thông tin. Tuy nhiên với hệ thống ít phức tạp sẽ không đòi hỏi phải sử dụng hết tất
cả các công cụ này.
Ba công cụ quan trọng để mô hình hoá hệ thống thông tin theo phương pháp
phân tích thiết kế có cấu trúc là:
+ Mô hình chức năng;

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc 13
+ Mô hình dữ liệu;
+ Mô hình luồng dữ liệu.
Trong đó mỗi mô hình thể hiện một cách nhìn ở góc độ khác nhau vào hệ thống.
3.2. Phân tích chức năng
3.2.1. Dữ liệu đầu vào và ra của hệ thống
- Dữ liệu đầu vào của hệ thống quản lý bán sách là các thông tin của nhân
viên, của khách hàng và thông tin về sách trong cửa hàng.
- Dữ liệu đầu ra là các thông tin được kết xuất từ dữ liệu đầu vào.
3.2.2. Biểu Đồ Phân Cấp Chức Năng
Hình 3.1: Biểu đồ phân cấp chức năng
Quản trị hệ thống
HỆ THỐNG QUẢN LÝ BÁN SÁCH QUA MẠNG
Thiết đặt hệ thống
Quản lý & phân
quyền người dùng
Cập nhật & phân
loại sách
Cập nhật tin tức về
sách

phải có đội ngũ nhân viên đông đảo. Để đội ngũ này hoạt động hiệu quả, người
quản trị hệ thống cần phải phân quyền cụ thể cho từng nhân viên. Người quản trị và
các nhân viên muốn giao tiếp với hệ thống phải đăng nhập thông qua tên đăng nhập
và mật khẩu.
Các nhân viên chỉ thực hiện được những chức năng nhất định ứng với quyền mà
người quản trị cấp và khi cần người quản trị có quyền huỷ các quyền này.
3.2.3.2. Cập nhật dữ liệu hệ thống
Quyền cập nhật dữ liệu hệ thống: là quyền bao gồm chức năng xem đơn đặt
hàng, trả lời thư của khách hàng, quản lý quảng cáo và chức năng cập nhật dữ liệu
cho hệ thống. Quyền này thường dành cho nhân viên cửa hàng sách để cập nhật dữ
liệu cho web site. Bao gồm một số chức năng sau:
Cập nhật và phân loại sách: Nếu có loại sách mới hoặc sách mới nhân viên
phải nhập vào cơ sở dữ liệu để giới thiệu với khách hàng. Việc tổ chức phân loại
sách sao cho hợp lý là điều rất quan trọng. Phân loại sách theo một tiêu chuẩn phân
loại nào đó là rất cần thiết, nó hỗ trợ cho việc tra cứu sách hiệu quả hơn.
Cập nhật tin tức về sách: Cập nhật các bài viết về sách và tin tức thị trường về
sách, tin khuyến mãi.

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc 16
Cập nhật tác giả: Thực hiện khi có sách mới và tác giả mới, công việc này giúp
cho việc tra cứu sách dễ dàng hơn.
Cập nhật nhà xuất bản: Thực hiện khi có sách mới và nhà xuất bản mới, công
việc này giúp cho việc tra cứu sách dễ dàng hơn.
Xem đơn đặt hàng và trả lời thư của khách hàng: Chức năng này giúp nhà
sách có khả năng giao sách cho khách hàng theo đúng thời gian và địa điểm mà
khách hàng đã ghi trong đơn đặt mua, giao tiếp với khách hàng qua thư để giải đáp
những thắc mắc của khách hàng. Đồng thời cung cấp thông tin cho bộ phận kiểm tra
độ tin cậy của đơn đặt mua.

gửi đăng ký mua sách thì một đơn đặt hàng sẽ được gửi tới người quản lý cửa hàng
sách qua mail. Người quản lý sẽ dựa trên những thông tin trong đơn đặt hàng để
chuyển sách đến đúng địa chỉ khách hàng yêu cầu.
Góp ý, kiến nghị: Khách hàng có thể gửi thư góp ý hoặc kiến nghị với nhà sách
đồng thời xem thư phản hồi từ nhà sách. Chức năng này cho phép sự giao tiếp giữa
khách hàng và người quản lý sách, hỗ trợ tốt cho quá trình mua bán sách qua mạng.
3.3. Biểu đồ luồng dữ liệu
3.3.1. Các kí hiệu
Biểu đồ luồng dữ liệu là một loại biểu đồ nhằm mục đích diễn tả một quá trình
xử lý thông tin với các yêu cầu sau:
* Sự diễn tả là ở mức logic, nghĩa là nhằm trả lời câu hỏi: “Làm gì?” mà bỏ
qua câu hỏi “Làm như thế nào?”.
* Chỉ rõ các chức năng (con) phải thực hiện để hoàn tất quá trình xử lý cần
mô tả.
* Chỉ rõ các thông tin được chuyển giao giữa các chức năng đó, và qua đó
phần nào thấy được trình tự thực hiện của chúng.
Các thành phần của biểu đồ luồng dữ liệu:
- Chức năng (Processes) được ký hiệu bởi vòng tròn tượng trưng cho các chức
năng khác nhau mà hệ thống phải thực hiện. Kí hiệu:

HỆ THỐNG QUẢN LÝ
BÁN SÁCH QUA MẠNG

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc 18
- Luồng dữ liệu (Flow) được ký hiệu bằng đường kẻ có mũi tên. Mũi tên chỉ


KHÁCH HÀNG
KHÁCH HÀNG

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc 19 Hình 3.2: Biểu đồ mức ngữ cảnh
Tra cứu sách
Khách hàng
Cập nhật thông tin
Xem thông tin
Yêu cầu đặt sách
Thông tin sách
Khách vãng lai
Người quản lý

Hình 3.3. Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh
Khách hàng
thông tin khách hàng
QUẢN TRỊ DỮ
LIỆU HỆ THỐNG
NGƯỜI QUẢN LÝ
PHỤC VỤ
KHÁCH HÀNG
KHÁCH HÀNG
Thông tin khách hàng
thông tin khách hàng
Đơn đặt hàng
Giao hàng theo đơn
Khách hàng
Trả lời đơn hàng
Thông tin KH
Thông tin tổng hợp
Yêu cầu tìm kiếm
Kết quả tìm kiếm
Sách Tácgiả Nhà xuất bản Thẻ hàng
Đơn hàng


QUẢN TRỊ
HỆ
THỐNG
Yêu cầu phân quyền
Yêu cầu đổi mật khẩu
NGƯỜI QUẢN LÝ
NGƯỜI QUẢN

Quản lý
Yêu cầu mật khẩu
Thông tin nhân viên
Constant

Mật Khẩu mới
Thiết đặt hệ thống
Thông tin nhân viênHình 3.5. Biểu đồ luồng dữ liệu chức năng quản trị dữ liệu
Tác giả
Cập nhật &
phân loại sách
NGƯỜI QUẢN LÝ
Cập nhật tin
tức sách
Cập nhật
tác giả
Cập nhật
NXB

Xem đơn
hàng
Quản lý
quảng cáo
Sách
Danh mục sách
Thông tin sách
Tin tức
Tin tức sách
Thông tin tác giả
Thông tin nhà xuất bản
Nhà xuất bản
Chi tiết thẻ hàng Thẻ hàng
Thông tin qu
ảng cáo


Hình 3.6. Chức năng tra cứu sách
3.3.4.3.2. Chức năng đăng ký khách hàng
Hình 3.7. Chức năng đăng ký khách hàng
Đăng ký
khách hàng
Khách hàng
Khách hàng
Thông tin khách hàng
Cập nhật thông tin
kh
ách

Danh mục sách
Tác giả

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc 24
3.3.4.3.3. Chức năng đặt mua sách và giao sách
Thông tin thẻ hàng
Thông tin thẻ hàng
Trả lời đơn hàng

Báo cáo thực tập Xây dựng hệ thống quản lý bán sách qua mạng

SVTH: Đoàn Duy Thường GVHD: Th.S Tống Minh Ngọc 25
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU
4.1. Lý thuyết về thiết kế cơ sở dữ liệu
Mục đích của giai đoạn phân tích hệ thống về dữ liệu là: Lập lược đồ dữ liệu
hay gọi là biểu đồ cấu trúc dữ liệu (BCD). Hệ thống dữ liệu được lưu trữ lâu dài:
- Thông tin gì, bao gồm dữ liệu gì?
- Mối liên quan: xác định liên quan giữa các dữ liệu.
Kết quả của giai đoạn phân tích hệ thống về mặt dữ liệu là cho chúng ta một
khuôn dạng hỗ trợ các phân tích viên hệ thống trong quá trình nhận thức và biểu
diễn các dữ liệu sử dụng trong hệ thống thông tin, đồng thời chỉ rõ được cấu trúc
của dữ liệu.
Phương pháp thực hiện: có hai cách tiếp cận:
+ Mô hình thực thể liên kết: Phương pháp này trực quan đi từ trên xuống
dưới, bằng cách xác định các thực thể, mối liên kết giữa chúng rồi đến các thuộc
tính. Phương pháp này bao trùm được nhiều thông tin, tuy nhiên kết quả hay thừa.
+ Mô hình quan hệ: Xuất phát từ danh sách các thuộc tính rồi đến các lược
đồ quan hệ. Phương pháp này đi từ dưới lên, kết quả là vừa đủ cho những kết xuất
xử lý.
4.1.1 Mô hình thực thể liên kết
4.1.1.1 Khái niêm mô hình thực thể liên kết
Mô hình thực thể liên kết là công cụ thành lập lược đồ luồng dữ liệu hay gọi là
biểu đồ cấu trúc dữ liệu (BCD), nhằm xác định các khái niệm về các thực thể, thuộc
tính, và mối liên hệ ràng buộc giữa chúng. Mục đích của mô hình là xác định các
yếu tố:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status