TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
Nhận xét về thực trạng bớu cổ và thiếu i - ốt
qua nghiên cứu ở 2 nhóm xã trớc đó đã có sự
khác nhau về tỷ lệ trẻ em 7 - 15 tuổi mắc bớu cổ
Chu Thị Lan, Phạm Ngọc Khái
Trờng Đại học Y Thái Bình
Nghiên cứu đợc thực hiện qua điều tra cắt ngang theo phơng pháp dịch tễ học mô tả, sau đó nghiên cứu
Bệnh - Chứng đợc tiến hành dựa trên kết quả siêu âm tuyến giáp.
Đối tợng nghiên cứu là 3.228 trẻ em 7 - 15 tuổi, trong đó có 1.473 trẻ em ở 2 xã huyện Vũ Th và 1.755
trẻ em 2 xã huyện Hng Hà, Thái Bình. Các xã này đợc chia thành 2 nhóm: Nhóm xã 1 là 2 xã có tỷ lệ bớu
cổ (BC) cao, Nhóm xã 2 là 2 xã có tỷ lệ bớu cổ thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy:
-
Tỷ lệ trẻ em mắc bớu cổ ở nhóm xã 1 là 12,1% còn ở nhóm xã 2 là 7,1%, tỷ lệ bớu cổ tăng lên ở trẻ em
nhóm 8 - 12 tuổi và ở nữ cao hơn ở nam.
- ở nhóm xã 1, trẻ em BC thì có hàm lợng iốt niệu thấp hơn trẻ em không BC, đồng thời trẻ em thiếu iốt thì
có dung tích tuyến giáp lớn hơn nhóm không thiếu i - ốt.
- Ngợc lại, ở nhóm xã 2 thì không có sự khác biệt về hàm lợng iốt niệu giữa 2 nhóm trẻ em BC và không
BC, không có sự khác nhau về dung tích tuyến giáp giữa nhóm thiếu i - ốt và nhóm không thiếu i - ốt.
i. Đặt vấn đề
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ớc tính có
tới 1,6 tỷ ngời đang sống trong khu vực thiếu hụt
iốt trong đó tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu là 12%. Số
ngời bị mắc bệnh bớu cổ nhiều nhất ở các nớc
châu á, châu Phi. Tại Đông Nam á có khoảng 175
triệu ngời bị bớu cổ, chiếm 26,7% tổng số bị
bớu cổ của thế giới [9].
Việt Nam là một nớc nằm trong khu vực thiếu
iốt, chính vì vậy mà ngay từ năm 1994, Việt Nam
đã cam kết với WHO, UNICEF, ICCIDD là sẽ
thanh toán các rối loạn do thiếu hụt iốt vào năm
khai tốt các hoạt động thực hiện chơng trình Quốc
gia về phòng chống bớu cổ và các rối loạn do thiếu
hụt iốt. Các xã nghiên cứu đợc chia thành 2 nhóm:
287
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
Nhóm xã 1 là 2 xã có tỷ lệ bớu cổ cao (Tỷ lệ trẻ
em bớu cổ trên 12%). Nhóm xã 2 là 2 xã có tỷ lệ
bớu cổ thấp (tỷ lệ trẻ em bớu cổ dới 7,0%).
+ Đối tợng nghiên cứu là trẻ em ở độ tuổi 7 -
15 (học sinh từ lớp 1 đến lớp 9).
+ Nghiên cứu đợc tiến hành trong thời gian từ
8/2003 - 3/2004
2. Phơng pháp nghiên cứu
+ Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đợc thực
hiện qua một cuộc điều tra cắt ngang theo phơng
pháp mô tả, sau đó nghiên cứu Bệnh - Chứng đợc
tiến hành dựa trên kết quả siêu âm tuyến giáp.
+ Tính cỡ mẫu và phơng pháp chọn mẫu:
- Cỡ mẫu khám lâm sàng xác định bớu cổ
đợc áp dụng theo công thức tính mẫu cho việc
kiểm định sự khác nhau giữa 2 tỷ lệ. Cỡ mẫu theo
tính toán là n = 2.246.
- Cỡ mẫu cho xét nghiệm iốt niệu theo tính toán
cho nghiên cứu này là 220 mẫu.
- Cỡ mẫu nghiên cứu bệnh - chứng tính toán
đợc cho nghiên cứu này là 228 cho nhóm bệnh và
228 cho nhóm chứng.
- Phơng pháp chọn mẫu: phối hợp phơng pháp chọn
mẫu có mục đích với chọn mẫu ngẫu nhiên. Dựa vào kết
quả khám lâm sàng (2001 - 2002) của Trung tâm Y tế dự
EPI INFO 6.0.
iii. Kết quả
Bảng 1: Tỷ lệ trẻ em mắc bớu cổ tại các nhóm x thuộc huyện Vũ Th và Hng Hà năm 2002
Nhóm xã có tỷ lệ BC trên 12% Nhóm xã có tỷ lệ BC thấp dới 7%
Số
TT
Tên xã % mắc Tên xã % mắc
1
2
3
4
5
Huyện Vũ Th
Bách Thuận
Song Lãng
Vũ Vân (*)
Dũng Nghĩa
Hồng Lý
12,6
14,0
13,0
13,0
14,5
Đồng Thanh (*)
Song An
Vũ Hội
Vũ Vinh
Phúc Khánh
7,0
7,0
7,0
6,8
6,5
Ghi chú: (*) là xã đợc chọn vào nghiên cứu tiếp theo
288
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
Kết quả bảng 1 thu đợc qua hồi cứu về số liệu khám lâm sàng bớu cổ của Trung tâm Y tế dự phòng
Thái Bình năm 2001 - 2002 cho thấy ngay cùng 1 huyện cũng có không ít những xã có tỷ lệ trẻ em BC
(dới 7,0%) thấp hơn khá nhiều so với các xã khác (trên 12,0%). Qua chọn ngẫu nhiên đã tiến hành
nghiên cứu tiếp theo ở 4 xã, trong đó có 2 xã là Vũ Vân và Phú Sơn thuộc nhóm xã 1 còn Đồng Thanh và
Hồng An thuộc nhóm xã 2.
Bảng 2: Tỷ lệ trẻ em mắc bớu cổ tại các nhóm x nghiên cứu
Nhóm xã 1 Nhóm xã 2
Nhóm tuổi
n % BC N % BC
So
sánh
Nhóm 7 tuổi
Độ Ia
Độ Ib
Độ II
Độ III
Cộng
149
12
0
94
6
0
0
100
11,5
0,7
0,0
0,0
12,2
786
48
6
0
0
54
6,1
0,6
0,0
0,0
6,8
2
= 13,90
p < 0,001
Nhóm 13 - 15 tuổi
Độ Ia
Độ Ib
p < 0,05
Tổng cộng 7 - 15 tuổi
Có BC
1637
198
12,1
1591
113
7,1
2
= 11,57
p < 0,001
Kết quả nghiên cứu đợc trình bầy ở bảng 2 cho thấy rằng tỷ lệ bớu cổ ở trẻ 7 tuổi nhóm xã 1 là
8,0% còn ở nhóm xã 2 là 5,7%. Nhng đến tuổi lớn hơn thì tỷ lệ bớu cổ đã tăng cao rõ rệt, ở nhóm xã 1
có 12,2% trẻ em 8 - 12 tuổi mắc bớu cổ còn ở nhóm xã 2 thì tỷ lệ là 6,8%. Trẻ em 13 - 15 tuổi mắc
bớu cổ ở nhóm xã 1 là 12,5% nhóm xã 2 là 7,7%. Nh vậy tỷ lệ trẻ em mắc BC ở nhóm xã 1 cao hơn
nhóm xã 2 một cách rõ rệt (p < 0,05).
289
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
Bảng 3: Tỷ lệ trẻ em mắc bớu cổ theo giới ở các nhóm x nghiên cứu
Nhóm xã 1 Nhóm xã 2 Tổng số
Giới tính
n Số BC % n Số BC % n %
Nam 781 72 9,2 908 44 4,8 1689 6,8
Nữ 856 126 14,7 683 69 10,1 1539 12,7
Cộng 1637 198 12,1 1591 113 7,1 3228 9,6
Nhóm 13 - 15 tuổi Nam
Nữ
9,96 2,38
11,98 2,34
9,90 2,94
10,15 2,92
p > 0,05
p < 0,05
Kết quả nghiên cứu về dung tích tuyến
giáp ở nhóm trẻ em bị bớu cổ ở bảng 4 cho
thấy sự khác nhau giữa nam và nữ cùng lứa
tuổi, cùng nhóm xã cũng tơng tự nh ở trẻ
em không BC: dung tích tuyến giáp của nữ
lớn hơn của nam (p < 0,05).
So sánh giữa 2 nhóm xã cùng giới và cùng
nhóm tuổi cho thấy dung tích tuyến giáp
nhóm xã 1 luôn lớn hơn ở nhóm xã 2, trong
đó nam 8 - 12 tuổi và nữ 13 - 15 tuổi ở nhóm
xã 1 có dung tích tuyến giáp cao hơn một
cách có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Từ kết quả bảng 3 và bảng 4 đã cho thấy
một đặc điểm chung là nữ mắc BC nhiều hơn
nam, dung tích tuyến giáp nữ BC lớn hơn của
nam BC cùng nhóm tuổi, dung tích tuyến giáp
của trẻ em BC nhóm xã 1 lớn hơn trẻ em BC
nhóm xã 2 cùng nhóm tuổi.
Bảng 5: Tỷ lệ trẻ em thiếu iốt ở 2 nhóm x nghiên cứu
Nhóm xã 1 (n = 223) Nhóm xã 2 (n = 223)
Mức độ thiếu iốt niệu
chủ yếu là thiếu iốt ở mức nhẹ và ít gặp thiếu iốt ở mức vừa, không gặp trờng hợp nào thiếu iốt nặng.
Nh vậy giữa 2 nhóm xã tuy khác nhau rõ rệt về tỷ lệ BC nhng lại không khác biệt nhau về tỷ lệ thiếu i -
ốt.
Bảng 6: Dung tích trung bình (ml) của tuyến giáp theo tình trạng thiếu iốt
Nhóm thiếu iốt (n =
134)
Nhóm không thiếu iốt (n =
312)
So sánh
Nhóm tuổi Nhóm
xã
X SD (ml) X SD (ml)
test t p
8 - 12 tuổi Xã 1
Xã 2
8,22 2,61
6,70 2,78
6,75 2,84
6,65 3,26
t =
3,04
t =
0,95
p <
0,05
p >
0,05
13 - 15
tuổi
Xã 1
Nhóm xã 1
Nhóm xã 2
11,9
15,7
8,0
8,0
17,2
15,6
10,5
20,8
p < 0,05
p > 0,05
Kết quả nghiên cứu đợc trình bầy ở bảng 7 thấy rằng hàm lợng i - ốt niệu của trẻ bớu cổ ở nhóm xã 1 là
11,9 àg/100ml, thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nhóm không BC. Trong khi đó thì ở nhóm xã 2
lại thấy rằng hàm lợng i - ốt niệu giữa 2 nhóm trẻ BC và nhóm không BC là tơng đơng nhau.
Bảng 8: Hàm lợng iốt niệu ((
à
g/100ml) ở nhóm có dung tích tuyến giáp bình thờng với nhóm có
dung tích tuyến giáp lớn
Iốt niệu (àg/100ml) ở nam
(n = 152)
Iốt niệu (àg/100ml) ở nữ
(n = 294)
Nhóm nghiên cứu
Median Mode Median Mode
Dung tích tuyến giáp bình thờng
Dung tích tuyến giáp lớn
16,0
13,7
nông thôn Thái Bình qua nghiên cứu trớc đó 3 - 5
năm của 1 số tác giả khác [4; 8].
Kết quả nghiên cứu đợc trình bầy ở bảng 6
đến bảng 8 cho thấy rằng trẻ em bớu cổ ở nhóm
xã 1 có hàm lợng i - ốt niệu thấp hơn có ý nghĩa
(p < 0,05) so với nhóm không BC. Trong khi đó thì
ở nhóm xã 2 lại thấy rằng hàm lợng i - ốt niệu
giữa 2 nhóm trẻ BC và chứng là tơng đơng nhau.
Mặt khác kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vấn đề
bớu cổ ở trẻ em nhóm xã 2 không chỉ đơn thuần
liên quan đến thiếu iốt, phải chăng ngoài yếu tố
thiếu hụt i - ốt ra thì còn có những yếu tố khác liên
quan đến dung tích tuyến giáp của trẻ em tuổi học
đờng.
Nh vậy là ở những xã có tỷ lệ trẻ em mắc bớu
cổ còn cao thì có sự khác biệt rõ rệt về hàm lợng i
- ốt niệu giữa trẻ em mắc BC so với trẻ em không
mắc BC, còn ở những nơi có tỷ lệ BC thấp thì
không còn thấy rõ ảnh hởng của thiếu hụt i - ốt
tới tỷ lệ BC nữa.
Nghiên cứu của một số tác giả khác ở một số
vùng nh Hà Tây [1], H
ng Yên [1; 2], Hậu
Giang [2]; Cát Bà [6] cũng tìm thấy những vùng
tuy sự thiết hụt iốt còn thấp nhng lại có tỷ lệ bớu
cổ khá cao. Nhiều tác giả [1; 2; 6; 7; 8] cũng đã
bắt đầu tìm hiểu các yếu tố liên quan đến bớu cổ
để đổi mới các hoạt động phòng chống bớu cổ tại
cộng đồng cho phù hợp.
v. Kết luận
292
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
3 - Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Trí Dũng
(2002); ''Điều tra tình trạng bớu cổ và sử dụng
muối iốt tại 3 xã ven sông Đáy thuộc huyện Hoài
Đức'', Tạp chí Y học Dự phòng, (4), tr. 40 - 41.
8 - Thái Hồng Quang (2001), ''Bệnh bớu cổ
địa phơng và bớu cổ tản phát'', Bệnh nội tiết,
NXB Y học, tr. 186 - 187.
9 - Nguyễn Vinh Quang (2001), Tình trạng
thiếu iốt ở học sinh phổ thông cơ sở và hiệu quả 1
số biện pháp can thiệp tại Vũ Th, Thái Bình'', Kỷ
yếu toàn văn các Công trình Nghiên cứu Khoa học
hội Nội tiết - Đái tháo đờng Việt Nam, tr. 180 -
192.
4 - Nguyễn Thanh Hà, Hoàng Kim Ước và
CS (2000), "Đánh giá thực trạng các rối loạn iốt
của học sinh tiểu học toàn quốc 1998", Kỷ yếu
toàn văn Công trình Nghiên cứu Khoa học nội tiết
và chuyển hoá, NXB Y học, tr. 223 - 224.
10 - WHO/UNICEF/ICCIDD (1993), ''Global
prevalence of iodine Deficiency Disorders,
Micronutrient deficiemcy information system, p. 1.
5 - Nguyễn Quang Huy (2002), Nghiên cứu
tình hình sử dụng muối iốt và bệnh bớu cổ ở trẻ 8
- 12 tuổi tại 3 xã huyện Vũ Th tỉnh Thái Bình,
Luận án thạc sỹ Y khoa, Trờng Đại học Y Thái
Bình.
6 - Lê Mỹ (1996); "Dịch tễ học các rối loạn do
thiếu iốt", Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu