Một số vấn đề về thi hành án dân sự - Pdf 12

Lời nói đầu
Thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng dân
sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đơng sự, trong đó các bản
án, quyết định của Toà án đợc đa ra thi hành
Để góp phần duy trì ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân, mọi hành vi vi phạm pháp luật và tranh chấp xảy ra khi có
yêu cầu đều đợc Toà án xem xét giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời nhà n-
ớc xây dựng một cơ chế đảm bảo cho việc thi hành các phán quyết mà Toà án
đã tuyên. Nếu bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật mà không
đựơc đa ra thi hành thì quyền lợi của đơng sự cha đợc đảm bảo, nguyên tắc
pháp chế bị vi phạm. Mặt khác tranh chấp, mâu thuẫn dân sự không đợc giải
quyết kịp thời và triệt để, niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và nhà
nớc bị suy giảm. Vì vậy công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự
nói riêng mang nội dung và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhận thức đợc điều
này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Đảng ta đã đề ra chủ trơng
"...Đẩy mạnh cải cách tổ chức, nâng cao chất lợng và hoạt động của các cơ
quan T pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ T pháp...".
Trong đó, có công tác thi hành án dân sự.
Những năm qua công tác thi hành án dân sự đã từng bớc đợc đẩy mạnh
và đã thu đợc những kết quả to lớn. Pháp luật về thi hành án dân sự đã và đang
đợc củng cố và hoàn thiện ngày càng phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra
của sự phát triển kinh tế, xã hội. Trên cơ sở những quy định của pháp luật, hệ
thống cơ quan thi hành án đã đợc hình thành trong cả nớc, hoạt động thi hành
án đã đạt hiệu quả nhất định, kỷ cơng trật tự xã hội đợc ổn định, đồng thời
pháp chế xã hội chủ nghĩa đợc đảm bảo. Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội
ngày càng phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng các giao lu dân sự
ngày một mở rộng thì số vụ việc tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng dẫn đến
số lợng bản án, quyết định phải thi hành ngày càng nhiều. Nếu nh trớc đây
1
nhiệm vụ của cơ quan thi hành án chỉ là thi hành các bản án, quyết định dân sự
thì từ khi có Luật phá sản doanh nghiệp, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án

- Chơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án dân sự.
- Chơng 2: Nội dung một số qui định cơ bản của pháp luật về thi hành
án dân sự.
- Chơng 3: Thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật về thi hành án
dân sự và một số kiến nghị.
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu, khả năng và kiến thức còn nhiều hạn
chế nên việc nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi kính
mong các thầy cô hớng dẫn, giúp đỡ để tôi nâng cao đợc kiến thức và có điều
kiện tiếp tục nghiên cứu đề tài này.
Chơng i
3
Những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án dân sự
I/ Khái niệm và ý nghĩa của thi hành án dân sự
1. Khái niệm thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là một giai đoạn nhằm thực hiện những bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân trong cuộc sống, biến
các quyết định của Toà án trong những bản án, quyết định đó thành hiệu lực
thực tế. Tuy nhiên, thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự hay thủ tục
hành chính đã có một thời kỳ có nhiều ý kiến khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án dân sự không phải là một thủ
tục tố tụng dân sự, mà là một hoạt động mang tính chất chấp hành và điều
hành nh vậy thi hành án dân sự là một thủ tục hành chính.
Ngợc lại với quan điểm thứ nhất, quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án
dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự. Đây là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn
xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đơng sự.
Quan điểm thứ ba lại cho rằng thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng
đặc biệt bởi nó vừa mang tính chất của thủ tục tố tụng dân sự lại vừa là thủ tục
hành chính.
Cả ba quan điểm trên đều có điểm hợp lý, nhng quan điểm thứ hai là
phù hợp hơn cả bởi những lý do sau:

các đơng sự. Mặt khác, nếu bản án, quyết định Toà án tuyên cha có hiệu lực
pháp luật mà đơng sự tự nguyện thi hành thì thuần tuý đây là quan hệ dân dự
thông thờng chứ không có sự can thiệp của cơ quan Nhà nớc. Do đó, không thể
coi đây là thủ tục hành chính đợc. Hơn nữa, nếu cho rằng trong tố tụng dân sự
chỉ có Toà án mới là chủ thể tiến hành tố tụng còn cơ quan thi hành án không
phải là chủ thể đợc phép tiến hành các hoạt động tố tụng nên việc thi hành án
của cơ quan thi hành án không phải là hoạt động tố tụng là không thoả đáng.
Bởi lẽ, việc giải quyết vụ án dân sự là một quá trình khó khăn và phức tạp, liên
quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi lĩnh vực đó đều đợc do
một cơ quan chuyên môn đảm nhiệm. Vì vậy, để giải quyết tốt một vụ việc dân
5
sự thì phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cơ quan tổ chức với
nhau. Kết quả hoạt động của cơ quan này tạo cơ sở, tiền đề cho hoạt động của
cơ quan khác và góp phần vào nhiệm vụ chung là giải quyết vụ việc đợc nhanh
chóng, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, hoạt động của thi hành án phải đợc coi là một thủ
tục tố tụng dân sự và là một bộ phận không thể thiếu của ngành luật tố tụng.
Đến nay điều này đã đợc khẳng định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Theo Điều 1
của Bộ luật tố tụng dân sự thì thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự.
Vì vậy, thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự nhằm thi hành
bản án, quyết định của Toà án. Giai đoạn thi hành án dân sự là giai đoạn kết
thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đơng sự trong đó bản án, quyết định của
Toà án đợc đa ra thi hành trên thực tế.
2. ý nghĩa của thi hành án dân sự.
Thứ nhất, thi hành án dân sự góp phần vào công tác giữ gìn an ninh trật
tự và an toàn xã hội.
Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan
Nhà nớc. Vì vậy, hoạt động thi hành án dân sự mang tính quyền lực, cỡng chế,
thể hiện trách nhiệm của Nhà nớc trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Trong giai đoạn xây dựng đất nớc hiện nay, khi nền kinh tế thị

khuyết, nâng cao chất lợng và hiệu quả công tác của mình. Đồng thời cũng là
cơ sở để Toà án nhân dân tối cao tổng kết đúc rút kinh nghiệm đa ra đờng lối
xét xử chung, thống nhất trong toàn ngành.
Thứ t, thông qua công tác thi hành án dân sự nhằm nâng cao ý thức pháp
luật của nhân dân.
Thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ của riêng cơ quan thi
hành án dân sự mà đó là sự kết hợp với vai trò và trách nhiệm của các cấp uỷ
Đảng, chính quyền địa phơng là sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức hữu
quan và mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội. Thông qua thi hành án dân sự
ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân ngày càng đợc nâng cao, vai trò trách
nhiệm của các cơ quan tổ chức đợc đảm bảo, niềm tin của nhân dân vào hệ
thống pháp luật, vào bộ máy của Nhà nớc ngày càng đợc củng cố.
7
Ii/ Quá trình hình thành và phát triển của
những quy định về thi hành án dân sự.
1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990
Có thể nói rằng giai đoạn này là một giai đoạn mà công tác thi hành án
dân sự gặp rất nhiều khó khăn. Thi hành án còn là một bộ phận nằm trong cơ
cấu của Toà án. Lúc này cùng một lúc Toà án phải thực hiện hai chức năng đó
là chức năng xét xử và chức năng thi hành án. Đây là thời kỳ đất nớc cha hoàn
toàn thống nhất, bên cạnh đó là một nền kinh tế bao cấp đầy những khó khăn
và yếu kém. Chính vì vậy những văn bản pháp luật nói chung và các văn bản
thi hành án nói riêng còn rất ít, rất lẻ.
Công việc thi hành án giai đoạn này chủ yếu đợc tiến hành dới sự hớng
dẫn của các Thông t do Toà án nhân dân tối cao ban hành những quy định về
vấn đề này còn bị hạn chế rất nhiều nên việc thực hiện trên thực tế kém hiệu
quả. Hầu nh các bản án, quyết định do Toà án tuyên khi đa vào thi hành số l-
ợng đạt đợc rất ít.
Đặc trng của thi hành án dân sự trong giai đoạn này là Toà án luôn chủ
động trong thi hành án, quyền định đoạt của đơng sự về thi hành án cha đợc

xong chức năng xét xử. Nhng để bản án đó có hiệu lực khả thi thì Toà án còn
phải thực hiện chức năng thi hành án. Hai nhiệm vụ này giải quyết xong thì có
nghĩa là Toà án đã thực hiện việc bảo vệ quyền lợi, nghĩa vụ của các đơng sự
đợc pháp luật bảo vệ. Để ra một quyết định một thi hành án Toà phải cấp một
bản sao bản án hoặc quyết định của mình cho ngời thi hành án và ngời đợc thi
hành án để hai bên tự nguyện thoả thuận thi hành án cho nhau trong vòng 30
ngày. Hết 30 ngày hai bên vẫn không thoả thuận đợc việc thi hành án thì sẽ
xảy ra hai trờng hợp:
Một là: Toà án sẽ theo đơn yêu cầu thi hành án của ngời đợc thi hành án
mà can thiệp vào quá trình thi hành án đó.
Hai là: Toà án trực tiếp tổ chức thi hành án theo qui định của pháp luật.
9
Song chủ yếu ở giai đoạn này Toà án vẫn giữ vai trò chủ động trong quá
trình thi hành án và trong một số trờng hợp cần thiết Toà án phải ra quyết định
thi hành án ngay đó là:
- Vấn đề cấp dỡng;
- Trả tiền bồi thờng án phí;
- Bồi thờng thiệt hại... và một số trờng hợp khác.
Nh vậy, cùng một lúc Toà án vẫn kiêm nhiệm hai chức năng và Pháp
lệnh thi hành án dân sự năm 1989 không thể hiện đợc điểm mạnh của mình.
ở đây đặt ra một vấn đề là pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 qui
định chỉ có ngời đợc thi hành án mới có quyền làm đơn nộp cho Toà án yêu
cầu thi hành án mà Hiến Pháp năm 1992 qui định: Mọi công dân điều bình
đẳng trớc pháp luật đã không đợc thể chế hoá trong các điều luật một cách rõ
ràng, cụ thể, xác đáng. Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 qui định ngời
phải thi hành án chỉ có quyền hoãn thi hành án trong trờng hợp đặc biệt cần
thiết hoặc đợc phía ngời đợc thi hành án và Toà án chấp nhận. Giả thiết cho
rằng nếu ngời phải thi hành án cũng muốn nộp đơn yêu cầu thi hành án thì
sao? Pháp luật của chúng ta sẽ giải quyết nh thế nào? Bởi vì trờng hợp này vẫn
thờng xảy ra sau khi có quyết định giải quyết các vụ việc của Toà án.

đời, khi Toà án chuyển chức năng thi hành án sang cho cơ quan thi hành án
thì: tổng số án còn tồn đọng là 217877 vụ. Trong đó số án có điều kiện thi
hành là 174306 vụ, số án không có điều kiện thi hành là 43571 vụ. Trong số
174 306 vụ có điều kiện thi hành thì số án có khả năng thi hành là 149 206 vụ
và đã có 71466 vụ đã thi hành xong, 77740 vụ thi hành dở dang, 25100 vụ cha
thi hành đợc.
Chính vì những con số còn tồn đọng nhiều nh vậy nên phải chuyển chức
năng thi hành án sang cho cơ quan chuyên môn - Cơ quan thi hành án.
Cơ quan thi hành án ra đời là một tất yếu trong sự phát triển và hoàn
thiện của hệ thống T pháp Việt Nam. Cơ quan thi hành án ra đời đã góp phần
giải quyết số án tồn đọng từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang năm
khác. Dần dần số lợng bản án, quyết định của Toà án sẽ đợc thi hành một cách
kịp thời nhanh gọn.
11
Khác với một số nớc trên thế giới ở nớc ta do cơ quan thi hành án nằm
trong hệ thống cơ quan Nhà nớc đảm nhiệm. ở một số nớc nh Pháp, Thuỵ
Điển việc xã hội hoá công tác thi hành án dân sự rất cao. Thi hành án cũng có
thể đợc thực hiện bởi những ngời không thuộc biên chế của nhà nớc. Các cán
bộ thi hành án rất ít phải dùng biện pháp cỡng chế thi hành án.
ở nớc ta số lợng bản án đợc các bên tự nguyện thi hành là rất ít nên hầu
nh phải có sự can thiệp của cơ quan thi hành án thông qua sự hoạt động cỡng
chế của các chấp hành viên. Trong khi thực hiện các biện pháp cỡng chế chấp
hành viên là ngời nhân danh quyền lực Nhà nớc để thực hiện nhiệm vụ đợc
Nhà nớc giao cho, nh vậy mới đảm bảo đợc hiệu quả của công việc. Và điều
này hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của nớc
ta, cũng nh bản chất riêng của hoạt động thi hành án.
Giai đoạn thi hành án dân sự là một giai đoạn khó khăn, phức tạp, cho
nên để làm tốt giai đoạn này đòi hỏi các cán bộ thi hành án phải nắm chắc các
qui định cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự. Kể từ khi Pháp lệnh thi hành
án dân sự năm 1993 đợc ban hành đã có trên 10 năm áp dụng vào thực tiễn.

vào việc đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự làm cho công tác này ngày
càng đạt đợc hiệu quả.
13
Chơng II
Nội dung một số qui định cơ bản của pháp luật về thi
hành án dân sự
I. Một số qui định chung.
Khi bản án, quyết định của Toà án đã đợc đa ra thi hành, thì việc thi
hành những bản án, quyết định nhằm đảm bảo quyền lợi của các đơng sự đã đ-
ợc Toà án giải quyết theo qui định của pháp luật. Đồng thời hiệu lực của bản
án, quyết định của Toà án chính là thể hiện quyền lực của Nhà nớc, cho nên thi
hành nghiêm chỉnh những bản án, quyết định đó cũng nhằm tăng cờng trật tự,
kỷ cơng xã hội, giáo dục mọi công dân ý thức tôn trọng pháp luật.
Theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 phạm vi những bản án,
quyết định thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự rất rộng bao gồm:
- Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế;
- Bản án, quyết định dân sự của Toà án nớc ngoài, quyết định của trọng
tài nớc ngoài đợc Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
- Quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài
sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của
Toà án hình sự;
- Quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Toà án về
hành chính;
- Quyết định tuyên bố phá sản;
- Quyết định của Trọng tài thơng mại Việt nam;
- Bản án, quyết định khác do pháp luật qui định;
Trong phần này chúng tôi xin tập trung trình bày làm rõ những qui định
cơ bản nhất của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004.
1. Những bản án, quyết định đợc đa ra thi hành
14

kịp thời các quyền và lợi ích chính đáng của đơng sự đợc Nhà nớc thừa nhận
và bảo hộ.
Trờng hợp những bản án, quyết định cha có hiệu lực pháp luật đợc thi
hành ngay khi đã đa ra thi hành mà bị kháng cáo, kháng nghị thì cơ quan thi
hành án vẫn tiếp tục cho thi hành và chỉ xoá sổ thụ lý khi có bản án, quyết định
của Toà án có thẩm quyền.
Các quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có thể bị khiếu nại.
Việc khiếu nại không làm đình chỉ thi hành chúng. Cơ quan thi hành án chỉ
đình chỉ việc thi hành quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời bị khiếu nại khi
ngời có thẩm quyền giải quyết khiếu nại huỷ bỏ chúng hoặc đã có bản án,
quyết định của Toà án về vụ án huỷ bỏ chúng.
Nh vậy, theo Điều 2 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì chúng ta
thấy rằng những bản án, quyết định có hiệu lực thi hành không đồng nghĩa
với những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà những bản án, quyết
định có hiệu lực thi hành bao gồm một phạm vi rộng lớn hơn. Do vậy, những
bản án, quyết định mặc dù cha có hiệu lực pháp luật nhng đợc thi hành ngay
phải đợc đa ra thi hành theo đúng qui định của pháp luật nh bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật để góp phần bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích chính
đáng của các bên đơng sự, các vụ việc dân sự đợc giải quyết nhanh chóng và
có hiệu quả.
Khi bản án, quyết định của Toà án đợc thi hành thì Toà án đã tuyên bản
án, quyết định đó phải cấp cho ngời đợc thi hành án và ngời phải thi hành án
bản sao bản án hoặc quyết định có ghi: để thi hành. Khi các bản sao bản án,
quyết định Toà án giải thích cho ngời đợc thi hành án biết quyền làm đơn và
thi hành án.
2. Thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
16
Việc xác định thẩm quyền thi hành án dựa trên cơ sở nơi nào Cơ quan
thi hành án có điều kiện tổ chức thi hành án tốt thì thủ trởng Cơ quan thi hành
án nơi đó có quyền ra quyết định thi hành án.

án, quyết định sau:
+ Quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Toà án quân sự quân
khu, Toà án quân sự khu vực trên địa bàn của Toà án quân sự quân khu;
+ Quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Toà án quân sự Trung -
ơng chuyển giao cho Cơ quan thi hành án cấp quân khu;
+ Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao gửi cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu;
+ Bản án quyết định do Cơ quan thi hành án nơi khác uỷ thác.
Thủ trởng Cơ quan thi hành án cấp huyện ra quyết định bản án, quyết
định sơ thẩm của Toà án cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của Toà án
cấp tỉnh; bản án, quyết định Toà án nhân dân tối cao gửi cho Cơ quan thi hành
án cấp huyện; bản án, quyết định do Cơ quan thi hành án nơi khác uỷ thác.
3. Uỷ thác thi hành án
Việc uỷ thác thi hành án là việc Cơ quan thi hành án có thẩm quyền
giao lại việc thi hành án cho Cơ quan thi hành án khác. Để đảm bảo việc thi
hành án, pháp luật qui định trong trờng hợp bản án, quyết định có liên quan
đến nhiều ngời phải thi hành án mà những ngời này c trú ở nhiều nơi khác
nhau, hoặc tài sản thu nhập của họ ở những nơi khác nhau, ngời phải thi hành
án chuyển đi nơi khác thì cần phải uỷ thác thi hành án. Với những trờng hợp
này, việc uỷ thác thi hành án nhằm đảm bảo việc thi hành án có hiệu quả, bảo
vệ quyền lợi chính đáng của nhà nớc, của xã hội và của mọi công dân. Trớc
đây việc uỷ thác thi hành án đợc qui định tại Điều 4 Pháp lệnh thi hành án dân
sự năm 1993 và Điều 2, Điều 3, Điều 4, Điều 5 Nghị định 69/CP ngày
18/10/1993 của Chính Phủ. Hiện nay, uỷ thác thi hành án dân sự đợc qui định
tại Điều 24 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004.
Thẩm quyền ra quyết định uỷ thác thuộc thủ trởng Cơ quan thi hành án
cấp tỉnh, thủ trởng Cơ quan thi hành án quân sự và thủ trởng Cơ quan thi hành
án cấp huyện. Khi uỷ thác phải ra quyết định uỷ thác thời hạn ra quyết định uỷ
18
thác không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định có căn cứ uỷ thác.

Nhiệm vụ của thi hành án dân sự là phải thi hành nghiêm chỉnh kịp thời,
đúng đắn bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án . Vì vậy theo
qui định tại Điều 18 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì khi bản án,
quyết định có hiệu lực thi hành thì Toà án có nghĩa vụ cấp cho ngời đợc thi
hành án và ngời phải thi hành án bản sao bản án, quyết định có ghi để thi
hành. Việc cấp bản sao bản án, quyết định trong thời điểm này nhằm làm cơ
sở để ngời phải thi hành án thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đợc qui định
trong bản án, quyết định của Toà án. Đồng thời làm căn cứ để ngời đợc thi
hành án thực hiện yêu cầu thi hành án của mình. Để đảm bảo quyền lợi cho
ngời đợc thi hành án, khi cấp bản sao bản án, quyết định Toà án đồng thời phải
giải thích luôn cho họ biết quyền làm đơn yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi
hành án và các vấn đề khác có liên quan đến việc thi hành án nh: quyền yêu
cầu hoãn thi hành án, quyền yêu cầu không thi hành án một phần hay toàn bộ
bản án, quyết định của Toà án.
Pháp luật tố tụng không qui định cụ thể thời hạn cấp bản sao bản án,
quyết định của Toà án cho đơng sự. Nhng về nguyên tắc, kể từ khi bản án,
quyết định đợc thi hành thì Toà án phải cấp cho đơng sự. Việc cấp bản sao bản
án, quyết định của Toà án đợc tiến hành trong một thời hạn nhất định. Đối với
bản án, quyết định sơ thẩm Toà án cấp ngay sau khi hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị mà đơng sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
Đối với bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm thì ngay sau khi Toà án xét xử xong phải cấp ngay cho đơng sự
bản sao bản án, quyết định đó.
b, Thủ tục chuyển giao bản sao bản án, quyết định của Toà án cho cơ
quan thi hành án .
Ngoài thủ tục cấp bản sao bản án, quyết định của Toà án cho đơng sự
Toà án còn có nghĩa vụ chuyển giao bản sao bản án, quyết định cho cơ quan
thi hành án bởi lý do sau:
Thứ nhất, bên cạnh quyền yêu cầu thi hành án của đơng sự, Pháp luật
còn qui định cho cơ quan thi hành án quyền chủ động đa ra thi hành án những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status