Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc quản lý đầu tư và xây dựng là
quản lý tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt
dự án đầu tư. Thẩm định dự án được xem như một nhu cầu không thể thiếu và là cơ
sở để ra quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư.
Thẩm định dự án được tiến hành đối với tất cả các dự án thuộc mọi nguồn vốn,
mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, yêu cầu thẩm định đối với các dự án này là khác
nhau. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu
quả hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước nhằm tranh thủ mọi tiềm năng, cơ hội để
phát triển kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một bộ phận không thể
thiếu, đóng góp ngày càng lớn vào việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội của
đất nước. Là một nguồn vốn giữ vai trò quan trọng và được triển khai theo những
dự án lớn, Việt Nam cần nhận những dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tốt mang lại
lợi ích cho tổng thể nền kinh tế và loại bỏ những dự án xấu. Để thực hiện được mục
tiêu đó, quá trình đánh giá các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở thẩm
định là hết sức quan trọng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư với tư cách là cơ quan đầu mối
trong việc thu hút, quản lý các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thường xuyên chú
trọng tới công tác thẩm định dự án đầu tư để ra quyết định đầu tư hoặc đề xuất báo
cáo trình Chính Phủ quyết định. Để đưa ra những quyết định ngày càng đúng đắn và
phát huy mạnh mẽ hơn nữa hiệu qủa của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ,
việc nâng cao chất lượng tiến tới hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài được đặt ra ngày càng bức xúc.
Xuất phát từ lý do trên, cùng với lòng nhiệt tình muốn nâng cao hiểu biết về lĩnh
vực thẩm định dự án, trong thời gian thực tập tại Văn phòng thẩm định - Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, em đã tập trung đi sâu tìm hiểu công tác thẩm định đối với các dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài và đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn
thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch
và Đầu tư ”.
Trang 1
Do sự hiểu biết và thời gian thực tập có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô

tư trực tiếp nước ngoài
1.2.3.1.Các bước thẩm định
1.2.3.2. Cơ quan, đơn vị thực hiện thẩm định
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Trang 3
1.2.4.1.Phương pháp thẩm định
1.2.4.2. Lựa chọn đối tác
1.2.4.3.Môi trường pháp luật
1.2.4.4.Thông tin
1.2.4.5.Quy trình thực hiện thẩm định
1.2.4.6.Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.4.7.Đội ngũ cán bộ thẩm định
1.2.4.8. Vấn đề định lượng và tiêu chuẩn trong thẩm định dự án
CHƯƠNG 2:
Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
2.1. Khái quát chung về các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian
qua
2.1.1. Tình hình cấp giấy phép đầu tư
2.1.2. Tình hình thực hiện dự án
2.1.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư
2.1.4. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành, lĩnh vực
2.1.5. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư
2.2. Quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ
Kế hoạch và Đầu tư
2.3. Ví dụ về thẩm định một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế
hoạch và Đầu tư
2.4. Đánh giá thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

+ Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự
án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với
một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế
hoạch làm việc của dự án .
+ Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các
hoạt động của dự án . Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư
cần cho dự án .
Trang 6
Trong 4 thành phần trên thì các kết quả được coi là cột mốc đánh dấu tiến độ của
dự án . Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi các đánh
giá kết quả đạt được. Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp tới việc tạo ra các
kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệt quan tâm.
1.1.2.Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài .
1.1.2.1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
( FDI)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước sở tại
vốn hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế bao
gồm đầu tư trực tiếp ( FDI ),đầu tư qua thị trường chứng khoán (porfolio), cho vay
của các tổ chức kinh tế và các ngân hàng nước ngoài (vay thương mại ), nguồn vốn
viện trợ phát triển chính thức ( ODA). Vay thương mại lãi suất cao nên dễ trở thành
gánh nặng về nợ nước ngoài trong tương lai. Viện trợ bao gồm viện trợ không hoàn
lại và cho vay dài hạn với lãi suất thấp từ các tổ chức quốc tế hoặc chính phủ các
nước tiên tiến. Viện trợ không hoàn lại không trở thành nợ nước ngoài nhưng quy
mô nhỏ và thường chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và cứu trợ. Đầu tư
qua thị trường chứng khoán cũng không trở thành nợ nhưng sự thay đổi đột ngột
trong hành động ( bán chứng khoán, rút tiền về nước) của nhà đầu tư nước ngoài
ảnh hưởng mạnh đến thị trường vốn, gây biến động tỷ giá và các mặt khác của nền
kinh tế vĩ mô. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) cũng là hình thức đầu tư không
trở thành nợ. Đây là nguồn vốn có tính chất “bén rễ” ở bản xứ nên không dễ rút đi

to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các
nước nhận đầu tư . Cụ thể là:
+ Đối với các nước đầu tư , đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử
dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư , hạ giá thành sản phẩm và nâng
cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng, được thị trường cung cấp nguyên
liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng
sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy
sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị
trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.
Trang 8
+ Đối với các nước nhận đầu tư : hiện nay có hai dòng chảy của vốn đầu tư
nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dòng chảy vào các nước
đang phát triển.
- Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải
quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát…
Qua FDI, các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty, doanh
nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo
công ăn việc làm cho người lao động.
FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải
thiện tình hình bội chi ngân sách , tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát
triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh
nghiệm quản lý của các nước khác.
- Đối với các nước đang phát triển, FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh
tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động,
giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. Theo thống kê của
Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp của các nước đang
phát triển chiếm khoảng 35- 38% tổng số lao động.
FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. Nhờ
vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan hiếm được
giải quyết, đặc biệt là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá_ thời kỳ mà thông

tư nước ngoài về nội dung, hình thức đầu tư . Các hình thức đầu tư nước ngoài cơ
bản là:
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh
+ Doanh nghiệp liên doanh
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
+ Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao ( BOT – BTO – BT )

1.1.2.2.1.Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Trang 10
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa các bên hợp doanh quy
định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư
kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh có các đặc điểm sau:
- Về đối tượng áp dụng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh:
Việc chọn hình thức đầu tư do người đầu tư quyết định. Tuy vậy Nhà nước
cũng có những quy định để hướng dẫn người đầu tư . Tại Việt Nam, nhà nước quy
định việc xây dựng, kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thông nội hạt chỉ
thực hiện theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Một số lĩnh vực khác có thể
áp dụng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp liên doanh như:
khai thác chế biến dầu khí, xây dựng kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu chế
xuất; xây dựng; vận tải; du lịch lữ hành… và những lĩnh vực không thuộc lĩnh vực
đầu tư có điều kiện theo quy định tại Nghị định số 10/1998/NĐ-CP.
- Khi thực hiện hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên tham gia
không thành lập pháp nhân chung mà mỗi bên giữ pháp nhân của mình và
chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp luật. Tuy vậy, Chính
phủ cho phép, trong quá trình kinh doanh, các bên hợp doanh được quyền
thoả thuận lập Ban điều phối để làm nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc thực
hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ban điều phối này không phải là đại diện
pháp lý cho các bên hợp doanh. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của
ban điều phối do các bên hợp doanh thoả thuận.

thành lập doanh nghiệp, được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp. Theo Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, vốn pháp định doanh nghiệp liên doanh phải ít nhất bằng
30% vốn đầu tư của doanh nghiệp. Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể thấp
hơn 30% nhưng phải được cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp
thuận. Thông thường, đó là trường hợp của các doanh nghiệp liên doanh về xây
dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, các doanh
nghiệp liên doanh ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, các doanh nghiệp liên doanh trồng
Trang 12
rừng. Đối với các doanh nghiệp liên doanh nói trên, vốn pháp định có thể thấp đến
20% vốn đầu tư .
Trong những khoản vốn góp của bên Việt Nam, nhà đầu tư thường quan tâm
khoản góp bằng giá trị quyền sử dụng đất.
Giá trị quyền sử dụng đất góp vốn liên doanh được xác định bằng tiền thuê đất
tương ứng với thời hạn liên doanh. Trong thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam có
thể góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất với thời hạn ít hơn thời hạn hoạt động
của liên doanh.
Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mình, mỗi quốc gia có thể quy định giới hạn
phần góp vốn của bên nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh (thường không
quá 49%). Với nước ta, nhằm thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài, trong Luật đầu
tư nước ngoài quy định phần góp vốn của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài
vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh không bị hạn chế về mức cao nhất
theo sự thoả thuận của các bên nhưng không dưới 30% vốn pháp định trừ những
trường hợp do Chính phủ quy định. Trong một số trường hợp, căn cứ vào lĩnh vực
kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế xã hội
khác của dự án, cơ quan cấp giấy phép đầu tư có thể xem xét cho phép bên nước
ngoài tham gia liên doanh có tỷ lệ góp vốn pháp định thấp đến 20%.
Luật đầu tư nước ngoài không quy định mức tối thiểu bên Việt Nam phải góp
vốn, nhưng trên thực tế bên Việt Nam thường góp 30-40% vốn pháp định. Đối với
doanh nghiệp liên doanh nhiều bên, Chính phủ sẽ quy định tỷ lệ góp vốn tối thiểu
của mỗi bên Việt Nam. Đối với những dự án quan trọng do Chính phủ quy định, khi

giữa các thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp. Những vấn đề quan
trọng đó là:
. Bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, phó Tổng giám đốc thứ nhất, kế toán
trưởng.
. Sửa đổi, bổ sung điều lệ doanh nghiệp liên doanh .
. Duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm và quyết toán công trình xây
dựng cơ bản.
. Vay vốn đầu tư .
Các bên tham gia liên doanh có thể thoả thuận trong điều lệ doanh nghiệp các
vấn đề khác cần được quyết định theo nguyên tắc nhất trí.
Trang 14
Đối với những vấn đề khác, Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc biểu
quyết quá bán số thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp.
b. Tổng giám đốc và các phó Tổng giám đốc.
Tổng giám đốc và các phó Tổng giám đốc doanh nghiệp liên doanh có nhiệm vụ
quản lý và điều hành công việc hàng ngày của doanh nghiệp.
+ Tổng giám đốc là người đại diện cho doanh nghiệp trước toà án và cơ quan
nhà nước.
+ Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về hoạt động của
doanh nghiệp liên doanh
Vấn đề thuê tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, tính chất của dự án , Hội đồng quản trị của
doanh nghiệp liên doanh được thuê tổ chức quản lý để điều hành hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn thuê tổ chức quản lý phải có
các điều kiện theo quy định.
1.1.2.2.3. Doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý
và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

thường trú tại Việt Nam thì phải uỷ quyền cho người đại diện của mình và người đại
diện đó phải là người thường trú tại Việt Nam.
1.1.2.2.4. Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao.
Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao ( viết tắt theo tiéng Anh là BOT)
là một thuật ngữ để chỉ một mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhân để
thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước. “ Tài
trợ dự án ” là điểm mấu chốt của phương thức đầu tư BOT, nghĩa là các bên cho vay
Trang 16
xem xét tới tài sản và nguồn thu của dự án để hoàn trả lại vốn vay thay vì các nguồn
bảo lãnh khác như bảo lãnh của Chính phủ hay tài sản của các nhà tài trợ dự án .
BOT là một hình thức đầu tư còn mới ở Việt Nam nhưng nó đã được triển khai
thành công ở nhiều nước trên thế giới nhất là các nước đang phát triển (như Trung
Quốc, Philippin) thiếu vốn để phát triển cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Ngày
23/12/1992 Quốc hội CHXHCN Việt Nam đã bổ sung hình thức đầu tư BOT vào
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định
87CP ngày 23/11/1993 và Nghị định 62/1998/NĐ-CP về quy chế đầu tư theo hợp
đồng BOT cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Theo loại hình đầu tư này có 3 hình thức đầu tư :
- Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT) ;
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh ( BTO);
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT);
Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước chủ nhà có thẩm quyền
và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng( kể cả mở rộng,
nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong một thời hạn nhất định để
thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước chủ nhà.
Hợp đồng BTO có nội dung khác với BOT là: sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư
nước ngoài chuyển giao ngay công trình đó cho nước chủ nhà, Chính phủ nước chủ
nhà sẽ dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh công trình đó trong một
thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý.

động.
- Phân bổ rủi ro của dự án và các gánh nặng mà nếu không sẽ phải do khu vực
nhà nước gánh chịu. Khu vực tư nhân chịu trách nhiệm vận hành, bảo dưỡng
và đối với đầu ra của dự án trong một giai đoạn được mở rộng (thông
thường, Chính phủ sẽ chỉ nhận được bảo đảm cho giai đoạn xây dựng thông
thường và bảo hành thiết bị).
- Sự tham gia của các nhà tài trợ tư nhân và các bên cho vay thương mại có
kinh nghiệm để bảo đảm có được sự đánh giá sâu sắc và là một dấu hiệu
thêm đối với tính khả thi của dự án .
- Chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân sự của địa phương và phát triển thị
trường vốn quốc gia.
Trang 18
- Trái với việc tư nhân hoá hoàn toàn, Chính phủ vẫn nắm quyền kiểm soát có
tính chiến lược đối với dự án mà sẽ được chuyển giao cho khu vực nhà nước
vào cuối giai đoạn đặc quyền.
- Có cơ hội để tạo ra được một phương pháp chuẩn của khu vực tư nhân để
qua phương pháp chuẩn này có thể tính toán được hiệu quả của các dự án
tương tự thuộc khu vực nhà nước và các cơ hội tăng cường công tác quản lý
nhà nước đối với các công trình cơ sở hạ tầng.
Tuy nhiên phương thức BOT không phải là một phương pháp chữa bách bệnh
cho một chính phủ. Các dự án BOT là vô cùng phức tạp cả về phương diện pháp lý
và tài chính. Các dự án này cần phải có thời gian để phát triển và đàm phán. Các dự
án này cần có sự tham gia và hỗ trợ của nước chủ nhà, cần một môi trường pháp lý
và kinh tế phù hợp, sự ổn định về chính trị, đồng tiền có thể chuyển đổi tự do cũng
như các yếu tố khác phù hợp với đầu tư nước ngoài nói chung.
Một thách thức chủ yếu đối với các nước đang phát triển là việc xác định các
nhân tố làm cho các dự án của khu vực tư nhân có thể tài trợ được. Bởi vì phương
thức đầu tư BOT đòi hỏi phải có hình thức tài trợ dự án cơ sở hạ tầng do khu vực tư
nhân đảm nhận nên thường có một khái niệm sai lạc chung là bản chất “công” của
dự án loại này hầu như bị bỏ qua và chính phủ nước chủ nhà thường giả định rằng

- Ngân hàng Nhà nước bảo đảm cho doanh nghiệp BOT được chuyển đổi
tiền Việt Nam thu được do thực hiện dự án BOT,BTO,BT và dự án khác ra
tiền nước ngoài để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh, trả nợ vốn và lãi
các khoản vay, chuyển lợi nhuận và vốn ra nước ngoài.
- Trong qúa trình thực hiện dự án , doanh nghiệp BOT được cầm cố, thế chấp
các tài sản sau đây:
 Thiết bị, nhà xưởng, công trình kiến trúc và bất động sản được mua sắm,
xây dựng bằng vốn đầu tư của mình.
 Các tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp BOT
 Giá trị quyền sử dụng đất
 Các quyền tài sản của doanh nghiệp.
- Chính phủ Việt Nam bảo đảm cho doanh nghiệp BOT được sử dụng đất
đai, đường giao thông và các công trình phụ trợ công cộng khác để thực
hiện dự án BOT,BTO,BT.
Trang 20
- Doanh nghiệp BOT được miễn tiền thuê đất trong thời gian thực hiện dự
án .
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án đầu tư có trách nhiệm tổ chức việc
đền bù, giải phóng mặt bằng, hoàn thành thủ tục giao đất cho doanh nghiệp
BOT. Chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng do nhầ đầu tư nước ngoài trả và
được tính vào tổng vốn đầu tư .
Phương thức thực hiện dự án BOT,BTO,BT.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục dự án đầu tư theo hợp đồng
BOT,BTO,BT.
- Trên cơ sở danh mục được duyệt, hoặc dự án ngoài danh mục được Thủ
tướng Chính phủ chấp thuận, cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập báo cáo
nghiên cứu khả thi. Đối với dự án ngoài danh mục được duyệt, nhà đầu tư
nước ngoài lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.
- Việc chọn nhà đầu tư nước ngoài ký hợp đồng BOT,BTO,BT được thực hiện

học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự
án, từ đó ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư .Đây là một quá trình kiểm tra,
đánh giá các nội dung của dự án một cách độc lập tách biệt với quá trình soạn thảo
dự án. Thẩm định dự án tạo ra cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả.
Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền
của nhà nước ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư .
Thẩm định dự án đầu tư là cần thiết bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ mô của nhà
nước đối với các hoạt động đầu tư . Nhà nước với chức năng công quyền của mình
sẽ can thiệp vào quá trình lựa chọn các dự án đầu tư .
Tất cả các dự án đầu tư thuộc mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế đều phải
đóng góp vào lợi ích chung của đất nước. Bởi vậy trước khi ra quyết định đầu tư
hay cho phép đầu tư, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cần biết xem dự án
đó có góp phần đạt được mục tiêu của quốc gia hay không, nếu có thì bằng cách nào
và đến mức độ nào. Việc xem xét này gọi là thẩm định dự án .
Một dự án đầu tư dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũng vẫn mang
tính chủ quan của người soạn thảo. Vì vậy để đảm bảo tính khách quan của dự án ,
Trang 22
cần thiết phải thẩm định. Các nhà thẩm định thường có cách nhìn rộng trong việc
đánh giá dự án. Họ xuất phát từ lợi ích chung của toàn xã hội, toàn cộng đồng để
xem xét các lợi ích kinh tế- xã hội mà dự án đem lại. Mặt khác, khi soạn thảo dự án
có thể có những sai sót, các ý kiến có thể mâu thuẫn, không logic, thậm chí có thể có
những sơ hở gây ra tranh chấp giữa các đối tác tham gia đầu tư. Thẩm định dự án là
cần thiết. Nó là một bộ phận của công tác quản lý nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu
tư có hiệu quả.
Thẩm định dự án nhằm các mục đích sau đây:
- Đánh giá tính hợp lý của dự án : tính hợp lý được biểu hiện một cách tổng
hợp ( biểu hiện trong tính hiệu quả và tính khả thi) và được biểu hiện ở từng
nội dung và cách thức tính toán của dự án.
- Đánh giá tính hiệu quả của dự án: hiệu quả của dự án được xem xét trên hai
phương diện: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án.

Thẩm định tài chính dự án nhằm mục đích:
- Xem xét nhu cầu, sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có
hiệu quả các dự án đầu tư.
- Xem xét tình hình, kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độ
hạch toán kinh tế của đơn vị thực hiện dự án .Có nghĩa là xem xét những
chi phí sẽ và phải thực hiện kể từ khi soạn thảo cho đến khi kết thúc dự án,
xem xét những lợi ích mà đơn vị thực hiện dự án sẽ hoặc phải đạt được nhờ
thực hiện dự án. Trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả về mặt tài chính để
quyết định có nên đầu tư hay không. Nhà nước cũng căn cứ vào đây để xem
xét dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có lợi ích tài chính hay không và dự
án có an toàn về mặt tài chính hay không.
Hiện tại hóa các giá trị theo thời gian:
Phân tích đánh giá tài chính của dự án có liên quan mật thiết với một vấn đề
là hiện tại hóa các giá trị theo thời gian, vì vậy trước khi nói tới các tiêu chuẩn đánh
giá dự án, chúng ta hãy xem xét vấn đề này.
Trang 24
Một trong các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư là các lợi ích và chi phí
phát sinh ở các giai đoạn khác nhau. Nhưng giá trị đồng tiền ở các thời điểm khác
nhau không như nhau, vì vậy cần đến một phương pháp quy đổi các giá trị đồng tiền
ở các thời điểm khác nhau về cùng một thời điểm để xem xét và đánh giá. Điều đó
chẳng những cho phép xem xét đánh giá dự án mà tạo điều kiện để so sánh lựa chọn
các dự án. Kỹ thuật chuyển đổi giá trị tiền tệ tại các thời điểm khác nhau về thời
điểm hiện tại gọi là hiện tại hoá.
Về nguyên tắc có thể quy đổi giá trị tiền tệ tại một thời điểm về bất kỳ một
thời điểm nào. Phương pháp quy đổi như sau:
Giá trị tương lai (V
t
) của một lượng tiền hiện tại (V
0
) được xác định như sau:

Hay xác định giá trị hiện tại của một dãy các giá trị quá khứ:

( )
PV
1+ r
t
t
v
=
=

t
m
0
(4)
Trong đó: n, m - là thứ tự thời gian tính từ thời điểm hiện tại hóa (0), nghĩa
là: n = 1,2, 3.....; m = -1, -2, -3.....
Trong trường hợp tỷ lệ chiết khấu thay đổi theo thời gian thì công thức thứ (3)
có dạng sau:
Trang 25

Trích đoạn Tư cách pháp lý và năng lực tài chính của các nhà đầu tư. Lợi ích về mặt kinh tế-xã hội của dự án: Đánh giá tác động môi trường của dự án: Bước đầu rút ngắn được thời gian thẩm định cấp phép. Chất lượng các luận chứng kinh tế-kỹ thuật cho quá trình thẩm định
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status