Phân tích thực trạng tiêu thụ của Công ty xăng dầu Hà Giang - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU
Tiêu thụ sản phẩm là một trong sáu chức năng hoạt động cơ bản của doanh
nghiệp: tiêu thụ, sản xuất, hậu cần kinh doanh, tài chính, kế toán và quản trị doanh
nghiệp. Mặc dù sản xuất là chức năng trực tiếp tạo ra sản phẩm song tiêu thụ lại
đóng vai trò là điều kiện tiền đề không thể thiếu để sản xuất có hiệu quả.
Quản trị kinh doanh truyền thống quan niệm tiêu thụ là hoạt động đi sau sản
xuất, chỉ được thực hiện khi đã sản xuất được sản phẩm. Trong cơ chế thị trường,
mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tuỳ thuộc vào khả năng tiêu thụ, nhịp độ tiêu
thụ qui định nhịp độ sản xuất, thị hiếu của người tiêu dùng về sản phẩm qui định
chất lượng của sản xuất. Người sản xuất chỉ có thể phải bán cái mà thị trường cần
chứ không thể bán cái mà mình có. Vì vậy, quản trị kinh doanh hiện đại quan niệm
một số nội dung hoạt động tiêu thụ đứng ở vị trí trước hoạt động sản xuất và tác
động mạnh mẽ có tính chất quyết định đến hoạt động sản xuất.
Công ty Xăng dầu Hà Giang là một doanh nghiệp nhà nước với hình thức
hoạt động chính là kinh doanh xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu. Trải qua 37 năm
hoạt động ở cả hai cơ chế: (cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp và cơ chế thị
trường) Công ty Xăng dầu Hà Giang đã từng bước vươn lên để khẳng định mình,
gây được chữ tín đối với khách hàng trong và ngoài tỉnh nhờ chất lượng phục vụ và
chất lượng nhiên liệu đạt tiêu chuẩn, Công ty đã không ngừng lớn mạnh cùng với sự
phát triển nhiều mặt của đất nước. Tuy nhiên một bộ phận trong cán bộ quản lý và
người trực tiếp sản xuất chậm thay đổi được tư duy còn mang nặng cung cách làm
việc thời kỳ bao cấp: thụ động, máy móc, không khoa học do đó đã ảnh hưởng đến
hoạt động tiêu thụ xăng dầu chung toàn Công ty.
Qua thời gian thực tập tại Công ty Xăng dầu Hà Giang kết hợp với kiến thức
đã lĩnh hội được ở trường, ở các Thầy Cô, là một sinh viên khoa Quản trị kinh
Trang 1
doanh với hy vọng đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển
chung và hoàn thiện các hoạt động tiêu thụ nói riêng của Công ty Xăng dầu Hà
Giang, em mạnh dạn nghiên cứu và viết đề tài: "Một số giải pháp chủ yếu tăng
cường hoạt động tiêu thụ tại Công ty Xăng dầu Hà Giang" làm khoá luận tốt
nghiệp của mình.

Trang 3
Khi mới thành lập Chi cục Vật tư Hà Giang (nay là Công ty Xăng dầu Hà
Giang) có qui mô nhỏ bé, máy móc thiết bị lạc hậu. Tổng vốn kinh doanh có
792.000 đồng, lao động có 65 người, Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định bổ nhiệm
ông Đinh Phúc Thảnh giữ chức vụ Giám đốc Công ty.
Điện thoại: 019866435 - 019767120 - 019867122 - 019867654.
Số FAX: 019867047.
Tài khoản: 431101000029 tại Ngân hàng Nông nghiệp Hà Giang.
Mã số thuế: 5100100046 - 1.
Trang 4
2. Quá trình phát triển của Công ty
Trải qua 37 năm hoạt động kinh doanh, chức năng, nhiệm vụ của Công ty
cũng có những thay đổi song không lớn, nhưng về pháp lý cũng như về qui mô và
hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty có những thay đổi rất cơ bản:
Năm 1970 đổi tên thành Công ty Vật tư Hà Giang trực thuộc Bộ Vật tư (nay
là Bộ Thương mại). Chức năng, nhiệm vụ không có gì thay đổi, qui mô vốn và lao
động đã được tăng lên, vốn kinh doanh 1.216.000 đồng với 71 lao động.
Năm 1976 theo quyết định của Chính phủ, tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên
Quang sáp nhập thành tỉnh Hà Tuyên. Do đó Công ty Vật tư Hà Giang và Công ty
Vật tư Tuyên Quang được hợp nhất thành Công ty Vật tư tổng hợp Hà Tuyên trực
thuộc Bộ Vật tư (nay là Bộ Thương mại). Thời điểm này trụ sở chính đặt tại phường
Minh Xuân - Thị xã Tuyên Quang - Hà Tuyên. Qui mô vốn và lao động tăng nên
đáng kể, vốn kinh doanh nâng từ 792.000 đồng lên 9.823.000
đ
tăng 1.240%, lao
động tăng từ 65 người lên 97 người tăng 49% so với năm 1967.
Mặt hàng kinh doanh chủ yếu chỉ có xăng, dầu, sắt, thép, than chất đốt.
Doanh thu, lợi nhuận thấp, thu nhập của người lao động không bù đắp hao phí sức
lao động.
Năm 1991 theo quyết định của Chính phủ, tỉnh Hà Tuyên lại được chia tách

mặt khác điều kiện kinh tế Hà Giang chậm phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật còn
nghèo nàn, một thời gian dài lại trải qua cuộc chiến tranh biên giới nên thị trường rất
nhỏ hẹp, nhu cầu và sức mua thấp, phương tiện bán hàng bằng thủ công (đong trực
tiếp bằng ca, gáo..). do đó trong thời gian này Công ty chỉ hoạt động theo chỉ tiêu
pháp lệnh kém hiệu quả, doanh thu thấp.
Từ năm 1987 đến năm 1996 Công ty tiếp cận và nghiên cứu vận dụng cơ chế
quản lý mới của Đảng, cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của nhà nước. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, Hà Giang tập trung phát
triển cơ sở hạ tầng, nhiều doanh nghiệp được thành lập và hoạt động do đó thị
trường được từng bước mở rộng, nhu cầu và sức mua tăng mạnh. Để đáp ứng yêu
cầu đó Công ty xăng dầu ngày càng được đầu tư vốn, lao động và cải tiến phương
thức kinh doanh. Tuy nhiên trong thời kỳ này thiết bị kỹ thuật chưa được trang bị,
mạng lưới kinh doanh chưa mở rộng, toàn Công ty có 04 cây xăng dầu, các chính
Trang 6
sách bán hàng chưa được trú trọng. Doanh thu, lợi nhuận, nghĩa vụ nộp ngân sách
và thu nhập của người lao động có tăng nhưng không đáng kể.
Từ năm 1997 đến nay trước sức ép của khoa học kỹ thuật và các đối thủ cạnh
tranh, đòi hỏi khách quan của thị trường, Công ty Xăng dầu Hà Giang đã có những
thay đổi rất căn bản; Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật như nhà làm việc, kho tàng,
các cửa hàng xăng dầu, mua sắm và trang bị máy móc thiết bị hiện đại, tuyển dụng
và đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và nhân viên toàn công ty do đó kinh
doanh ngày càng có hiệu quả. Vốn, doanh thu, lợi nhuận, nghĩa vụ ngân sách, thu
nhập của cán bộ, công nhân viên ngày càng gia tăng, đáp ứng kịp nhu cầu ở địa
phương.
Với khả năng kinh doanh tốt, nguồn lực lao động dồi dào, thiết bị công nghệ
hiện đại Công ty xăng dầu Hà Giang đã đạt nhiều thành tích lớn được Nhà nước và
ngành tặng thưởng nhiều huân, huy chương và cờ luôn lưu. Công ty hiện nay đang
đứng vững và tiếp tục vươn lên trong cơ chế thị trường.
3. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
Công ty Xăng dầu Hà Giang là đơn vị trực thuộc Tổng công ty Xăng dầu

nhân viên.
- Quản trị và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc theo quy chế hiện hành của Nhà
nước và Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam.
II. Cơ cấu tổ chức
1. Cơ cấu sản xuất
- Hiện nay Công ty có 11 cửa hàng, các cửa hàng có trách nhiệm hoàn thành
các nhiệm vụ tổ chức các hoạt động nhập, quản lý, tiêu thụ xăng dầu, vật tư và các
sản phẩm hoá dầu; tổ chức các hoạt động trao đổi thông tin hai chiều giữa khách
hàng và Công ty về nhu cầu, tâm lý tiêu dùng, khai thác khách hàng, tác phong văn
minh phục vụ; trực tiếp thực hiện chính sách bán hàng như niêm yết giá, hoạt động
quảng cáo, khuyến mãi, giảm giá, trả chậm.
Trang 8
- Đội xe có trách nhiệm vận chuyển xăng dầu, sản phẩm hoá dầu, vật tư từ
kho đến các cửa hàng, các cơ sở đại lý và cơ sở bán buôn theo kế hoạch của công ty
hoặc theo nhu cầu đột xuất của các cửa hàng.
Trang 9
SƠ ĐỒ 01: MÔ HÌNH VẬN ĐỘNG HÀNG HOÁ CÔNG TY XĂNG DẦU HÀ
GIANG
(QUI TRÌNH LƯU THÔNG)
Đội xe vận chuyển

Đội xe vận chuyển2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị
Để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, Công ty Xăng dầu Hà Giang được tổ
chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng pháp luật, thực hiện chế độ thủ
trưởng quản lý, điều hành kinh doanh trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ của cán
bộ công nhân viên trong Công ty. Bộ máy tổ chức quản trị của Công ty được tổ
chức gọn nhẹ, tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty là: Giám đốc

quyết các công việc chuyên môn của Công ty khi được Giám đốc uỷ quyền.
- Trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về công tác kinh doanh, bao gồm
từ công tác vận chuyển hàng hoá, đảm bảo nguồn hàng, tiêu thụ, kiểm kê, tiếp thị,
quảng cáo, báo cáo thống kê, bảo toàn và phát triển nguồn vốn.
- Phụ trách công tác hành chính, thanh tra, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy,
ngoại giao, từ thiện.
2.1.3. Phó giám đốc thứ hai
Trực tiếp phụ trách công tác quản lý kỹ thuật, đo lường chất lượng, hao hụt
hàng hoá, các trang thiết bị công nghệ nhập, xuất, kho tàng, bồn bể chứa.
Trang 12
- Phụ trách công tác đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa tài sản, thay thế
thiết bị, xây dựng định mức kinh tế, định mức chi phí cửa hàng. Theo dõi, quản
lý hoạt động của tổ bảo hiểm.
2.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng phòng ban
2.2.1. Phòng Tổ chức hành chính
Biên chế có 6 nhân viên gồm 01 trưởng phòng và 05 cán bộ, Chức năng,
nhiệm vụ được qui định tại quyết định số 174/XDHG- QĐ và bản qui định tạm thời
về việc phân công chức năng nhiệm vụ của các phòng ban trực thuộc Công ty:
- Tổ chức nghiên cứu quán triệt và hướng dẫn thực hiện các văn bản qui định
của Nhà nước và Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam, nhằm đảm bảo mọi chế dộ
chính sách cho người lao động.
- Nghiên cứu xây dựng và lựa chọn mô hình tổ chức lao động, chủ động lập
kế hoạch tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng lao động, quản lý và bố trí phân công lao
động hợp lý, sử dụng cán bộ đúng năng lực chuyên môn. sao cho phù hợp với nhiệm
vụ kinh doanh.
- Xây dựng kế hoạch định mức khoán tiền lương, tiền thưởng, lựa chọn
phương thức trả lương, xét nâng lương, nâng bậc, thực hiện phân phối thu nhập cho
người lao động và công tác chính sách xã hội như BHXH, BHYT, bảo hộ lao động,
vệ sinh môi trường.
- Tổ chức thực hiện công tác huấn luyện quân sự, thanh tra bảo vệ, thi đua

- Huy động, điều hành, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh
và xây dựng cơ bản. Quản lý, bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanh,…
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch tài chính dài hạn, ngắn hạn,
xây dựng các định mức chi phí phù hợp với kế hoạch, mục tiêu kinh doanh.
- Lập và phân tích các báo cáo tài chính, lưu trữ hoá đơn, chứng từ theo đúng
chế độ qui định của Nhà nước và của ngành ban hành. Cung cấp thông tin cần thiết
về tài chính nhằm tham mưu cho lãnh đạo Công ty kịp thời chỉ đạo và điều hành
mọi hoạt động kinh doanh của Công ty.
2.2.4. Phòng Quản lý kỹ thuật
Biên chế có 04 nhân viên gồm 01 trưởng phòng và 03 cán bộ. Chức năng,
nhiệm vụ thể hiện:
- Nghiên cứu các văn bản của Nhà nước và Tổng công ty để ban hành các
tiêu chuẩn, qui trình, qui phạm thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý chất
Trang 14
lượng, hao hụt xăng dầu, định mức kinh tế kỹ thuật, bảo vệ môi trường,…để áp
dụng chung toàn Công ty.
- Quản lý chất lượng hàng hoá, đảm bảo hàng hoá đúng phẩm chất, chất
lượng. Thường xuyên kiểm tra, kiểm nghiệm hàng hoá ở tất cả các khâu vận
chuyển, nhập xuất, tồn trữ, bảo quản của các cửa hàng thuộc Công ty và cửa hàng
đại lý.
- Lập kế hoạch đầu tư, mua sắm các trang thiết bị, dụng cụ đo lường, thường
xuyên duy tu sửa chữa đảm bảo duy trì chính xác đơn vị đo của hệ thống cân đo
nhằm giảm tỷ lệ hao hụt,
- Tích cực áp dụng khoa học công nghệ mới nhằm tăng năng xuất lao động.
Quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ khâu lập dự toán, theo dõi thi công,
nghiệm thu quyết toán công trình đưa vào sử dụng.
3. Một số kết quả sản xuất kinh doanh chủ yếu (2000- 2003)
Phân tích số liệu qua 04 năm gần đây cho thấy hoạt động kinh doanh của
Công ty trong những năm qua cơ bản ổn định và tăng trưởng, mức tăng trưởng của
Công ty đạt 6 đến 9%, doanh số bán ra năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên tổng

dầu công nghệ cao phải nhập của nước ngoài. Thị trường thế giới luôn mất ổn định
do các cuộc chiến tranh vũ trang sắc tộc, tôn giáo như cuộc chiến tranh IRAQ năm
2003 và khủng hoảng kinh tế kéo dài do đó giá nhập khẩu xăng dầu biến động lớn.
Mặt khác nguồn dầu mỏ trên thế giới ngày càng cạn kiệt, tài nguyên không tái sinh,
hàng hoá thay thế xăng dầu hạn chế trong khi đó nhu cầu sử dụng ngày càng lớn
khiến cho giá xăng dầu nhập khẩu có chiều hướng gia tăng. Tình hình trên khiến cho
thị trường xăng dầu trong nước ảnh hưởng khá nặng nề, có thời gian (2001, 2003)
giá nhập cao hơn giá bán Nhà nước phải áp dụng giải pháp bù lỗ, nhiều đối tượng
lợi dụng đầu cơ có tính chất trục lợi càng làm cho thị trường xăng dầu thêm mất ổn
định. Đơn cử tháng 5 năm 2004 giá dầu thô trên thế giới khoảng 41 $ / thùng, mức
giá cao nhất từ hơn 30 năm trở lại đây, chênh lệch giá dầu thô với xăng dầu cũng ở
mức cao nhất. Giá nhập 01 lít xăng dầu lỗ 600 đồng, quí I toàn Tổng công ty lỗ 550
tỷ đồng nhưng Nhà nước mới bù lỗ 50%.
2. Cơ chế quản lý vĩ mô của chính phủ về kinh doanh xăng dầu
Xăng dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, có vị trí khá quan trọng cho
việc phát triển nền kinh tế quốc dân và tiêu dùng xã hội. Để đảm bảo an ninh xăng
dầu, Chính phủ ban hành nghị định 44/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2001 bổ
xung một số điều của nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1998,
quyết định số 187/2003/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2003 và bản qui chế kèm
theo để quản lý kinh doanh xăng dầu. Bằng các nghị định, quyết định trên chính phủ
chủ trương xây dựng hệ thống cung ứng xăng dầu phát triển ổn định, từng bước phù
hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, bảo đảm an toàn năng lượng
quốc gia, bảo đảm cân đối xăng dầu cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và tiêu
dùng xã hội. Để giải quyết tốt vấn đề đó Thủ tướng Chính phủ áp dụng các biện
pháp kinh tế - hành chính để can thiệp vào thị trường xăng dầu đặc biệt là áp dụng
chính sách giá định hướng theo sự chỉ đạo của Nhà nước và cơ chế giá giao cùng
Trang 17
với chính sách trợ giá dầu hoả, trợ cước vận tải đối với từng địa bàn xa trung tâm
đầu mối gaio hàng, nhằm bình ổn thị trường và phục vụ chính trị, đáp ứng nhu cầu
sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo cho doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu

lớn xăng dầu để cung ứng hàng cho các huyện vùng cao. Công ty tự vận chuyển
bằng phương tiện của Công ty từ kho Công ty đến các cửa hàng các huyện vùng cao.
Do cầu đường nhỏ hẹp, chất lượng đường xuống cấp đi lại rất khó khăn, xe có trọng
tải lớn không đi được, Công ty phải tiếp nhận sử dụng những xe có tải trọng khoảng
10 m
3
đến 15 m
3
nên việc cung ứng vận chuyển xăng dầu gặp rất nhiều khó khăn .
Sự vận động của hàng hoá qua nhiều công đoạn, quãng đường dài nên đã ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của Công ty như tăng chi phí đầu tư thiết bị ,
phương tiện vận tải, tăng lao động, phát sinh nhiều chi phí như : Vận tải, chi phí bảo
quản, chi phí hao hụt. Mặc dù Nhà nước thực hiện chính sách trợ cước vận tải đối
với các công ty xa trung tâm nguồn hàng .
5. Đặc điểm thị trường xăng dầu ở Hà Giang
Thị trường xăng dầu Hà Giang là một Tỉnh miền núi phía bắc, Địa bàn rộng
lớn song dân số thưa thớt, phân tán không tập trung, phần lớn đời sống dân cư còn
thấp, thu nhập bình quân 150USD/người/năm, đường giao thông đi lại khó khăn.
Nền kinh tế của tỉnh gần đây có sự phát triển khá mạnh, tăng trưởng bình quân
10,6% . Những năm gần đây tỉnh Hà Giang trú trọng việc xây dựng và nâng cấp sửa
chữa đường xá, cầu cống, giao thông nông thôn, mặt khác ngành sản xuất và công
nghiệp chậm phát triển do đó nhu cầu về xăng dầu chưa cao, mức tiêu thụ hàng năm
tăng trưởng chậm, hơn nữa Công ty đang phải đối mặt với khó khăn là thị trường
đang bị thu hẹp do sự tham gia của các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là mặt hàng
xăng dầu sáng và mặt hàng gas.
* Thứ nhất: Về đối thủ cạnh tranh
Từ 1999 trở về trước công ty với tính chất kinh doanh chuyên ngành và độc
quyền (một mình một chợ). Từ năm 1999 trở lại đây với sự thay đổi của chính sách
Nhà nước và cơ chế kinh doanh, trên thị trường đã xuất hiện các đối thủ mới đó là
công ty thương mại và 04 doanh nghiệp tư nhân, thị phần của công ty xăng dầu bị

Đi liền với sự gia tăng về số lượng, công suất, hiệu quả hoạt động của các
phương tiện cũng được gia tăng, do đó nhu cầu sử dụng xăng dầu của khách hàng
ngày càng gia tăng đáng kể.
BIỂU 02: PHƯƠNG TIỆN SỬ DỤNG XĂNG DẦU CHỦ YẾU Ở HÀ
GIANG
LOẠI PHƯƠNG
TIỆN
ĐƠN VỊ ĐẾN
31/12/00
ĐẾN
31/12/01
ĐẾN
31/12/02
ĐẾN
31/12/03
Ô tô các loại chiếc 1.372 1.804 1.974 2.358
Xe mô tô chiếc 12.527 17.923 27.637 31.356
Máy ủi, máy xúc chiếc 22 35 49 62
(Số liệu tại Công an tỉnh và Sở Giao thông).
Trải qua gần 40 năm kinh doanh trên thị trường Công ty xăng dầu Hà Giang
phục vụ hết mọi tầng lớp người dân từ các cơ quan Nhà nước, các tập thể lao động,
các tổ chức sản xuất kinh doanh. Mặc dù trong cơ chế thị trường có nhiều thay đổi,
song với bề dầy kinh nghiệm sẵn có và thái độ phục vụ khách hàng chu đáo, đến nay
Công ty Xăng dầu Hà Giang vẫn giữ vững bạn hàng, ngoài ra cò mở rộng đến các
Trang 21
huyện vùng xa. Mục tiêu của Công ty là cải tạo và mở rộng mạng lưới cửa hàng bán
lẻ, mở rộng thị phần thông qua các đại lý bán buôn nhằm thu hút khách hàng tiềm
năng.
6. Đặc điểm của cơ sở vật chất, kỹ thuật
Từ năm 1997 trở về trước các cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty còn thấp

SỐ
TSCĐ HỮU HÌNH
NHÀ
CỬA
VẬT K
TRÚC
MÁY
MÓC
THIẾT
BỊ
PT VẬN
TẢI
DỤNG
CỤ
QUẢN

TSC
Đ

HÌN
H
TSCĐ
THUÊ
TC
TỔNG
CỘNG
1 2 3 4 5 6 7 8 9
I. Nguyên giá
TSCĐ
321

7. Đặc điểm lao động
BIỂU 04: CƠ CẤU LAO ĐỘNG CHÍNH THỨC TOÀN CÔNG TY
CƠ CẤU CHỈ TIÊU THỰC HIỆN
NĂM 2000
THỰC HIỆN
NĂM 2001
THỰC HIỆN
NĂM 2002
THỰC HIỆN
NĂM 2003
SỐ
NGƯỜI
TỶ
TRỌN
G
SỐ
NGƯỜI
TỶ
TRỌNG
SỐ
NGƯỜI
TỶ
TRỌNG
SỐ
NGƯỜI
TỶ
TRỌNG
Tổng số lao động 70 100 72 100 77 100 79 100
Sản xuất Lao động gián tiếp
Lao động trực tiếp

49
7
3
13
68
10
7
11
54
5
9
14
70
6
11
12
52
4
13,9
15,2
65,8
5,1
Độ tuổi <30 tuổi
30 ->40 tuổi
>40 tuổi
31
20
19
44
28

cao và tăng dần qua các năm, đội ngũ lao động có trình độ sơ cấp và công nhân kỹ
thuật vẫn chiếm tỷ trọng lớn.
Việc tuyển dụng và bố trí lao động có trình độ đại học và cao đẳng tại các cửa
hàng còn hạn chế, đa phần cửa hàng trưởng chưa có trình độ đại học, công tác điều
hành và quản lý còn yếu, mặt khác công nhân lao động là người trực tiếp bán hàng
chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác nghiệp vụ bán hàng và kỹ năng, nghệ
thuật giao tiếp, do vậy đã ảnh hưởng không ít tới quá trình quản trị, quá trình tiêu
thụ cũng như việc tìm kiếm và thu hút khách hàng tiềm năng.
Trang 25

Trích đoạn Công tác thực hiện các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Chính sách tiêu thụ Tổ chức lực lượng tiêu thụ xăng dầu Phân tích kết quả kinh doanh chung của Công ty Phân tích kết quả tiêu thụ theo cơ cấu mặt hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status