Hoa phù dung làm thuốc!
Phù dung là loại cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh, tên khoa
học là Hibiscus mutabilis L., trong dân gian còn được gọi là mộc liên, địa phù
dung, tâm biến hoa, thât tinh hoa, sương giáng hoa, túy tửu phù dùng, đại diệp phù
dung
Cây phù dùng nhỏ, cao chừng 2-5m, cành có long hình sao ngắn, vỏ thân có nhiều
xơ sợi, lá mọc cách, xẻ 3-5 thùy, hình bàn tay, rộng 10-20cm, mặt trên có lông,
mép khía răng cưa. Hoa to và đẹp, mọc đơn độc hoặc tụ nhiều hoa, khi mới nở vào
buổi sáng có màu trắng, chiều ngả màu hồng đỏ. Qảu hình cầu năm cạnh, đường
kính từ 2-5cm, có lông màu vàng nhạt.
Ngoài công dụng làm cảnh, vỏ thân phù dung trắng mềm có thể dùng để bện thừng,
dệt vải hoặc làm giấy; lá và hoa tươi hoặc khô được dùng để làm thuốc. Theo
nghiên cứu hiện đại, hoa phù dung có chứa Anthocyanin, Isoquercitrin, Hyperin,
Hyperoside, Rutin, Quercitin-4’-glucoside, Spiraeoside, Quercimeritrin Điều đặc
biệt là ham lượng một số chất thay đổi cùng sự biến màu của cánh hoa theo thời
gian trong này: sáng sớm khi hoa mầu tráng thì không chứ Anthocyanin; buổi trưa
và xế chiều khi hoa chuyển sang màu hồng nhạt rồi hồng đỏ thì lại xuất hiện
Anthocyanin và một số dẫn chất của nó như Cyanidin 3,5-diglucoside, Cyanidin 3-
Thống kinh: đế hoa phù dung 7 cái, sắc kỹ lấy nước, hòa thêm một chút đường
phèn rồi uống.
Khí hư (bạch đới): Hoa phù dung 10 đóa sắc uống.
Viêm âm đạo: Hoa hoặc lá phù dung 1000g, sắc kỹ lấy 1000ml, bỏ bã, để nguội,
cho thêm benzoic acid 0.3% để bảo quản rồi đựng trong bình kín dùng dần. Khi
dùng, trước tiên rửa tại chỗ bằng dung dịch thuốc tím 1%, sau đó dùng dịch chiết
hoa phù dung ngâm rửa kỹ mỗi ngày một lần.
Viêm tuyến vú: dùng hoa, lá hoặc rễ phù dung sắc uống hoặc giã nát đắp vào vùng
tổn thương.
Trẻ em hay đầy bụng do giun: Hoa phù dung hái lúc còn màu tráng, phơi khô
trong bóng râm rồi thái nhỏ nấu canh với gan gà cho ăn hàng ngày.
Viêm khớp: Hoa phù dung 15g, xích đậu 15g, hai thứ nghiền nhỏ, trộng với mật
ong rồi đắp lên khớp đau. Cũng có thê thay thế bằng bột lá phù dung khô.
Tổn thương do trật đả: dùng hoa và lá phù dung tươi giã nát đắp vào nơi tổn
thương hoặc dùng bột hoa phù dung khô trộn với dấm, rượu và nước trà thành
dạngcao rồi đắp lên chỗ đau.
Loét giác mạc: hoa hoặc lá phù dung tươi rửa sạch, giã nát và trộn với một chút
muối rồi đắp lên mắt bị bệnh. Kinh nghiệm này có lẽ không nên áp dụng vì lý do
vệ sinh, tuy nhiên vẫn nêu ra để gợi ý cho việc nghiên cứu điều trị một số bệnh lý
nhãn khoa bằng hoa phù dung dưới dạng các chế phẩm khác đảm bảo an toàn và
khoa học hơn.
Viêm kết mạc: hoa phù dung 9-30g, sắc uống. Hoa phù dung tươi 3g, Bạc hà tươi
cảm giác đau đã giảm rõ rệt, sau 3-7 lần tổn thương sạch mủ và dần hồi phụ. Kết
quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm đã chứng minh: dịch chiết 10% hoa phù dung
có tác dụng ức chế khá mạnh đối với tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn tan huyết và trực
khuẩn mủ xanh; với trực khuẩn thương hàn và coli cũng có tác dụng ức chế ở một
mức độ nhất định.